Dự kiến số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI
Tại cuộc bầu cử lần này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã dự kiến tổng số ĐBQH khóa XVI được bầu là 500 đại biểu.
Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân) quy định: Căn cứ vào dự kiến số lượng ĐBQH được bầu, sau khi thống nhất ý kiến với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đại diện các tổ chức chính trị - xã hội, chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, UBTVQH dự kiến cơ cấu, thành phần ĐBQH; số lượng người của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử ĐBQH để bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong Quốc hội.
Ngày 18/11/2025, UBTVQH ban hành Nghị quyết số 1897/NQ-UBTVQH15 dự kiến số lượng người của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử ĐBQH khóa XVI.
Theo đó, việc phân bổ số lượng ĐBQH được bầu ở mỗi tỉnh, thành phố được UBTVQH xác định theo hai căn cứ: (i) Mỗi tỉnh, thành phố có ít nhất 03 đại biểu cư trú và làm việc tại địa phương; (ii) Số lượng đại biểu tiếp theo được tính theo số dân và đặc điểm của mỗi địa phương, bảo đảm tổng số ĐBQH dự kiến được bầu là 500 người.
Trên cơ sở đó, UBTVQH phân bổ ĐBQH Trung ương hợp lý ở mỗi tỉnh, thành phố và quy định tại Nghị quyết số 1891/NQ-UBTVQH15 ngày 10/11/2025 về dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần ĐBQH khóa XVI.
Bảo đảm tỷ lệ phụ nữ và người dân tộc thiểu số trong danh sách ứng cử đại biểu dân cử
Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử ĐBQH do UBTVQH dự kiến trên cơ sở đề nghị của Ban Thường vụ trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH là phụ nữ.
Số lượng người dân tộc thiểu số được giới thiệu ứng cử ĐBQH do UBTVQH dự kiến trên cơ sở đề nghị của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, bảo đảm có ít nhất 18% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử ĐBQH là người dân tộc thiểu số.
Số người được giới thiệu để ứng cử đại biểu HĐND các cấp cũng phải bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu HĐND là phụ nữ; số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với đặc điểm, cơ cấu dân tộc và tình hình cụ thể của từng địa phương.
Nguyên tắc xác định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Điều khoản 1 Điều 30 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, việc xác định tổng số đại biểu HĐND cấp tỉnh được thực hiện theo nguyên tắc:
Đối với tỉnh có từ 1.000.000 dân trở xuống được bầu 50 đại biểu; có trên 1.000.000 dân thì cứ thêm 70.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 85 đại biểu;
Đối với thành phố có từ 1.200.000 dân trở xuống được bầu 50 đại biểu; có trên 1.200.000 dân thì cứ thêm 75.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 85 đại biểu;
Riêng thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được bầu 125 đại biểu.
Theo quy định tại Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của UBTVQH, dân số của từng đơn vị hành chính để làm căn cứ xác định số lượng đại biểu HĐND được bầu được xác định theo số liệu thống kê dân số tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tính đến ngày 31/8/2025.
Nguyên tắc xác định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
Khoản 2 Điều 30 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, việc xác định tổng số đại biểu HĐND cấp xã được thực hiện theo nguyên tắc:
Đối với xã ở miền núi, hải đảo có từ 5.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 5.000 dân đến 10.000 dân thì cứ thêm 1.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 10.000 dân thì cứ thêm 3.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu;
Đối với xã không thuộc trường hợp nêu trên có từ 10.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 10.000 dân đến 20.000 dân thì cứ thêm 2.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 20.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu;
Đối với phường thuộc tỉnh có từ 10.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 10.000 dân đến 20.000 dân thì cứ thêm 2.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 20.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu;
Đối với phường thuộc thành phố có từ 15.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 15.000 dân đến 45.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 45.000 dân thì cứ thêm 7.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu;
Đối với đặc khu có từ 5.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 5.000 dân đến 10.000 dân thì cứ thêm 1.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 10.000 dân thì cứ thêm 3.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu.
Theo quy định tại Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của UBTVQH, dân số của từng đơn vị hành chính để làm căn cứ xác định số lượng đại biểu HĐND được bầu được xác định theo số liệu thống kê dân số tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư tính đến ngày 31/8/2025.
Việc xác định xã ở miền núi, hải đảo để làm căn cứ xác định số lượng đại biểu HĐND xã được bầu căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của UBTVQH đã giao Bộ Dân tộc và Tôn giáo chịu trách nhiệm xác định xã ở miền núi; Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm xác định xã ở hải đảo và công bố trên Trang thông tin điện tử của Hội đồng bầu cử quốc gia.
Nguyên tắc xác định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân theo dân số và đặc điểm đơn vị hành chính
Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 đã quy định cụ thể nguyên tắc xác định số lượng đại biểu HĐND đối với từng loại đơn vị hành chính: tỉnh, thành phố; xã, phường, đặc khu căn cứ vào dân số, đặc điểm (miền núi, hải đảo) và số lượng đơn vị hành chính trực thuộc. Ví dụ:
Đối với tỉnh có từ 1.000.000 dân trở xuống được bầu 50 đại biểu; có trên 1.000.000 dân thì cứ thêm 70.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 85 đại biểu;
Đối với phường thuộc tỉnh có từ 10.000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu; có trên 10.000 dân đến 20.000 dân thì cứ thêm 2.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu; có trên 20.000 dân thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 30 đại biểu.
Việc xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử và nguyên tắc phân bổ ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng, góp phần bảo đảm tính đại diện, công bằng và dân chủ của cuộc bầu cử. Các quy định cụ thể của pháp luật không chỉ tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho công tác chuẩn bị và tổ chức bầu cử, mà còn thể hiện sự quan tâm đến việc bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các vùng, miền, các tầng lớp nhân dân, phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số.
(Ảnh: Internet)