Thứ sáu 09/01/2026 11:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.

Dự kiến số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI

Tại cuộc bầu cử lần này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã dự kiến tổng số ĐBQH khóa XVI được bầu là 500 đại biểu.

Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân) quy định: Căn cứ vào dự kiến số lượng ĐBQH được bầu, sau khi thống nhất ý kiến với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đại diện các tổ chức chính trị - xã hội, chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, UBTVQH dự kiến cơ cấu, thành phần ĐBQH; số lượng người của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử ĐBQH để bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong Quốc hội.

Ngày 18/11/2025, UBTVQH ban hành Nghị quyết số 1897/NQ-UBTVQH15 dự kiến số lượng người của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử ĐBQH khóa XVI.

Theo đó, việc phân bổ số lượng ĐBQH được bầu ở mỗi tỉnh, thành phố được UBTVQH xác định theo hai căn cứ: (i) Mỗi tỉnh, thành phố có ít nhất 03 đại biểu cư trú và làm việc tại địa phương; (ii) Số lượng đại biểu tiếp theo được tính theo số dân và đặc điểm của mỗi địa phương, bảo đảm tổng số ĐBQH dự kiến được bầu là 500 người.

Trên cơ sở đó, UBTVQH phân bổ ĐBQH Trung ương hợp lý ở mỗi tỉnh, thành phố và quy định tại Nghị quyết số 1891/NQ-UBTVQH15 ngày 10/11/2025 về dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần ĐBQH khóa XVI.

Bảo đảm tỷ lệ phụ nữ và người dân tộc thiểu số trong danh sách ứng cử đại biểu dân cử

Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử ĐBQH do UBTVQH dự kiến trên cơ sở đề nghị của Ban Thường vụ trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH là phụ nữ.

Số lượng người dân tộc thiểu số được giới thiệu ứng cử ĐBQH do UBTVQH dự kiến trên cơ sở đề nghị của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, bảo đảm có ít nhất 18% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH là người dân tộc thiểu số.

Số người được giới thiệu để ứng cử đại biểu HĐND các cấp cũng phải bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu HĐND là phụ nữ; số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và tình hình cụ thể của từng địa phương.

Nguyên tắc xác định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Điều khoản 1 Điều 30 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, việc xác định tổng số đại biểu HĐND cấp tỉnh được thực hiện theo nguyên tắc:

Đối với tỉnh có từ 1.000.000 dân trở xuống được bầu 50 đại biểu; có trên 1.000.000 dân thì cứ thêm 70.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 85 đại biểu;

Đối với thành phố có từ 1.200.000 dân trở xuống được bầu 50 đại biểu; có trên 1.200.000 dân thì cứ thêm 75.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 85 đại biểu;

Riêng thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được bầu 125 đại biểu.

Theo quy định tại Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của UBTVQH, dân số của từng đơn vị hành chính để làm căn cứ xác định số lượng đại biểu HĐND được bầu được xác định theo số liệu thống kê dân số tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tính đến ngày 31/8/2025.

Nguyên tắc xác định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Khoản 2 Điều 30 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, việc xác định tổng số đại biểu HĐND cấp xã được thực hiện theo nguyên tắc:

Đối với xã ở miền núi, hải đảo có từ 5.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 5.000 dân đến 10.000 dân thì cứ thêm 1.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 10.000 dân thì cứ thêm 3.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu;

Đối với xã không thuộc trường hợp nêu trên có từ 10.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 10.000 dân đến 20.000 dân thì cứ thêm 2.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 20.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu;

Đối với phường thuộc tỉnh có từ 10.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 10.000 dân đến 20.000 dân thì cứ thêm 2.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 20.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu;

Đối với phường thuộc thành phố có từ 15.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 15.000 dân đến 45.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 45.000 dân thì cứ thêm 7.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu;

Đối với đặc khu có từ 5.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 5.000 dân đến 10.000 dân thì cứ thêm 1.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 10.000 dân thì cứ thêm 3.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu.

Theo quy định tại Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của UBTVQH, dân số của từng đơn vị hành chính để làm căn cứ xác định số lượng đại biểu HĐND được bầu được xác định theo số liệu thống kê dân số tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tính đến ngày 31/8/2025.

Việc xác định xã ở miền núi, hải đảo để làm căn cứ xác định số lượng đại biểu HĐND xã được bầu căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của UBTVQH đã giao Bộ Dân tộc và Tôn giáo chịu trách nhiệm xác định xã ở miền núi; Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm xác định xã ở hải đảo và công bố trên Trang thông tin điện tử của Hội đồng bầu cử quốc gia.

Nguyên tắc xác định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân theo dân số và đặc điểm đơn vị hành chính

Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 đã quy định cụ thể nguyên tắc xác định số lượng đại biểu HĐND đối với từng loại đơn vị hành chính: tỉnh, thành phố; xã, phường, đặc khu căn cứ vào dân số, đặc điểm (miền núi, hải đảo) và số lượng đơn vị hành chính trực thuộc. Ví dụ:

Đối với tỉnh có từ 1.000.000 dân trở xuống được bầu 50 đại biểu; có trên 1.000.000 dân thì cứ thêm 70.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 85 đại biểu;

Đối với phường thuộc tỉnh có từ 10.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 10.000 dân đến 20.000 dân thì cứ thêm 2.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 20.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu.

Việc xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử và nguyên tắc phân bổ ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng, góp phần bảo đảm tính đại diện, công bằng và dân chủ của cuộc bầu cử. Các quy định cụ thể của pháp luật không chỉ tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho công tác chuẩn bị và tổ chức bầu cử, mà còn thể hiện sự quan tâm đến việc bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các vùng, miền, các tầng lớp nhân dân, phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số.

(Ảnh: Internet)

Hải Đăng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Sáng 06/01/2026, Lễ kỷ niệm cấp quốc gia 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2026) được tổ chức trọng thể tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Báo chí đồng hành cùng Quốc hội trong hành trình 80 năm phụng sự Nhân dân

Báo chí đồng hành cùng Quốc hội trong hành trình 80 năm phụng sự Nhân dân

Ghi dấu những nỗ lực đổi mới, phản ánh sinh động đời sống nghị trường và lan tỏa tinh thần dân chủ, thượng tôn Hiến pháp, pháp luật, Lễ trao Giải báo chí toàn quốc về Quốc hội và Hội đồng nhân dân lần thứ tư - Giải Diên Hồng tiếp tục khẳng định vai trò của báo chí cách mạng đồng hành cùng Quốc hội trên chặng đường 80 năm hình thành và phát triển.
80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

80 năm Quốc hội Việt Nam - Thời gian và Con đường

Lời Tòa soạn: Năm 2026, Quốc hội kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2026) - Một chặng đường lịch sử hào hùng, gắn liền với sự ra đời, trưởng thành và phát triển của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 80 năm, từ phiên họp đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà Nội, số 1 phố Tràng Tiền giữa mùa xuân năm 1946 đến Hội trường Diên Hồng hôm nay, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng đổi mới, khẳng định vị thế là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân. Từ Quốc hội của thời kháng chiến, kiến quốc đến Quốc hội của thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số. Hành trình ấy là minh chứng cho “Thời gian và Con đường” mà Quốc hội luôn kiên định: Vì Nhân dân!
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Lịch trình pháp lý cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Lịch trình pháp lý cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là sự kiện chính trị trọng đại, được tiến hành theo trình tự chặt chẽ, bảo đảm dân chủ, bình đẳng và đúng pháp luật. Trong tiến trình ấy, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND (Luật Bầu cử) quy định cụ thể các mốc thời gian thực hiện. Đây vừa là cơ sở bảo đảm tính logic, vừa là căn cứ cho sự minh bạch và thống nhất trong toàn bộ quy trình. Lịch trình pháp lý được xác định trên cơ sở ngày bầu cử đã được ấn định cho mỗi kỳ bầu cử.
Một số điểm mới đáng lưu ý trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031

Một số điểm mới đáng lưu ý trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031

Ngày 24/6/2025, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 và sẽ được áp dụng ngay trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 diễn ra vào ngày 15/3/2026
Dự kiến thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Dự kiến thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Chiều ngày 11/9/2025, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn việc xác định dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 (dự thảo Nghị quyết).