Thứ bảy 27/06/2026 23:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản - Vấn đề pháp lý đặt ra đối với việc bảo quản vật chứng

Tóm tắt: Bài viết trao đổi về vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản - vấn đề pháp lý đặt ra đối với việc bảo quản vật chứng và đề xuất hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả thi hành trong thực tiễn.

Tóm tắt: Bài viết trao đổi về vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản - vấn đề pháp lý đặt ra đối với việc bảo quản vật chứng và đề xuất hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả thi hành trong thực tiễn.

Abstract: The article discusses material evidence that cannot be brought to a competent procedure-conducting agency for preservation - legal issues posed for the preservation of material evidence and proposes to complete the law to improve enforcement efficiency in the practice.

1. Quy định về vật chứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017 và 2021)

Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung các năm 2017 và 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) quy định: “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định phân loại thành các nhóm vật chứng, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc bảo quản từng loại vật chứng cụ thể.

Đối với vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “...cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giao vật chứng đó cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản”[1].

Trước hết, cần xác định cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là cơ quan nào? Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được xác định gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cụ thể là: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, các cơ quan của Bộ đội biên phòng, các cơ quan của Hải quan, các cơ quan của Kiểm lâm, các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan của Kiểm ngư, các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Trở lại quy định tại điểm c khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chủ thể giao vật chứng là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như đã xác định ở trên và chủ thể nhận bảo quản vật chứng là chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng, là những cơ quan, tổ chức, cá nhân có điều kiện thích hợp để bảo quản vật chứng trong việc giao, nhận vật chứng để bảo quản trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào. Tương tự như vậy, điểm b khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng xác định cơ quan có trách nhiệm bảo quản là Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan chuyên trách khác có trách nhiệm bảo quản vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất phóng xạ, vũ khí quân dụng. Như vậy, đối với loại vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản và một số loại vật chứng đặc thù nêu trên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự (THADS) trong việc bảo quản vật chứng.

Phân biệt với vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản và một số loại vật chứng đặc thù khác, điểm đ khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; cơ quan THADS có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi hành án”. Như vậy, đối với vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tố tụng bảo quản thì cơ quan THADS có trách nhiệm trong việc bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi hành án; trước đó, trong giai đoạn điều tra, truy tố, một số cơ quan điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng theo quy định.

Cùng với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn Luật, cùng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan cũng có các quy định về phân loại vật chứng và trách nhiệm bảo quản vật chứng của các cơ quan, tổ chức có liên quan. Qua rà soát các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan cho thấy, có sự chưa thống nhất giữa các văn bản này cũng như việc áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản.

Thứ nhất, về tên gọi vật chứng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản (khoản 1 Điều 90). Trong khi đó, Luật Thi hành án dân sự quy định là vật chứng không thể vận chuyển, di dời để bảo quản tại kho của cơ quan THADS (khoản 2 Điều 122); Quy chế quản lý kho vật chứng[2] quy định vật (vật chứng) không thể di chuyển về kho vật chứng (khoản 1 Điều 8); Quyết định số 1478/QĐ-TCTHADS ngày 27/12/2019 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự về việc ban hành Quy trình tiếp nhận, quản lý và xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự lại xác định “vật chứng không thể vận chuyển, di chuyển về kho vật chứng”[3]. Mặc dù tên gọi vật chứng được quy định tại các văn bản là khác nhau nhưng có lẽ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khi thực hiện pháp luật cơ bản đều hiểu thống nhất là cùng một loại vật chứng.

Thứ hai, về phân loại vật chứng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 phân loại rõ ràng, cụ thể giữa vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản, vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản và một số loại vật chứng có tính đặc thù khác. Mặc dù, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác cơ bản căn cứ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để phân loại vật chứng nhưng cách phân loại vật chứng theo tại các văn bản này chưa rõ ràng như quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và chưa hoàn toàn thống nhất với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Cụ thể là, Luật Thi hành án dân sự chỉ có quy định về vật chứng không thể vận chuyển, di dời về bảo quản tại kho của cơ quan THADS và vật chứng “có thể” tiếp nhận, bảo quản tại kho của cơ quan THADS (Điều 122). Bên cạnh đó, Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS (Thông tư số 01/2017/TT-BTP) quy định vật chứng được phân loại thành vật chứng chủ yếu vẫn được bảo quản tại kho vật chứng của cơ quan THADS, vật chứng không thể bố trí bảo quản tại cơ quan THADS và nhóm các loại vật chứng đặc thù khác, chẳng hạn như vật chứng là tiền, giấy tờ có giá, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, động vật, thực vật và các vật chứng khác liên quan đến lĩnh vực y tế cần có điều kiện bảo quản đặc biệt. Trong khi đó, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP) thì phân chia vật chứng làm hai loại là vật chứng đi kèm theo hồ sơ vụ án và vật chứng không đi kèm theo hồ sơ vụ án (khoản 2 Điều 36).

Thứ ba, về trách nhiệm bảo quản vật chứng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định, đối với vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng có trách nhiệm tiếp nhận, bảo quản vật chứng. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (không bao gồm cơ quan THADS như pháp luật đã xác định) có trách nhiệm giao vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản cho cơ quan, tổ chức có điều kiện thích hợp đã được xác định tại Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để bảo quản. Bên cạnh đó, Quy chế quản lý kho vật chứng[4] cũng loại trừ vật (vật chứng) không thể di chuyển về kho vật chứng ra khỏi quy định vật chứng phải lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng như đối với các loại vật chứng thông thường khác; trường hợp vật chứng không thể di chuyển về kho vật chứng khi đã được giao cho cơ quan, tổ chức hoặc người có trách nhiệm bảo quản thì thực hiện theo quy định của pháp luật.

Trái lại, Luật Thi hành án dân sự cũng như các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự thì quy định cơ quan THADS có trách nhiệm tiếp nhận, bảo quản tất cả các loại vật chứng, cụ thể, cơ quan THADS sẽ tiếp nhận vật chứng tại kho vật chứng của cơ quan THADS (đối với vật chứng phải được bảo quản tại kho vật chứng của cơ quan THADS) hoặc tại nơi gửi, giữ hoặc nơi có tài sản (đối với vật chứng không thể vận chuyển, di dời về kho vật chứng của cơ quan THADS để bảo quản). Thủ trưởng cơ quan THADS hoặc người được thủ trưởng cơ quan THADS ủy quyền, kế toán nghiệp vụ, thủ kho vật chứng tổ chức tiếp nhận, bảo quản vật chứng (kể cả vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản).

Tương tự như vậy, Thông tư số 01/2017/TT-BTP quy định đối với vật chứng, tài sản tạm giữ không thể di chuyển về kho vật chứng, đã được giao cho cơ quan, tổ chức hoặc người có trách nhiệm bảo quản theo quy định của pháp luật thì thủ trưởng cơ quan THADS ký hợp đồng thuê trông giữ, bảo quản theo quy định của pháp luật.

Cũng liên quan đến trách nhiệm bảo quản vật chứng, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định, đối với vật chứng không đi kèm hồ sơ vụ án thì khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát ra quyết định chuyển vật chứng đến cơ quan THADS cùng cấp nơi Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án, cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện thủ tục bàn giao vật chứng cho cơ quan THADS theo quyết định chuyển giao vật chứng của Viện kiểm sát. Quy định này hướng dẫn quy định có liên quan của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhưng lại chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 khi “gián tiếp” quy định trách nhiệm của cơ quan THADS tiếp nhận vật chứng để bảo quản khi Viện kiểm sát ra quyết định chuyển giao vật chứng, bao gồm cả vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản.

Những quy định nêu trên chưa thực sự bảo đảm tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật và trong quá trình thực hiện pháp luật vô hình trung đã “buộc” những người được giao khi được nhiệm vụ quản lý kho vật chứng (thủ trưởng cơ quan THADS hoặc người được thủ trưởng cơ quan THADS ủy quyền, kế toán nghiệp vụ, thủ kho vật chứng), thực hiện nhiệm vụ bảo quản vật chứng được lưu giữ trong kho vật chứng nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về sự an toàn của cả những vật chứng không được bảo quản tại kho vật chứng. Trong trường hợp vật chứng bị mất mát, hư hỏng, bị sử dụng trái phép, bị chuyển nhượng, đánh tráo… thì rủi ro pháp lý sẽ thuộc về cơ quan THADS và các cán bộ có liên quan của cơ quan THADS (thủ trưởng cơ quan THADS hoặc người được thủ trưởng cơ quan THADS, kế toán nghiệp vụ, thủ kho vật chứng). Theo quy định tại khoản 2 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, những người này có thể bị xem xét xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo quản vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản

Sự chưa thống nhất giữa các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật như đã nêu ở trên không chỉ dẫn đến sự lúng túng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện các quy định pháp luật liên quan đến vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản mà còn dẫn đến bất cập trong thực tiễn hiện nay khi cơ quan THADS không phải là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên không có thẩm quyền giao vật chứng cho cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo quản theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không có điều kiện bảo quản vật chứng do tính đặc thù của vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản và quan trọng nhất là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định trách nhiệm của cơ quan THADS trong việc bảo quản vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản.

Để bảo đảm sự thống nhất của các quy định pháp luật về tiếp nhận, bảo quản vật chứng không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng để bảo quản cũng như khắc phục bất cập từ thực tiễn trong việc tiếp nhận, bảo quản vật chứng thì cần thiết phải tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến việc tiếp nhận, bảo quản vật chứng không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng để bảo quản. Việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật này cần dựa nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất giữa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, tính hợp pháp, tính hợp lý, tính khả thi của các quy định được sửa đổi, bổ sung. Cụ thể:

Thứ nhất, cần bảo đảm sự thống nhất về tên loại vật chứng và cách phân loại vật chứng trong các văn bản quy phạm pháp luật, theo đó, cần tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Thi hành án dân sự, các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự theo hướng bám sát quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về phân loại vật chứng và tên loại vật chứng; trường hợp cần thiết, trong các văn bản này cần có điều khoản giải thích thuật ngữ về cách sử dụng tên gọi vật chứng trong các văn bản quy phạm pháp luật, có liên hệ với vật chứng không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng để bảo quản quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ hai, cần có sự phối hợp, trao đổi, thống nhất giữa các cơ quan có liên quan (như Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan khác) trong việc đề xuất cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giao vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản; trách nhiệm các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc tiếp nhận, bảo quản vật chứng không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng để bảo quản; cơ chế bảo đảm để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức hữu quan có điều kiện để thực hiện trách nhiệm giao, tiếp nhận vật chứng để bảo quản theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, không quy định trách nhiệm của cơ quan THADS, thủ trưởng cơ quan THADS hoặc người được thủ trưởng cơ quan THADS ủy quyền, kế toán, thủ kho trong việc bảo quản vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản cho phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về vật chứng nói chung và quy định về vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản nói riêng không chỉ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan/người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan THADS, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao bảo quản vật chứng mà còn bảo đảm việc bảo quản vật chứng được thực hiện đúng pháp luật, an toàn, hiệu quả.

TS. Lại Thế Anh
Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình



[1]. Xem điểm c khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2]. Ban hành kèm theo Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18/02/2022 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý kho vật chứng (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 70/2013/NĐ-CP ngày 02/7/2013 của Chính phủ).

[3]. Xem các điều 10, 16, 17, 19 và 20 của Quy trình tiếp nhận, quản lý và xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự ban hành kèm theo Quyết định số 1478/QĐ-TCTHADS ngày 27/12/2019 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự.

[4]. Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18/02/2022 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý kho vật chứng (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 70/2013/NĐ-CP ngày 02/7/2013 của Chính phủ).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Xử lý hành vi giả mạo giọng nói, hình ảnh bằng trí tuệ nhân tạo - Khoảng trống pháp luật và kiến nghị hoàn thiện

Xử lý hành vi giả mạo giọng nói, hình ảnh bằng trí tuệ nhân tạo - Khoảng trống pháp luật và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quá trình chuyển đổi số và phát triển mạnh mẽ của các giao dịch tài chính số tại Việt Nam đang diễn ra nhanh chóng, đồng thời, cũng làm gia tăng các hành vi lừa đảo công nghệ cao, đặc biệt, các thủ đoạn lợi dụng trí tuệ nhân tạo (AI), trong đó, nổi bật là công nghệ Deepfake. Công nghệ này cho phép giả mạo giọng nói, hình ảnh với độ chân thực cao, đe dọa trực tiếp cơ chế xác thực sinh trắc học và an toàn ngân hàng số. Nghiên cứu tập trung phân tích: (i) sự thiếu thống nhất trong định tội danh giữa Điều 174 và Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025; (ii) thách thức đối với giá trị chứng minh của chứng cứ điện tử và sự thiếu quy chuẩn giám định AI chuyên biệt; (iii) khoảng trống trong cơ chế bảo vệ dữ liệu sinh trắc học, chế tài đối với hành vi thương mại hóa dữ liệu và cơ chế phong tỏa tài khoản trong giao dịch nghi ngờ gian lận. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng: làm rõ ranh giới định tội danh; xây dựng quy chuẩn giám định AI; hình sự hóa hành vi chiếm đoạt dữ liệu sinh trắc học; tăng cường cơ chế phong tỏa tài khoản có điều kiện… Các giải pháp này nhằm nâng cao năng lực ứng phó của hệ thống pháp lý trước tội phạm Deepfake trong kỷ nguyên số.
Quy định về ngưỡng doanh thu miễn thuế đối với hộ kinh doanh trong pháp luật Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về ngưỡng doanh thu miễn thuế đối với hộ kinh doanh trong pháp luật Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, việc thiết kế ngưỡng doanh thu miễn thuế hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả quản lý và công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế. Nghiên cứu phân tích cơ chế ngưỡng thuế mềm dưới góc độ kinh tế học pháp luật, tập trung nhận diện các rủi ro hành vi phát sinh và đánh giá tính hợp lý của quy định hiện hành tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích lợi ích chi phí, kết hợp so sánh kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra ngưỡng mềm có thể làm giảm hiện tượng né ngưỡng tại một điểm doanh thu nhất định, nhưng chưa loại bỏ hoàn toàn động cơ tránh né nghĩa vụ thuế, từ đó, đề xuất hoàn thiện chính sách theo hướng thiết kế biểu thuế phù hợp, xây dựng cơ chế chuyển tiếp rõ ràng và tăng cường các biện pháp kiểm soát tuân thủ nhằm bảo đảm hiệu quả và công bằng của chính sách thuế.
Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Tóm tắt: Trong bối cảnh Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) chính thức có hiệu lực, việc bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong áp dụng các biện pháp giáo dục mang tính hướng thiện là yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích, làm rõ các quy định của Luật về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nhằm đánh giá sự tương thích giữa quy định hiện hành và các chuẩn mực tư pháp quốc tế; chỉ ra những điểm chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật và các rủi ro tiềm ẩn đối với việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật, tăng tính khả thi và nâng cao hiệu quả giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên về vấn đề này.
Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Tóm tắt: Chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn là chế định pháp luật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do kinh doanh và sự ổn định nội bộ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư ngày càng được chú trọng, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển nhượng vốn là rất cần thiết. Nghiên cứu phân tích, làm rõ các nguyên tắc, điều kiện chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật hiện hành; về tính phù hợp giữa quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng; chỉ ra một số hạn chế, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường tính linh hoạt, minh bạch, rõ ràng của cơ chế chuyển nhượng vốn và mở rộng quyền tự thỏa thuận trong điều lệ công ty.
Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Tóm tắt: Luật Việc làm năm 2025 ghi nhận nhiều sửa đổi quan trọng đối với bảo hiểm thất nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động đang biến đổi mạnh mẽ và gia tăng tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Nghiên cứu phân tích một số điểm mới nổi bật và các vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn của Luật Việc làm năm 2025 liên quan đến đối tượng tham gia, chế độ thụ hưởng, điều kiện, mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Tóm tắt: Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã ghi nhận hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo cùng với một số hoạt động xã hội khác như y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo. Đây là nội dung quan trọng, vì không chỉ liên quan đến bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn gắn với khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tiễn giáo dục đại học, quy định pháp luật hiện hành còn một số điểm cần làm rõ, nhất là phạm vi của hoạt động giáo dục, ranh giới giữa hoạt động giáo dục với đào tạo tôn giáo và mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành giáo dục. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với Luật Giáo dục đại học năm 2025, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong không gian giáo dục đại học, đồng thời, nhận diện những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện nội dung này theo hướng rõ hơn và dễ áp dụng hơn.
Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý giáo dục còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đội ngũ giáo viên cũng như nguy cơ phát sinh tiêu cực, cho thấy trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Bài viết phân tích nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh công tác xây dựng pháp luật được xác định là khâu đột phá nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện còn một số hạn chế như mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, thiếu ổn định và chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực phát triển. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các biểu hiện hạn chế và nguyên nhân chủ yếu từ góc độ thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực xây dựng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao chất lượng thể chế trong kỷ nguyên mới.
Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Vợ, chồng bình đẳng đối với tài sản chung là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù quan hệ hôn nhân, việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung là vấn đề ngày càng đa dạng, phức tạp. Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên, bài viết phân tích, làm rõ nội hàm về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung, từ đó, chỉ ra những điểm còn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện, hướng tới phát huy bền vững chức năng kinh tế của gia đình trong bối cảnh hội nhập.

Theo dõi chúng tôi trên: