Thứ tư 15/04/2026 17:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản - Vấn đề pháp lý đặt ra đối với việc bảo quản vật chứng

Tóm tắt: Bài viết trao đổi về vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản - vấn đề pháp lý đặt ra đối với việc bảo quản vật chứng và đề xuất hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả thi hành trong thực tiễn.

Tóm tắt: Bài viết trao đổi về vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản - vấn đề pháp lý đặt ra đối với việc bảo quản vật chứng và đề xuất hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả thi hành trong thực tiễn.

Abstract: The article discusses material evidence that cannot be brought to a competent procedure-conducting agency for preservation - legal issues posed for the preservation of material evidence and proposes to complete the law to improve enforcement efficiency in the practice.

1. Quy định về vật chứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017 và 2021)

Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung các năm 2017 và 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) quy định: “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định phân loại thành các nhóm vật chứng, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc bảo quản từng loại vật chứng cụ thể.

Đối với vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “...cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giao vật chứng đó cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản”[1].

Trước hết, cần xác định cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là cơ quan nào? Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được xác định gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cụ thể là: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, các cơ quan của Bộ đội biên phòng, các cơ quan của Hải quan, các cơ quan của Kiểm lâm, các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan của Kiểm ngư, các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Trở lại quy định tại điểm c khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chủ thể giao vật chứng là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như đã xác định ở trên và chủ thể nhận bảo quản vật chứng là chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng, là những cơ quan, tổ chức, cá nhân có điều kiện thích hợp để bảo quản vật chứng trong việc giao, nhận vật chứng để bảo quản trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào. Tương tự như vậy, điểm b khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng xác định cơ quan có trách nhiệm bảo quản là Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan chuyên trách khác có trách nhiệm bảo quản vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất phóng xạ, vũ khí quân dụng. Như vậy, đối với loại vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản và một số loại vật chứng đặc thù nêu trên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự (THADS) trong việc bảo quản vật chứng.

Phân biệt với vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản và một số loại vật chứng đặc thù khác, điểm đ khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; cơ quan THADS có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi hành án”. Như vậy, đối với vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tố tụng bảo quản thì cơ quan THADS có trách nhiệm trong việc bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi hành án; trước đó, trong giai đoạn điều tra, truy tố, một số cơ quan điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng theo quy định.

Cùng với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn Luật, cùng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan cũng có các quy định về phân loại vật chứng và trách nhiệm bảo quản vật chứng của các cơ quan, tổ chức có liên quan. Qua rà soát các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan cho thấy, có sự chưa thống nhất giữa các văn bản này cũng như việc áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản.

Thứ nhất, về tên gọi vật chứng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản (khoản 1 Điều 90). Trong khi đó, Luật Thi hành án dân sự quy định là vật chứng không thể vận chuyển, di dời để bảo quản tại kho của cơ quan THADS (khoản 2 Điều 122); Quy chế quản lý kho vật chứng[2] quy định vật (vật chứng) không thể di chuyển về kho vật chứng (khoản 1 Điều 8); Quyết định số 1478/QĐ-TCTHADS ngày 27/12/2019 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự về việc ban hành Quy trình tiếp nhận, quản lý và xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự lại xác định “vật chứng không thể vận chuyển, di chuyển về kho vật chứng”[3]. Mặc dù tên gọi vật chứng được quy định tại các văn bản là khác nhau nhưng có lẽ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khi thực hiện pháp luật cơ bản đều hiểu thống nhất là cùng một loại vật chứng.

Thứ hai, về phân loại vật chứng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 phân loại rõ ràng, cụ thể giữa vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản, vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản và một số loại vật chứng có tính đặc thù khác. Mặc dù, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác cơ bản căn cứ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để phân loại vật chứng nhưng cách phân loại vật chứng theo tại các văn bản này chưa rõ ràng như quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và chưa hoàn toàn thống nhất với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Cụ thể là, Luật Thi hành án dân sự chỉ có quy định về vật chứng không thể vận chuyển, di dời về bảo quản tại kho của cơ quan THADS và vật chứng “có thể” tiếp nhận, bảo quản tại kho của cơ quan THADS (Điều 122). Bên cạnh đó, Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS (Thông tư số 01/2017/TT-BTP) quy định vật chứng được phân loại thành vật chứng chủ yếu vẫn được bảo quản tại kho vật chứng của cơ quan THADS, vật chứng không thể bố trí bảo quản tại cơ quan THADS và nhóm các loại vật chứng đặc thù khác, chẳng hạn như vật chứng là tiền, giấy tờ có giá, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, động vật, thực vật và các vật chứng khác liên quan đến lĩnh vực y tế cần có điều kiện bảo quản đặc biệt. Trong khi đó, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP) thì phân chia vật chứng làm hai loại là vật chứng đi kèm theo hồ sơ vụ án và vật chứng không đi kèm theo hồ sơ vụ án (khoản 2 Điều 36).

Thứ ba, về trách nhiệm bảo quản vật chứng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định, đối với vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng có trách nhiệm tiếp nhận, bảo quản vật chứng. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (không bao gồm cơ quan THADS như pháp luật đã xác định) có trách nhiệm giao vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản cho cơ quan, tổ chức có điều kiện thích hợp đã được xác định tại Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để bảo quản. Bên cạnh đó, Quy chế quản lý kho vật chứng[4] cũng loại trừ vật (vật chứng) không thể di chuyển về kho vật chứng ra khỏi quy định vật chứng phải lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng như đối với các loại vật chứng thông thường khác; trường hợp vật chứng không thể di chuyển về kho vật chứng khi đã được giao cho cơ quan, tổ chức hoặc người có trách nhiệm bảo quản thì thực hiện theo quy định của pháp luật.

Trái lại, Luật Thi hành án dân sự cũng như các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự thì quy định cơ quan THADS có trách nhiệm tiếp nhận, bảo quản tất cả các loại vật chứng, cụ thể, cơ quan THADS sẽ tiếp nhận vật chứng tại kho vật chứng của cơ quan THADS (đối với vật chứng phải được bảo quản tại kho vật chứng của cơ quan THADS) hoặc tại nơi gửi, giữ hoặc nơi có tài sản (đối với vật chứng không thể vận chuyển, di dời về kho vật chứng của cơ quan THADS để bảo quản). Thủ trưởng cơ quan THADS hoặc người được thủ trưởng cơ quan THADS ủy quyền, kế toán nghiệp vụ, thủ kho vật chứng tổ chức tiếp nhận, bảo quản vật chứng (kể cả vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản).

Tương tự như vậy, Thông tư số 01/2017/TT-BTP quy định đối với vật chứng, tài sản tạm giữ không thể di chuyển về kho vật chứng, đã được giao cho cơ quan, tổ chức hoặc người có trách nhiệm bảo quản theo quy định của pháp luật thì thủ trưởng cơ quan THADS ký hợp đồng thuê trông giữ, bảo quản theo quy định của pháp luật.

Cũng liên quan đến trách nhiệm bảo quản vật chứng, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định, đối với vật chứng không đi kèm hồ sơ vụ án thì khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát ra quyết định chuyển vật chứng đến cơ quan THADS cùng cấp nơi Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án, cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện thủ tục bàn giao vật chứng cho cơ quan THADS theo quyết định chuyển giao vật chứng của Viện kiểm sát. Quy định này hướng dẫn quy định có liên quan của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhưng lại chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 khi “gián tiếp” quy định trách nhiệm của cơ quan THADS tiếp nhận vật chứng để bảo quản khi Viện kiểm sát ra quyết định chuyển giao vật chứng, bao gồm cả vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản.

Những quy định nêu trên chưa thực sự bảo đảm tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật và trong quá trình thực hiện pháp luật vô hình trung đã “buộc” những người được giao khi được nhiệm vụ quản lý kho vật chứng (thủ trưởng cơ quan THADS hoặc người được thủ trưởng cơ quan THADS ủy quyền, kế toán nghiệp vụ, thủ kho vật chứng), thực hiện nhiệm vụ bảo quản vật chứng được lưu giữ trong kho vật chứng nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm về sự an toàn của cả những vật chứng không được bảo quản tại kho vật chứng. Trong trường hợp vật chứng bị mất mát, hư hỏng, bị sử dụng trái phép, bị chuyển nhượng, đánh tráo… thì rủi ro pháp lý sẽ thuộc về cơ quan THADS và các cán bộ có liên quan của cơ quan THADS (thủ trưởng cơ quan THADS hoặc người được thủ trưởng cơ quan THADS, kế toán nghiệp vụ, thủ kho vật chứng). Theo quy định tại khoản 2 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, những người này có thể bị xem xét xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo quản vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản

Sự chưa thống nhất giữa các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật như đã nêu ở trên không chỉ dẫn đến sự lúng túng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện các quy định pháp luật liên quan đến vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản mà còn dẫn đến bất cập trong thực tiễn hiện nay khi cơ quan THADS không phải là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên không có thẩm quyền giao vật chứng cho cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo quản theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không có điều kiện bảo quản vật chứng do tính đặc thù của vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản và quan trọng nhất là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định trách nhiệm của cơ quan THADS trong việc bảo quản vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản.

Để bảo đảm sự thống nhất của các quy định pháp luật về tiếp nhận, bảo quản vật chứng không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng để bảo quản cũng như khắc phục bất cập từ thực tiễn trong việc tiếp nhận, bảo quản vật chứng thì cần thiết phải tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến việc tiếp nhận, bảo quản vật chứng không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng để bảo quản. Việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật này cần dựa nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất giữa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, tính hợp pháp, tính hợp lý, tính khả thi của các quy định được sửa đổi, bổ sung. Cụ thể:

Thứ nhất, cần bảo đảm sự thống nhất về tên loại vật chứng và cách phân loại vật chứng trong các văn bản quy phạm pháp luật, theo đó, cần tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Thi hành án dân sự, các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự theo hướng bám sát quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về phân loại vật chứng và tên loại vật chứng; trường hợp cần thiết, trong các văn bản này cần có điều khoản giải thích thuật ngữ về cách sử dụng tên gọi vật chứng trong các văn bản quy phạm pháp luật, có liên hệ với vật chứng không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng để bảo quản quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ hai, cần có sự phối hợp, trao đổi, thống nhất giữa các cơ quan có liên quan (như Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan khác) trong việc đề xuất cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giao vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản; trách nhiệm các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc tiếp nhận, bảo quản vật chứng không thể đưa về cơ quan tiến hành tố tụng để bảo quản; cơ chế bảo đảm để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức hữu quan có điều kiện để thực hiện trách nhiệm giao, tiếp nhận vật chứng để bảo quản theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, không quy định trách nhiệm của cơ quan THADS, thủ trưởng cơ quan THADS hoặc người được thủ trưởng cơ quan THADS ủy quyền, kế toán, thủ kho trong việc bảo quản vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản cho phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về vật chứng nói chung và quy định về vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản nói riêng không chỉ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan/người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan THADS, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao bảo quản vật chứng mà còn bảo đảm việc bảo quản vật chứng được thực hiện đúng pháp luật, an toàn, hiệu quả.

TS. Lại Thế Anh
Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình



[1]. Xem điểm c khoản 1 Điều 90 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2]. Ban hành kèm theo Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18/02/2022 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý kho vật chứng (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 70/2013/NĐ-CP ngày 02/7/2013 của Chính phủ).

[3]. Xem các điều 10, 16, 17, 19 và 20 của Quy trình tiếp nhận, quản lý và xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ trong thi hành án dân sự ban hành kèm theo Quyết định số 1478/QĐ-TCTHADS ngày 27/12/2019 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự.

[4]. Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18/02/2022 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý kho vật chứng (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 70/2013/NĐ-CP ngày 02/7/2013 của Chính phủ).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý giáo dục còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đội ngũ giáo viên cũng như nguy cơ phát sinh tiêu cực, cho thấy trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Bài viết phân tích nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh công tác xây dựng pháp luật được xác định là khâu đột phá nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện còn một số hạn chế như mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, thiếu ổn định và chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực phát triển. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các biểu hiện hạn chế và nguyên nhân chủ yếu từ góc độ thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực xây dựng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao chất lượng thể chế trong kỷ nguyên mới.
Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Vợ, chồng bình đẳng đối với tài sản chung là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù quan hệ hôn nhân, việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung là vấn đề ngày càng đa dạng, phức tạp. Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên, bài viết phân tích, làm rõ nội hàm về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung, từ đó, chỉ ra những điểm còn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện, hướng tới phát huy bền vững chức năng kinh tế của gia đình trong bối cảnh hội nhập.
Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Tình trạng tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu tại ngân hàng thương mại ngày càng phổ biến, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cụ thể, dẫn đến khó khăn trong quản lý và xử lý số dư các tài khoản này. Bài viết phân tích, làm sáng tỏ khái niệm tài khoản không xác định được chủ sở hữu, đồng thời, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, từ đó, đề xuất xây dựng khung pháp lý thống nhất, minh bạch điều chỉnh các tài khoản này.
Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Viên chức, các nghị định và văn bản liên quan. Tuy nhiên, quy định về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập còn những hạn chế, bất cập như tiêu chí chưa cụ thể theo vị trí việc làm, các tiêu chí còn định tính, chưa phản ánh đặc thù của viên chức giảng dạy và viên chức khác trong trường đại học công lập. Bài viết phân tích quy định của pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và gia tăng nhanh chóng của tội phạm công nghệ cao, dữ liệu điện tử ngày càng trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng hình sự. Bài viết nghiên cứu việc thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự, tập trung vào bất cập trong quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025). Trên cơ sở phân tích pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, bài viết đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả thu thập, bảo quản, giám định dữ liệu điện tử, bảo đảm tính hợp pháp và giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự.
Bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số ở trường học - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số ở trường học - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nên các quốc gia đều ban hành chính sách, pháp luật để gìn giữ. Bằng phương pháp phân tích văn bản pháp luật và đối chiếu với thực tiễn triển khai, bài viết đánh giá hai nội dung trọng tâm: giáo dục bằng ngôn ngữ dân tộc và giữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc thông qua hoạt động giáo dục trong nhà trường ở tỉnh Gia Lai. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, mặc dù hệ thống chính sách tương đối đầy đủ, nhưng thực tiễn thi hành còn gặp nhiều hạn chế như quy mô dạy tiếng dân tộc thiểu số còn hạn hẹp, thiếu đội ngũ giáo viên đạt chuẩn; việc huy động nghệ nhân gặp khó khăn do các quy định hiện hành và thiếu cơ chế tài chính chi trả thù lao. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, linh hoạt về tiêu chuẩn nhân sự tham gia giáo dục và hoàn thiện cơ chế tài chính đặc thù tại địa phương.
Quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Hiện nay, quản trị quốc gia gắn với phát triển xã hội số là một trong những vấn đề pháp lý - quản lý cấp thiết ở các quốc gia trên thế giới. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức triển khai xã hội số tại Việt Nam; đồng thời, nhận diện một số hạn chế có nguyên nhân từ hoạt động quản trị quốc gia. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị về thể chế, pháp luật cũng như giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao cơ chế điều phối, năng lực thực thi; phát triển nguồn nhân lực, năng lực số cho khu vực công; phát triển hạ tầng dữ liệu, cơ chế quản trị dữ liệu quốc gia; thúc đẩy niềm tin xã hội và bảo đảm tính bao trùm số; qua đó, tăng cường hiệu quả quản trị quốc gia trong bối cảnh phát triển xã hội số.
Hợp đồng dịch vụ lái xe hộ qua ứng dụng trên điện thoại di động

Hợp đồng dịch vụ lái xe hộ qua ứng dụng trên điện thoại di động

Tóm tắt: Trong bối cảnh Nhà nước ban hành các chế tài ngày càng nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm nồng độ cồn khi lái xe, làm nhu cầu sử dụng dịch vụ lái xe hộ tăng mạnh. Tuy nhiên, loại hình này chưa được pháp luật điều chỉnh trực tiếp, dẫn đến khoảng trống về xác định quan hệ hợp đồng, quyền, nghĩa vụ của các bên và cơ chế chịu trách nhiệm khi phát sinh rủi ro. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở pháp lý của hợp đồng lái xe hộ, đánh giá thực trạng điều chỉnh và đề xuất giải pháp hoàn thiện để vừa bảo đảm an toàn pháp lý, vừa phù hợp định hướng phát triển kinh tế số.
Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu về điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định pháp luật Việt Nam, sử dụng các quyết định, bản án và các vụ việc diễn ra trên thực tế để làm rõ nội dung khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghiên cứu cho thấy, quy định pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản hiện nay chưa thật sự phù hợp với thực tiễn. Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung này.
Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo đang trở thành nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng khung pháp lý tương xứng. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này còn tồn tại những thách thức nhất định. Để giải quyết các vấn đề này, nghiên cứu đề xuất mô hình pháp lý ba lớp nhằm kiến tạo hành lang pháp lý đồng bộ, có khả năng thích ứng, qua đó, cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới công nghệ và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của trí tuệ nhân tạo trong khu vực công.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Tóm tắt: Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các rủi ro về xâm phạm dữ liệu cá nhân của các chủ thể, đặc biệt khi tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, bảo vệ dữ liệu cá nhân đang trở thành vấn đề cấp thiết trong kỷ nguyên số. Bài viết phân tích quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử, trọng tâm là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, chỉ ra những tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật với mục tiêu bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển thương mại điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể trong môi trường số.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền công vụ vì Nhân dân, lấy Nhân dân làm gốc. Bài viết phân tích vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm” làm nền tảng cho hoạt động công vụ trong bối cảnh hiện nay, đồng thời, chỉ ra hạn chế trong thực thi pháp luật khi thiếu hành lang pháp lý phù hợp, dẫn đến tâm lý né tránh, sợ trách nhiệm của công chức. Từ đó, đề xuất giải pháp pháp lý nhằm bảo đảm pháp quyền, thúc đẩy sáng tạo, nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân.
Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh Việt Nam - Từ quy định đến thực thi

Tóm tắt: Để chống lại các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh nhiều nước trên thế giới không chỉ quy định việc áp dụng các hình phạt đối với hành vi này, mà còn quy định về chính sách khoan hồng, theo đó, miễn hoặc giảm mức hình phạt đối với người cung cấp thông tin, chứng cứ cho cơ quan quản lý cạnh tranh về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Tiếp thu kinh nghiệm pháp luật cạnh tranh thế giới, Việt Nam đã quy định về chính sách khoan hồng tại Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018, tuy nhiên, tính khả thi của các chính sách này trên thực tế còn hạn chế. Thông qua việc nhận diện nội hàm và bản chất của chính sách khoan hồng, bài viết phân tích, so sánh về chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh của Việt Nam với một số nước, chỉ ra những vấn đề cần khắc phục để chính sách này thực thi hiệu quả trên thực tế.
Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong thời kỳ mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đẩy mạnh cải cách tư pháp, yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ tư pháp vững mạnh, đủ phẩm chất và năng lực đang trở nên cấp thiết. Trước những tác động mạnh mẽ của quá trình hội nhập quốc tế và chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp, việc nghiên, cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ có ý nghĩa quan trọng, góp phần xác định cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp “vừa hồng, vừa chuyên”. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại. Kết quả cho thấy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới là yếu tố then chốt bảo đảm hiệu quả cải cách tư pháp và củng cố niềm tin của Nhân dân vào công lý.

Theo dõi chúng tôi trên: