Thứ bảy 08/08/2026 04:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Lịch trình pháp lý cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là sự kiện chính trị trọng đại, được tiến hành theo trình tự chặt chẽ, bảo đảm dân chủ, bình đẳng và đúng pháp luật. Trong tiến trình ấy, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND (Luật Bầu cử) quy định cụ thể các mốc thời gian thực hiện. Đây vừa là cơ sở bảo đảm tính logic, vừa là căn cứ cho sự minh bạch và thống nhất trong toàn bộ quy trình. Lịch trình pháp lý được xác định trên cơ sở ngày bầu cử đã được ấn định cho mỗi kỳ bầu cử.

Theo Nghị quyết số 199/2025/QH15[1], ngày bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là ngày 15/3/2026. Đây là mốc khởi đầu, làm căn cứ pháp lý cho toàn bộ tiến trình bầu cử với các nhiệm vụ và mốc thời gian như sau:

1. Dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp và thành lập Ủy ban bầu cử

Ngày 30/11/2025 là thời hạn chậm nhất trước 105 ngày bầu cử[2]: Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) dự kiến cơ cấu, thành phần ĐBQH khóa XVI, số lượng người của cơ quan, tổ chức ở Trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử ĐBQH khóa XVI; Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp xã, đặc khu dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND cùng cấp.

Đây cũng là hạn cuối để Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp thành lập Ủy ban bầu cử cùng cấp theo quy định tại Điều 22 Luật Bầu cử.

2. Hiệp thương lần thứ nhất

Ngày 10/12/2025 là thời hạn chậm nhất trước 95 ngày bầu cử[3]: Tổ chức hiệp thương lần thứ nhất để thỏa thuận cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị[4].

3. Điều chỉnh lần thứ nhất

Ngày 15/12/2025 là thời hạn chậm nhất trước 90 ngày bầu cử[5]: UBTVQH điều chỉnh lần thứ nhất cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử ĐBQH; Thường trực HĐND các cấp điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND cấp mình.

Sau khi UBTVQH, Thường trực HĐND điều chỉnh lần thứ nhất, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền giới thiệu người ứng cử, tự ứng cử.

4. Công bố số đơn vị bầu cử

Ngày 25/12/2025 là thời hạn chậm nhất trước 80 ngày bầu cử[6]: Hội đồng bầu cử quốc gia công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng ĐBQH được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử; Ủy ban bầu cử các cấp công bố số đơn vị bầu cử đại biểu HĐND cấp mình, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử.

5. Thành lập Ban bầu cử

Ngày 04/01/2026 là thời hạn chậm nhất 70 ngày trước ngày bầu cử[7]: UBND cấp tỉnh thành lập Ban bầu cử ĐBQH; UBND các cấp thành lập Ban bầu cử đại biểu HĐND cùng cấp.

6. Thành lập các Tổ bầu cử và nộp hồ sơ ứng cử

Ngày 31/01/2026 là thời hạn chậm nhất trước 43 ngày bầu cử[8]: UBND cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực HĐND và Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp.

Ngày 01/02/2026 (chậm nhất 42 ngày trước ngày bầu cử[9]) là hạn cuối công dân Việt Nam nộp hồ sơ ứng cử.

7. Hiệp thương lần hai và niêm yết danh sách cử tri

Ngày 03/02/2026 là thời hạn chậm nhất trước 40 ngày bầu cử[10]: Tổ chức hiệp thương lần thứ hai để lập danh sách sơ bộ người ứng cử và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú.

Đây cũng là hạn cuối để niêm yết danh sách cử tri tại trụ sở UBND cấp xã và tại địa điểm công cộng của khu vực bỏ phiếu[11].

Trong thời hạn 30 ngày từ ngày niêm yết, công dân khiếu nại về danh sách cử tri; trong thời hạn 05 ngày từ khi nhận khiếu nại, cơ quan lập danh sách cử tri giải quyết khiếu nại.

8. Điều chỉnh lần thứ hai

Ngày 05/02/2026 là thời hạn chậm nhất trước 38 ngày bầu cử[12]: UBTVQH điều chỉnh lần thứ hai cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và địa phương được giới thiệu ứng cử ĐBQH.

9. Tiến hành xong việc xác minh, trả lời các vụ việc cử tri nêu về người ứng cử

Ngày 08/02/2026 là thời hạn chậm nhất trước 35 ngày bầu cử[13]: Các cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý/giới thiệu người ứng cử, Ủy ban bầu cử tiến hành xong việc xác minh, trả lời các vụ việc cử tri nêu về người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND.

10. Hiệp thương lần thứ ba

Ngày 20/02/2026 là thời hạn chậm nhất trước 23 ngày bầu cử[14]: Tổ chức hiệp thương lần thứ ba để lựa chọn, lập danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử.

Ngày 22/02/2026 là thời hạn chậm nhất trước 21 ngày bầu cử[15]: Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp gửi biên bản hiệp thương lần 3 và danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử đến Hội đồng bầu cử quốc gia và các cơ quan, tổ chức theo quy định. Căn cứ danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, Hội đồng bầu cử quốc gia gửi Ủy ban bầu cử ở tỉnh danh sách và hồ sơ người được giới thiệu về ứng cử tại địa phương

11. Lập và công bố danh sách chính thức người ứng cử, nhận tài liệu, phiếu bầu cử

Ngày 26/02/2026 là thời hạn chậm nhất trước 17 ngày bầu cử[16]: Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử lập và công bố danh sách chính thức người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND theo từng đơn vị bầu cử.

Đây cũng là hạn cuối Ủy ban bầu cử nhận tài liệu, phiếu bầu cử ĐBQH từ UBND cấp tỉnh và phân phối cho các Ban bầu cử ĐBQH; Ủy ban bầu cử nhận tài liệu, phiếu bầu cử đại biểu HĐND từ UBND cùng cấp và phân phối cho các Ban bầu cử[17].

12. Công bố danh sách và niêm yết danh sách chính thức người ứng cử

Ngày 27/02/2026 là thời hạn chậm nhất trước 16 ngày bầu cử[18]: Ủy ban bầu cử ở tỉnh công bố danh sách người ứng cử ĐBQH ở địa phương. Đây đồng thời cũng là hạn cuối để Tổ bầu cử niêm yết danh sách chính thức người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND ở khu vực bỏ phiếu theo quy định tại Điều 59.

Sau khi công bố danh sách chính thức những người ứng cử, các ứng cử viên tiến hành vận động bầu cử. Thời hạn vận động bầu cử sẽ kết thúc trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ theo quy định tại Điều 64 Luật Bầu cử.

13. Nhận phiếu và ngừng xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị

Ngày 02/3/2026 là thời hạn chậm nhất trước 13 ngày bầu cử[19]: Ban bầu cử nhận và phân phối tài liệu, phiếu bầu cho các Tổ bầu cử.

Ngày 05/3/2026 là thời hạn chậm nhất trước 10 ngày bầu cử[20]: Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử ngừng xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử và danh sách người ứng cử.

14. Ngày bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được ấn định là ngày 15/3/2026. Sau thời điểm đó, các mốc thời gian được tính chậm nhất sau ngày 15/3/2026.

15. Gửi biên bản kiểm phiếu, biên bản kết quả bầu cử và công bố danh sách trúng cử

Ngày 18/3/2026 là thời hạn chậm nhất sau 03 ngày bầu cử[21]: Tổ bầu cử gửi biên bản kết quả kiểm phiếu đến ban bầu cử tương ứng và UBND, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp xã.

Ngày 20/3/2026 là thời hạn chậm nhất sau 05 ngày bầu cử[22]: Ban bầu cử gửi biên bản xác định kết quả bầu cử ĐBQH đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử tỉnh, Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh; gửi biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu HĐND đến Ủy ban bầu cử cùng cấp, Thường trực HĐND, UBND, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp.

Ngày 22/3/2026 là thời hạn chậm nhất sau 07 ngày bầu cử[23]: Ủy ban bầu cử cấp tỉnh gửi biên bản xác định kết quả bầu cử ĐBQH ở tỉnh, thành phố đến Hội đồng bầu cử quốc gia, UBTVQH, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh. Đây cũng là hạn cuối để bầu cử thêm, bầu cử lại theo quy định tại Điều 79, Điều 80 Luật Bầu cử.

Ngày 25/3/2026 là thời hạn chậm nhất sau 10 ngày bầu cử[24]: Hội đồng bầu cử quốc gia công bố kết quả bầu cử, danh sách trúng cử ĐBQH, Ủy ban bầu cử công bố kết quả bầu cử, danh sách trúng cử đại biểu HĐND cấp mình. Đây cũng là hạn cuối để Hội đồng bầu cử quốc gia và Ủy ban bầu cử các cấp giải quyết khiếu nại kết quả bầu cử ĐBQH, đại biểu HĐND[25].

Mỗi mốc thời gian gắn với một công việc then chốt, có tác động trực tiếp đến chất lượng đại biểu được bầu và niềm tin của Nhân dân đối với cơ chế dân chủ đại diện. Có thể nói, quy định chặt chẽ về các mốc chậm nhất là “lịch trình pháp lý” cho tiến trình bầu cử. Đây là cơ sở để các tổ chức phụ trách bầu cử chủ động triển khai công việc, phòng ngừa sự chậm trễ, bảo đảm tính đồng bộ và công bằng trong cả nước.

Hải Lam


  1. Nghị quyết ngày 21/5/2025 của Quốc hội về việc rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

  2. Khoản 1 Điều 8 và Điều 9 Luật Bầu cử.

  3. Khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 50 Luật Bầu cử.

  4. Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức hội nghị ở Trung ương, Ban Thường trực Ủy banMTTQ Việt Nam tỉnh tổ chức hội nghị ở tỉnh để thực hiện đối với bầu cử ĐBQH. Ban Thường trực Ủy ban MTTQĐoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức hội nghị ở Trung ương, Ban Thường trực Ủy ban

  5. Điều 40, Điều 51 Luật Bầu cử.

  6. Khoản 2, khoản 3 Điều 10 Luật Bầu cử.

  7. Khoản 1, khoản 2 Điều 24 Luật Bầu cử.

  8. Khoản 1 Điều 25 Luật Bầu cử.

  9. Khoản 1 Điều 35, Điều 36 Luật Bầu cử.

  10. Khoản 1 Điều 43, khoản 1 Điều 44, khoản 1 Điều 53 Luật Bầu cử.

  11. Điều 32 Luật Bầu cử.

  12. Điều 47 Luật Bầu cử.

  13. Khoản 4 Điều 46 và khoản 4 Điều 55 Luật Bầu cử.

  14. Khoản 1 Điều 48, khoản 1 Điều 49 và khoản 1 Điều 56 Luật Bầu cử.

  15. Khoản 1, khoản 2 Điều 57 và khoản 1, khoản 2 Điều 58 Luật Bầu cử.

  16. Khoản 1, khoản 2 Điều 58 và khoản 4 Điều 57 Luật Bầu cử.

  17. Điểm g khoản 1 và điểm h khoản 2 Điều 23 Luật Bầu cử.

  18. Khoản 7 Điều 57 Luật Bầu cử.

  19. Điểm d khoản 3 Điều 24 Luật Bầu cử.

  20. Khoản 2 Điều 61 Luật Bầu cử.

  21. Khoản 3 Điều 76 Luật Bầu cử.

  22. Khoản 3, khoản 4 Điều 77 Luật Bầu cử.

  23. Khoản 3 Điều 83 Luật Bầu cử.

  24. Khoản 1, khoản 2 Điều 86 Luật Bầu cử.

  25. khoản 1, khoản 2 Điều 87 Luật Bầu cử.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: