Là xã vùng cao có địa hình chia cắt, dân cư sống phân tán, Nậm Có gặp nhiều thách thức trong giao thông và phát triển kinh tế. Do phương thức trồng trọt, chăn nuôi của nhiều hộ gia đình trước đây chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, năng suất lao động chưa cao và nguồn thu nhập bấp bênh, việc tích lũy hay mở rộng sản xuất còn nhiều hạn chế.
![]() |
| Một góc xã vùng cao Nậm Có, tỉnh Lào Cai. |
Trong bối cảnh đó, giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò chìa khóa then chốt. Việc đào tạo nghề không chỉ trang bị kiến thức, kỹ năng bài bản để người dân tối ưu hóa sản xuất, chuyển đổi sinh kế hoặc tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp, mà còn góp phần quan trọng thay đổi tư duy, cách nghĩ, cách làm, giúp người lao động chủ động vươn lên làm chủ kinh tế gia đình.
Hiện nay, toàn xã Nậm Có có 10.217 nhân khẩu. Số lao động qua đào tạo đạt 1.492 người (chiếm 35%), trong đó có 635 người sở hữu văn bằng, chứng chỉ (chiếm 14,9%). Tính riêng năm 2026, số người được đào tạo ở các trình độ: 5 người đào tạo trình độ đại học, 2 người cao đẳng, 23 người trung cấp và 140 người theo học trình độ khóa ngắn hạn dưới 3 tháng.
Những con số này cho thấy đào tạo nghề ngắn hạn là giải pháp thiết thực, linh hoạt và hiệu quả để kịp thời bổ sung kỹ năng cho lực lượng lao động địa phương. Với người dân vùng cao những kiến thức trực quan về kỹ thuật gieo trồng, chăn nuôi, chăm sóc và phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm giúp bà con áp dụng ngay vào mô hình sản xuất hằng ngày. Đồng thời, đối với những người có nhu cầu làm việc tại doanh nghiệp hoặc chuyển đổi ngành nghề, các khóa đào tạo bài bản chính là điểm tựa nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường lao động và mở rộng lựa chọn việc làm.
Học nghề phải gắn liền với thực tiễn
Thực tế tại xã Nậm Có cho thấy, hiệu quả của chương trình đào tạo nghề bắt đầu từ chính những chuyển biến tích cực tại từng hộ gia đình. Trước đây, gia đình anh Thào A Lu chỉ chăn nuôi 1 con bò và thu hoạch khoảng 5 tạ thóc/vụ. Sau khi tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật nông nghiệp, vợ chồng anh đã chủ động áp dụng quy trình mới vào trồng trọt, xây dựng chuồng trại khoa học. Đến nay, quy mô sản xuất của gia đình đã tăng lên 2 con bò, 11 con lợn, hàng chục con gia cầm và năng lượng thóc đạt khoảng 1 tấn/vụ.
![]() |
| Vợ chồng anh Thào A Lu. |
Từ việc trau dồi kiến thức đến cải tiến phương thức sản xuất, gia đình anh Lu đã mở rộng sinh kế và nâng cao đáng kể thu nhập. Điển hình này chứng minh rằng: Khi chương trình đào tạo bám sát thực tiễn và người dân dễ áp dụng vào thực tế, kiến thức nghề nghiệp sẽ trở thành nguồn lực phát triển kinh tế hộ gia đình mạnh mẽ nhất.
Tuy nhiên, công tác giáo dục nghề nghiệp tại địa phương vẫn đối mặt với không ít rào cản. Nhận thức của một số bộ phận lao động về vai trò của học nghề còn hạn chế. Do sinh hoạt phụ thuộc vào mùa vụ nông nghiệp, địa bàn rộng, giao thông đi lại khó khăn và điều kiện kinh tế còn nghèo, việc huy động học viên tham gia đầy đủ các khóa học gặp nhiều vướng mắc.
Bên cạnh đó, danh mục ngành nghề đào tạo chưa thực sự phong phú; khâu kết nối giữa đào tạo với nhu cầu tuyển dụng và giải quyết việc làm sau học nghề chưa đồng bộ. Nguồn kinh phí tổ chức còn eo hẹp, trong khi công tác tư vấn, hướng nghiệp cần đẩy mạnh hơn nữa. Thực trạng này đòi hỏi địa phương phải chủ động hơn trong việc khảo sát nhu cầu, lựa chọn ngành nghề và đổi mới phương thức đào tạo nhằm đảm bảo “học đi đôi với hành”, tránh tình trạng người lao động học xong nhưng khó áp dụng kiến thức hoặc chưa tìm được việc làm phù hợp.
![]() |
| Một buổi đào tạo nghề và giáo dục nghề nghiệp cho lao động xã Nậm Có. |
Đẩy mạnh giải pháp đồng bộ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Để giải quyết triệt để các hạn chế, xã Nậm Có chủ trương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề và phổ biến rộng rãi các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Qua đó, nâng cao nhận thức giúp người dân thấy rõ lợi ích thiết thực của học nghề để chủ động lựa chọn hướng đi phù hợp với năng lực gia đình và định hướng phát triển địa phương. Đồng thời, xã tiến hành rà soát sát thực tế nhu cầu học nghề nhằm lựa chọn đúng các ngành nghề đáp ứng tiềm năng kinh tế địa phương.
Trong khâu tổ chức, xã tăng cường phối hợp với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp xây dựng chương trình giảng dạy thực chất, gia tăng thời lượng thực hành và bám sát nhu cầu của thị trường lao động:
Đối với lao động nông nghiệp: Tập trung trang bị kỹ năng ứng dụng trực tiếp vào gieo trồng, chăn nuôi và đa dạng hóa mô hình sinh kế.
Đối với lao động chuyển đổi nghề nghiệp: Đẩy mạnh tư vấn, cung cấp thông tin thị trường lao động và chủ động kết nối với các doanh nghiệp, đơn vị tuyển dụng.
Xã cũng tích cực lồng ghép hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách hỗ trợ học nghề và giảm nghèo bền vững để tối ưu hóa nguồn lực. UBND xã phối hợp chặt chẽ với hệ thống chính trị tại các thôn và các tổ chức đoàn thể trong công tác vận động, đồng thời thành lập cơ chế theo dõi, đánh giá sau đào tạo để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho người lao động.
Đáng chú ý, thước đo hiệu quả đào tạo được xã xác định dựa trên năng lực vận dụng thực tế, năng suất sản xuất, tỷ lệ có việc làm và mức độ gia tăng thu nhập của người học. Đây là căn cứ quan trọng để xã liên tục điều chỉnh, hoàn thiện chương trình đào tạo sát thực tiễn trong giai đoạn tiếp theo.
Với tinh thần chủ động và giải pháp đồng bộ, Nậm Có đang quyết tâm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề vững chắc giúp người lao động làm chủ kỹ thuật, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống và hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững tại địa phương.