Thứ năm 09/04/2026 16:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã từ 01/7/2025

Từ ngày 01/7/2025, mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) chính thức vận hành trên thực tiễn. Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã (xã, phường, đặc khu) được tăng cường, bảo đảm phù hợp với mục tiêu chính trị của nước ta trong tình hình mới.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã từ 01/7/2025
Vị trí giao nhau của ba dòng sông lớn (sông Hồng, sông Đáy và sông Nhuệ) trên địa bàn tỉnh Ninh Bình (trước đây là tỉnh Hà Nam).

Đối với Hội đồng nhân dân xã

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã từ ngày 01/7/2025 được quy định tại: (i) Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025; (ii) 28 nghị định về phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền giữa Chính phủ và chính quyền địa phương 02 cấp ngày 11/6/2025 của Chính phủ và (iii) Các nhiệm vụ, quyền hạn nhận phân cấp từ Hội đồng nhân dân cấp trên, các nhiệm vụ quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Một là, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.

Theo quy định tại Điều 21 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Hội đồng nhân dân xã thực hiện 09 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn trong các lĩnh vực, gồm:

Trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật: (i) Quyết định biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa bàn; (ii) Quyết định chính sách, biện pháp để phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các ngành, lĩnh vực, phát triển kinh tế tư nhân và đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn theo quy định của pháp luật; (iii) Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp mình; bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, thay thế văn bản do mình ban hành khi xét thấy không còn phù hợp hoặc trái pháp luật; (iv) Đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Trong lĩnh vực tổ chức bộ máy và xây dựng chính quyền: (i) Quyết định thành lập, tổ chức lại, thay đổi tên gọi, giải thể cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp theo quy định của pháp luật; (ii) Căn cứ chỉ tiêu được chính quyền địa phương cấp tỉnh giao, quyết định cụ thể biên chế cán bộ, công chức trong các cơ quan của chính quyền địa phương cấp mình, số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý trên địa bàn; (iii) Xem xét, cho ý kiến về việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp mình; (iv) Quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn theo quy định của pháp luật; quyết định cụ thể số lượng người hoạt động không chuyên trách hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước trên địa bàn theo quy định của chính quyền địa phương cấp tỉnh; (v) Ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình; (vi) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban của Hội đồng nhân dân cấp mình, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban nhân dân cùng cấp; (vii) Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và chấp thuận việc đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật.

Trong lĩnh vực quy hoạch, kế hoạch, đầu tư, tài chính, ngân sách, liên kết, hợp tác giữa các đơn vị hành chính cấp xã: (i) Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm và hằng năm của cấp mình, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, các quy hoạch chi tiết xây dựng hạ tầng, giao thông trên địa bàn bảo đảm phù hợp, thống nhất với quy hoạch, kế hoạch của chính quyền địa phương cấp tỉnh và quy hoạch chung của cấp mình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; (ii) Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; điều chỉnh dự toán ngân sách cấp mình trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách cấp mình và các nội dung khác theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước; (iii) Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án trên địa bàn theo quy định của pháp luật về đầu tư công; quyết định biện pháp huy động sự đóng góp của Nhân dân để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, công trình công cộng, phúc lợi trên địa bàn theo quy định của pháp luật; (iv) Quyết định biện pháp thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa các đơn vị hành chính cấp xã; (v) Quyết định chương trình, biện pháp hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn theo quy định của pháp luật.

Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, thông tin, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: (i) Quyết định biện pháp, chương trình, đề án về phát triển khoa học, công nghệ, thông tin, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn; (ii) Quyết định biện pháp xây dựng chính quyền địa phương số, kinh tế số, xã hội số ở địa bàn; biện pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của chính quyền địa phương cấp mình và cung ứng dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp trên địa bàn theo quy định của pháp luật.

Trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên, môi trường, nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, xây dựng và giao thông: (i) Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp mình trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt; (ii) Quyết định biện pháp quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên nước, rừng, bảo vệ môi trường trên địa bàn theo quy hoạch, kế hoạch và quy định của pháp luật; biện pháp thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn; (iii) Quyết định biện pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, xây dựng, giao thông; biện pháp thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.

Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, thể dục, thể thao: (i) Quyết định biện pháp phát triển sự nghiệp giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; chăm sóc sức khỏe ban đầu cho Nhân dân; phát triển văn hóa, xã hội, thể dục, thể thao trên địa bàn theo quy định của pháp luật; (ii) Quyết định biện pháp thực hiện chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, giải quyết việc làm, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật.

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, dân tộc, tôn giáo: (i) Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ trên địa bàn theo quy định của pháp luật; (ii) Quyết định biện pháp thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo trên địa bàn theo quy định của pháp luật.

Giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình, Ủy ban nhân dân cùng cấp và cơ quan khác ở địa phương.

Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Hai là, nhiệm vụ, quyền hạn được phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền theo quy định tại các nghị định của Chính phủ.

Khi thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, nhiệm vụ, thẩm quyền của cấp huyện hiện nay cần phải rà soát để phân định thẩm quyền, bảo đảm không để sót nhiệm vụ khi vận hành bộ máy mới. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành 28 nghị định quy định về phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ cho chính quyền địa phương, trong đó quy định một số nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trước đây được phân định cho Hội đồng nhân dân cấp xã thực hiện (ngoài quy định tại các nghị định này, Hội đồng nhân dân cấp xã còn thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền trong các văn bản quy phạm pháp luật khác của cơ quan nhà nước ở Trung ương). Trong 28 nghị định này, Hội đồng nhân dân cấp xã được phân định thẩm quyền thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong các lĩnh vực sau:

Đối với lĩnh vực tài chính: Nghị định số 125/2025/ NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính quy định Hội đồng nhân dân cấp xã thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp huyện (trước đây) trong quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia quy định tại điểm c khoản 1, điểm a khoản 6 điểm b và điểm c khoản 7, điểm a khoản 8 Điều 4 Nghị quyết số 111/2024/QH15 (theo điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 125/2025/NĐ-CP) và khoản 5 Điều 6 Nghị định số 27/2022/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Nghị định số 38/2023/NĐ-CP) (theo điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định số 125/2025/NĐ-CP).

Đối với lĩnh vực nông nghiệp và môi trường: Nghị định số 131/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định Hội đồng nhân dân cấp xã có các nhiệm vụ, quyền hạn sau: (i) Phê duyệt phương án sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng, xét duyệt báo cáo quyết toán kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại khoản 4 Điều 70 và điểm g khoản 4 Điều 71 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 91/2024/ NĐ-CP ngày 18/7/2024 của Chính phủ (khoản 1 Điều 11 Nghị định số 131/2025/NĐ-CP); (ii) Phê duyệt kế hoạch tài chính hằng năm, báo cáo quyết toán của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại điểm d, điểm đ khoản 3 Điều 9, điểm d khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 12 Nghị định số 107/2022/NĐ-CP ngày 28/12/2022 của Chính phủ về thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (khoản 2 Điều 11 Nghị định số 131/2025/NĐ-CP); (iii) Bố trí kinh phí để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo phân cấp ngân sách hiện hành quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Luật Bảo vệ môi trường (Điều 27 Nghị định số 131/2025/NĐ-CP).

Đối với lĩnh vực xây dựng: Nghị định số 140/2025/ NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định nguồn vốn cho vay ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội đối với nguồn vốn ủy thác từ Quỹ phát triển nhà ở địa phương (nếu có), ngân sách địa phương hỗ trợ hàng năm, vốn từ phát hành trái phiếu, công trái nhà ở và từ các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật đối với ngân sách cấp huyện để thực hiện mục tiêu, kế hoạch nhà ở xã hội tại địa phương quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ (khoản 7 Điều 14).

Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Nghị định số 142/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và đào tạo quy định Hội đồng nhân dân cấp xã có các nhiệm vụ, quyền hạn sau: (i) Phê duyệt kế hoạch phát triển giáo dục trên địa bàn thuộc cấp xã quản lý theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã (điểm a khoản 1 Điều 41 Nghị định số 142/2025/NĐ-CP); (ii) Quyết định, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục của tỉnh và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (điểm c khoản 1 Điều 41 Nghị định số 142/2025/nĐ-CP).

Ba là, nhiệm vụ, quyền hạn nhận phân cấp từ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp xã thực hiện liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được giao theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy định không được phân cấp.

Việc phân cấp của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh cho Hội đồng nhân dân cấp xã phải đáp ứng các điều kiện sau: (i) Việc phân cấp phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; (ii) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp, trừ trường hợp Hội đồng nhân dân cấp xã có đề nghị và tự bảo đảm điều kiện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp.

Trong quá trình nhận phân cấp, Hội đồng nhân dân cấp xã có quyền và nghĩa vụ sau: (i) Có quyền tham gia ý kiến đối với dự thảo văn bản phân cấp; (ii) Có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh nội dung phân cấp; (iii) Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp; (iv) Định kỳ báo cáo, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp; (v) Không được phân cấp tiếp nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được phân cấp.

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định Hội đồng nhân dân cấp xã có quyền chủ động đề xuất với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về việc phân cấp cho mình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với khả năng nếu đáp ứng các yêu cầu về tài chính, nguồn nhân lực và điều kiện cần thiết khác và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân phường

Hội đồng nhân dân phường thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn như đối với Hội đồng nhân dân xã trừ quy định liên quan đến “thôn” (các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 24 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025; nhiệm vụ, quyền hạn được phân định thẩm quyền, phân cấp, phân quyền tại các nghị định của Chính phủ và nhiệm vụ, quyền hạn được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp) và thực hiện thêm các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Quyết định biện pháp để thực hiện quy hoạch đô thị, phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trên địa bàn theo quy định của pháp luật, bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển đô thị, quy hoạch chung của chính quyền địa phương cấp tỉnh.

- Quyết định các biện pháp khuyến khích phát triển kinh tế đô thị, thương mại, dịch vụ, tài chính, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo phù hợp với đặc điểm của đô thị theo quy định của pháp luật.

- Quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên tổ dân phố; quyết định cụ thể số lượng người hoạt động không chuyên trách hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước trên địa bàn theo quy định của chính quyền địa phương cấp tỉnh.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân đặc khu

Theo quy định tại Điều 27 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Hội đồng nhân dân đặc khu thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn như đối với Hội đồng nhân dân xã; đối với các đặc khu được công nhận loại đô thị theo quy định của pháp luật thì Hội đồng nhân dân đặc khu thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn như đối với Hội đồng nhân dân phường.

Đồng thời, với tính chất của “đặc khu” là các đơn vị hành chính hải đảo, có vị trí trọng yếu, chiến lược về an ninh, quốc phòng, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 quy định khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho chính quyền địa phương ở đặc khu (trong đó có Hội đồng nhân dân đặc khu) tại các văn bản quy phạm pháp luật khác phải bảo đảm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan nhà nước tại địa phương, bảo đảm linh hoạt, chủ động ứng phó khi có sự kiện, tình huống đột xuất, bất ngờ xảy ra nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên các vùng biển, hải đảo, phát huy lợi thế, tiềm năng kinh tế biển, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm thu hút người dân sinh sống, bảo vệ và phát triển hải đảo. Căn cứ phạm vi, thẩm quyền được giao, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền các nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho chính quyền địa phương ở đặc khu thực hiện ở khu vực hải đảo.

Căn cứ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và khả năng của chính quyền địa phương ở từng đặc khu, chính quyền địa phương cấp tỉnh trình Chính phủ để trình Quốc hội xem xét, quyết định cơ chế, chính sách đặc thù cho chính quyền địa phương ở từng đặc khu để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Minh Trí

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật Đức về trợ giúp người chưa thành niên trong tố tụng hình sự - Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam

Pháp luật Đức về trợ giúp người chưa thành niên trong tố tụng hình sự - Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam

Trên thực tế, hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở Liên minh châu Âu nói chung và ở Đức nói riêng đã phát triển mạng lưới dịch vụ xã hội chuyên trách, với sự tham gia của các nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần, trung gian hòa giải, nhân viên xã hội hoặc cán bộ quản chế. Tại Cộng hòa Liên bang Đức, nhiệm vụ này gọi là trợ giúp thanh thiếu niên trong tố tụng hình sự, do các chuyên gia thực hiện bằng cách cung cấp thông tin cho thẩm phán Tòa án thanh thiếu niên và hỗ trợ người chưa thành niên và gia đình họ trước, trong và sau quá trình tố tụng hình sự.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc tăng cường nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, đặc biệt, cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Truyền thông trợ giúp pháp lý cho trẻ em qua hình thức phiên tòa giả định từ thực trạng hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long

Phiên tòa giả định được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác tuyên truyền pháp luật về trợ giúp pháp lý cho trẻ em nói riêng và chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung, góp phần xây dựng đất nước công bằng, xã hội văn minh trong kỷ nguyên mới.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Một số bất cập của pháp luật về trợ giúp pháp lý và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của pháp luật về trợ giúp pháp lý và kiến nghị hoàn thiện

Việc nghiên cứu, định hướng sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, trong đó có vấn đề chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý, lĩnh vực thực hiện trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý được xây dựng trên nền tảng pháp lý vững chắc, đồng thời, chịu sự tác động mạnh mẽ từ yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng của Việt Nam.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình

Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Căn cứ Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và những yêu cầu, đòi hỏi mới của Đảng và Nhà nước đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), qua nghiên cứu, tổng hợp ý kiến của một số đối tượng liên quan, Bộ Tư pháp dự kiến 06 nhóm chính sách cơ bản đưa vào dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý”

Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý”

Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý”
Nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ ở cơ sở và lực lượng có liên quan tại tỉnh An Giang

Nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ ở cơ sở và lực lượng có liên quan tại tỉnh An Giang

Thực hiện Kế hoạch công tác năm 2025 của Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý ban hành kèm theo Quyết định số 1133/QĐ-BTP ngày 02/4/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, ngày 08 - 09/12/2025, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý phối hợp với Sở Tư pháp tỉnh An Giang tổ chức các hội nghị tập huấn nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ ở cơ sở và các đối tượng có liên quan tại các xã Ô Lâm, Ba Chúc, Cô Tô, Tri Tôn, An Cư và Núi Cấm tỉnh An Giang. Đây là một trong những hoạt động trọng tâm nhằm tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Khmer - nhóm đối tượng chiếm tỷ lệ lớn tại khu vực.

Theo dõi chúng tôi trên: