Chủ nhật 15/03/2026 09:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các tổ chức chính trị - xã hội của Bộ Tư pháp: Tăng cường nguồn lực, chủ động trong công tác phối hợp

Chiều 24/1, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị liên tịch giữa Ban cán sự Đảng với Đảng uỷ Bộ và các tổ chức chính trị - xã hội thuộc Bộ. Bộ trưởng Lê Thành Long, các Thứ trưởng Nguyễn Khánh Ngọc, Phan Chí Hiếu đồng chủ trì hội nghị. Các Thứ trưởng Đặng Hoàng Oanh, Nguyễn Thanh Tịnh, Mai Lương Khôi tham dự Hội nghị.



1. Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Doanh nghiệp khoa học và công nghệ xuất hiện trên thế giới từ khoảng giữa thế kỷ XX, xuất phát từ mô hình spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn) và start-up (doanh nghiệp khởi nghiệp) được hình thành ở các nước công nghiệp phát triển. Thuật ngữ này được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 58 Luật Khoa học và công nghệ năm 2013, theo đó, doanh nghiệp khoa học và công nghệ là doanh nghiệp thực hiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm, hàng hóa từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Qua quá trình phát triển, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam là rất lớn, thể hiện qua các mặt:

Thứ nhất, đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ:

CMCN 4.0 đem lại cho thế giới những đột phá về công nghệ, là cuộc cách mạng sản xuất mới, đem lại các giá trị mới, giúp giải phóng con người, giải phóng sức lao động, tạo đà cho các doanh nghiệp tham gia nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để trở thành các doanh nghiệp khoa học và công nghệ, ứng dụng các thành tựu của cuộc CMCN 4.0 vào sản xuất, kinh doanh, giúp cho Việt Nam phát triển kinh tế, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng thu nhập bình quân đầu người chỉ ở mức trung bình như hiện nay. Báo cáo của các doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2019[1]: (i) Doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã tạo việc làm cho 31.264 người lao động với thu nhập bình quân tháng là 15 triệu đồng/người. (ii) Tổng doanh thu của 235 doanh nghiệp năm 2019 đạt 147.170,5 tỷ đồng, trong đó, có 217 doanh nghiệp có doanh thu từ sản phẩm khoa học và công nghệ với tổng là 24.123,1 tỷ đồng (chiếm 16,3% tổng doanh thu). Năm 2019, GDP theo giá hiện hành của Việt Nam đạt 6.294.000 tỷ đồng. Như vậy, tổng doanh thu của 235 doanh nghiệp khoa học và công nghệ đạt 2,39 % GDP cả nước; (iii) 198 doanh nghiệp có lãi với tổng lợi nhuận trước thuế năm 2019 đạt 5.268,5 tỷ đồng. Trong đó, tổng lợi nhuận trước thuế của sản phẩm khoa học và công nghệ đạt 1.343,9 tỷ đồng/183 doanh nghiệp[2].

Doanh nghiệp khoa học và công nghệ đang góp phần tạo việc làm cho lao động có trình độ, chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật công nghệ, nâng cao thu nhập bình quân đầu người, góp phần ổn định xã hội, phát triển đất nước.

Thứ hai, đối với việc xây dựng và ban hành chính sách pháp luật:

Nhà nước đã có những chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho phát triển doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khoa học và công nghệ với mục đích khuyến khích và tạo động lực cho các doanh nghiệp nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh như:

- Điều kiện cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã mở rộng hơn, không còn bó hẹp phạm vi ở một số nội dung như trong Thông tư liên tịch số 17/2012/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 10/9/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài Chính, Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 18/6/2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, cụ thể: (i) Được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; (ii) Có khả năng tạo ra hoặc ứng dụng kết quả khoa học và công nghệ được cơ quan có thẩm quyền đánh giá, thẩm định, công nhận; (iii) Có doanh thu từ việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ đạt tỷ lệ tối thiểu 30% trên tổng doanh thu[3].

- Miễn, giảm thuế, ưu đãi tín dụng: Thu nhập của doanh nghiệp khoa học và công nghệ từ hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, cụ thể là được miễn thuế 04 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo[4], hay doanh nghiệp khoa học và công nghệ được miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định của pháp luật về đất đai. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ còn được hưởng các ưu đãi về vay tín dụng và hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, thương mại hóa kết quả khoa học và công nghệ[5].

2. Thực trạng pháp luật doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Tính đến cuối năm 2020, Việt Nam với khoảng 810.000 doanh nghiệp thì chỉ có trên 540 doanh nghiệp khoa học và công nghệ[6]. Có thể thấy, tỷ lệ và số lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ còn thấp. Các doanh nghiệp khoa học và công nghệ được cấp giấy chứng nhận có kết quả khoa học và công nghệ chủ yếu ở một số lĩnh vực mũi nhọn như: Công nghệ sinh học (38,5%), công nghệ tự động hóa (20,6%), công nghệ vật liệu mới (9,8%), công nghệ thông tin (9,3%)[7]. Thực trạng này ảnh hưởng bởi các vấn đề pháp lý như:

Một là, pháp luật liên quan đến doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam chưa đồng bộ, dẫn tới việc doanh nghiệp khoa học và công nghệ chưa được hưởng ưu đãi theo quy định. Cụ thể, nhiều doanh nghiệp khoa học và công nghệ chưa được hưởng những ưu đãi liên quan đến quyền sử dụng đất, được thuê đất, cơ sở hạ tầng với mức giá thấp nhất theo khung giá của Nhà nước tại địa phương nơi doanh nghiệp thuê, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nằm ngoài các khu công nghệ cao. Bên cạnh đó, chính sách thuế của Nhà nước đối với một số ngành, lĩnh vực hiện còn một số điểm chưa hợp lý đối với việc khuyến khích phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Ví dụ, quy định áp dụng mức thuế nhập nguyên liệu cao hơn mức thuế sản phẩm nhập khẩu của một số mặt hàng mà đại đa số các doanh nghiệp tại Việt Nam chưa sản xuất được.

Hai là, quy định pháp luật liên quan đến chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ còn thiếu, bên cạnh những chính sách ưu đãi về đăng ký doanh nghiệp khoa học và công nghệ, ưu đãi thuế… thì hệ thống pháp luật nước ta còn thiếu các văn bản quy định hướng dẫn chi tiết, liên ngành nên việc đưa các chính sách ưu đãi này vào thực tiễn còn gặp khó khăn, chưa thực sự hấp dẫn; điều kiện, thủ tục để được thụ hưởng một số chính sách ưu đãi còn gặp nhiều khó khăn, cơ quan nhà nước cấp phép sản xuất, lưu hành có lúc còn chậm, dẫn đến việc đấu thầu các dự án công của các doanh nghiệp khoa học và công nghệ bị ảnh hưởng vì thiếu các quy định về định mức, đặc biệt là chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp. Bên cạnh đó, một số quy định của Nhà nước có tác dụng gián tiếp hỗ trợ thúc đẩy thị trường công nghệ, thương mại hóa sản phẩm khoa học và công nghệ, như xác nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ không sử dụng ngân sách nhà nước; giao quyền sở hữu, sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước gặp nhiều khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện...

Ba là, việc thực thi Luật Sở hữu trí tuệ tại nhiều địa phương chưa nghiêm túc, tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn diễn ra tại nhiều nơi. Điều này cũng làm hạn chế việc thu hút đầu tư cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ tại Việt Nam. Bên cạnh đó, việc phân chia lợi nhuận thấp, không rõ ràng khi sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước cũng có mặt hạn chế việc thu hút doanh nghiệp khoa học và công nghệ như: Lợi nhuận thu được từ việc sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước được chia cho tác giả tối thiểu 30%; phần còn lại được phân chia giữa chủ sở hữu, cơ quan chủ trì, người môi giới theo quy định của Chính phủ[8].

Bốn là, về tổ chức hoạt động doanh nghiệp khoa học và công nghệ, để trở thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều rào cản như: Các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ tiềm lực tài chính hạn chế nên đầu tư cho nghiên cứu khoa học chứa nhiều rủi ro do thiếu nhân lực có trình độ; thiếu các tổ chức hỗ trợ, thiếu sự liên kết và điều kiện vật chất đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học, vì vậy, chưa mạnh dạn đầu tư cho khoa học và công nghệ. Ngoài ra, nhận thức về nghiên cứu khoa học còn hạn chế, đổi mới công nghệ và tạo ra sản phẩm mới chưa đúng mức, nguồn từ ngân sách nhà nước dành cho nghiên cứu khoa học còn ít; chưa chú trọng đến thương hiệu và sở hữu trí tuệ; các sản phẩm nghiên cứu khoa học chưa nổi trội về chất lượng sản phẩm nên không có thị trường để chuyển giao và ít đem lại nhuận cao cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Năm là, bản chất hoạt động đầu tư sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa từ kết quả khoa học và công nghệ mang tính rủi ro, các sản phẩm nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp không quá nổi trội hoặc không có thị trường tiêu thụ nên chưa mang lại lợi nhuận cao; số lượng các doanh nghiệp khoa học và công nghệ trên cả nước còn khá ít vì thiếu lực lượng hỗ trợ đồng hành nên một số quyền lợi của doanh nghiệp chưa được bảo đảm. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ phải đáp ứng điều kiện quy định tỷ lệ doanh thu tối thiểu 30% khi thương mại hóa kết quả khoa học và công nghệ[9] làm hạn chế doanh nghiệp có tiềm năng để có thể thành doanh nghiệp khoa học công nghệ là rào cản mới đối với các doanh nghiệp khoa học và công nghệ; các kết quả khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước trong quy định về thủ tục giao quyền còn chưa rõ ràng và cụ thể, tốn nhiều thời gian và chi phí định giá; thiếu cán bộ, công chức chuyên trách thực hiện nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn hỗ trợ cho doanh nghiệp, chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ; các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp chưa phát huy hiệu quả.

3. Một số giải pháp

Thứ nhất, đồng bộ hóa chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về khoa học và công nghệ, gồm: Luật Khoa học và công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản hướng dẫn thi hành để bảo đảm thực thi được các chính sách hỗ trợ phát triển tổ chức trung gian; cơ chế giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước; cơ chế phân chia lợi nhuận thu được từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu… Xây dựng cơ chế giám sát thực thi Luật Sở hữu trí tuệ một cách nghiêm túc để giảm tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khoa học và công nghệ có môi trường để hoạt động theo mục đích của mình.

Ban hành văn bản quy định về tiêu chí, hướng dẫn điều kiện thành lập đối với cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp và đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về thẩm quyền, hồ sơ cấp giấy chứng nhận đối với loại hình tổ chức này để hỗ trợ thụ hưởng các ưu đãi đầu tư; tăng cường hỗ trợ các địa phương triển khai Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Hoàn thiện khung pháp lý, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính tạo tiền đề hỗ trợ và thúc đẩy doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo sớm gia nhập thị trường với thời gian và chi phí hợp lý.

Thứ hai, hoàn thiện quy định pháp luật về ưu đãi đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ, cụ thể như: Đổi mới chính sách thuế của Nhà nước đối với một số ngành, lĩnh vực để khuyến khích phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, xây dựng các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách đối với từng lĩnh vực để các nội dung ưu đãi được triển khai hiệu quả trong thực tiễn. Mở rộng mạng lưới liên kết hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, xóa bỏ một số điểm không phù hợp với nhu cầu và thực tiễn của các địa phương, đặc biệt là các quy định liên quan đến hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Thứ ba, đẩy mạnh hoạt động phổ biến, tuyên truyền pháp luật khoa học và công nghệ. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần thường xuyên phổ biến, tuyên truyền để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các ngành, doanh nghiệp, người dân về vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong phát triển kinh tế - xã hội với các nội dung cụ thể như: Phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tổ chức các hội nghị, hội thảo, tập huấn về việc thực hiện các quy định, văn bản pháp lý liên quan đến chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để góp phần lan tỏa tinh thần cho các doanh nghiệp tiềm năng và giúp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nhận thức đầy đủ trách nhiệm đối với phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Thứ tư, không ngừng cải tiến công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ tại cơ sở. Tập trung nguồn lực hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ có tính cấp thiết, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội. Nhà nước cần hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp có tiềm năng tiếp cận với các chương trình khoa học và công nghệ của quốc gia, các quỹ đổi mới công nghệ. Xây dựng quỹ hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo tại mỗi địa phương, hỗ trợ kịp thời các tổ chức, cá nhân có ý tưởng khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo hiệu quả.

ThS. Trần Thị Lệ Hằng
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội



[1]. Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ (2020), Báo cáo tổng kết tình hình đăng ký và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp khoa học và công nghệ năm 2019.

[2]. https://natec.gov.vn/giai-phap-phat-trien-doanh-nghiep-khoa-hoc-va-cong-nghe-thuc-day-ket-noi-vien-truong-va-phat-huy-vai-tro-cua-cac-hiep-hoi-doanh-nghiep/, truy cập ngày 02/12/2021.

[3]. Điều 6 Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

[4]. Điều 12, Điều 13, Điều 14 Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

[5]. Điều 12, Điều 13, Điều 14 Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

[6]. Tổng cục Thống kê (2020), Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2020.

[7]. Tổng cục Thống kê (2020), Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2020.

[8]. Điều 43 Luật Khoa học và công nghệ năm 2013.

[9]. Điều 6 Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Duy trì ổn định an ninh, trật tự phục vụ cuộc bầu cử

Duy trì ổn định an ninh, trật tự phục vụ cuộc bầu cử

Để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thành công, Công an xã, phường phải chủ động nắm chắc tình hình, siết chặt tuần tra, kiểm soát và vận dụng linh hoạt các biện pháp nghiệp vụ nhằm duy trì ổn định an ninh, trật tự tại địa phương.
Cử tri cả nước hướng về Ngày bầu cử với niềm tin và kỳ vọng

Cử tri cả nước hướng về Ngày bầu cử với niềm tin và kỳ vọng

Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước; là nơi để cử tri phát huy quyền làm chủ của công dân, lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình trong Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Bảo đảm các điều kiện để ngày bầu cử diễn ra dân chủ, an toàn, đúng pháp luật

Bảo đảm các điều kiện để ngày bầu cử diễn ra dân chủ, an toàn, đúng pháp luật

Công tác chuẩn bị bầu cử tại nhiều địa phương trên cả nước đang bước vào giai đoạn hoàn tất, bảo đảm ngày bầu cử diễn ra dân chủ, an toàn, đúng pháp luật. Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, bài bản và khoa học, một số địa phương đã hoàn tất công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Tiếp tục tập trung cao độ trong công tác chuẩn bị và tổ chức bầu cử

Tiếp tục tập trung cao độ trong công tác chuẩn bị và tổ chức bầu cử

Từ nay đến ngày bầu cử 15/3/2026, địa phương cần tiếp tục tập trung cao độ, rà soát kỹ các điều kiện cần thiết trong công tác chuẩn bị và tổ chức bầu cử, bảo đảm ngày bầu cử diễn ra an toàn, dân chủ và đúng pháp luật.
Giám sát chặt chẽ y tế trong thời gian diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp

Giám sát chặt chẽ y tế trong thời gian diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp

Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động xây dựng và cập nhật kế hoạch bảo đảm y tế phục vụ cuộc bầu cử trên địa bàn và thành lập các đội cơ động phòng, chống dịch, sẵn sàng triển khai các biện pháp ứng phó khi có dịch bệnh xảy ra.
Phát biểu của Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết tại Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII

Phát biểu của Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết tại Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tại Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII.
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật sinh hoạt chuyên đề về Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật sinh hoạt chuyên đề về Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị

Ngày 06/3/2026, tại tỉnh Bắc Ninh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp đã tổ chức sinh hoạt chuyên đề về Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong khuôn khổ chương trình, đoàn đã tổ chức sinh hoạt thực tế tại Nhà hát Dân ca quan họ Bắc Ninh.
Ngày hội của toàn dân - Cử tri cả nước sẵn sàng cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp

Ngày hội của toàn dân - Cử tri cả nước sẵn sàng cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đang bước vào giai đoạn cao điểm chuẩn bị, tạo nên không khí chính trị sôi nổi trên khắp cả nước. Đây là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong việc lựa chọn những đại biểu tiêu biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình.
Hội nghị Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp quý I/2026

Hội nghị Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Bộ Tư pháp quý I/2026

Chiều 02/3/2026, Đoàn Thanh niên Cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đoàn Bộ lần thứ III (quý I/2026).
TS. Chu Mạnh Hùng: Kiến tạo chính sách vì Nhân dân, đồng hành cùng Tây Ninh phát triển bền vững

TS. Chu Mạnh Hùng: Kiến tạo chính sách vì Nhân dân, đồng hành cùng Tây Ninh phát triển bền vững

Ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại đơn vị bầu cử số 1, tỉnh Tây Ninh, TS. Chu Mạnh Hùng, Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Luật Hà Nội, nhấn mạnh định hướng hành động nếu được cử tri tín nhiệm: Giữ vững bản lĩnh, gần dân, lắng nghe dân và kiên trì theo đuổi mục tiêu xây dựng, giám sát chính sách lấy con người làm trung tâm, góp phần đưa Tây Ninh phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 2, tỉnh Cà Mau:

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu tiếp xúc cử tri tại đơn vị bầu cử số 2, tỉnh Cà Mau: 'Khoảng cách địa lý không thể là khoảng cách trách nhiệm'

Ngày 2/3, tại Đảng ủy xã Cái Nước, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri với các ứng cử viên ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2026 - 2031. Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày chương trình hành động với cam kết hoàn thiện thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn phát triển, đồng hành cùng địa phương xây dựng Cà Mau phát triển nhanh, bền vững.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế

Nhân kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955-27/2/2026), Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài phát biểu khi đến thăm, chúc mừng ngành y tế và tập thể cán bộ, y bác sĩ và nhân viên Bệnh viện Hữu Nghị. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế được Tổng Bí thư nhấn mạnh là một trong bốn nhiệm vụ có ý nghĩa cấp thiết và chiến lược phát triển ngành y tế ngày càng cao hơn, nhân văn, hiện đại hơn. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Tăng cường

Tăng cường 'nội lực vật chất' và củng cố 'nội lực tinh thần'

Hai nghị quyết mới là sự bổ sung những quyết sách lớn của Đảng, được hình thành trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và phát triển tư duy lý luận trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, đồng thời giải quyết hai yêu cầu có tính nền tảng là tăng cường “nội lực vật chất” và củng cố “nội lực tinh thần”.
Chinh phục niềm tin của cử tri bằng tài năng, tâm huyết, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức

Chinh phục niềm tin của cử tri bằng tài năng, tâm huyết, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức

Theo danh sách chính thức những người ứng cử trong cả nước, có 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khoá XVI tại 182 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 ĐBQH khóa XVI.

Theo dõi chúng tôi trên: