Thứ ba 13/01/2026 21:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

Thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong những năm qua, với tốc độ tăng trưởng trung bình 20 - 30%/năm trong cả giai đoạn, đóng góp khoảng 11% tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của cả nước năm 2025. TMĐT ngày càng trở thành một động lực quan trọng của kinh tế số, tác động sâu rộng đến phương thức sản xuất, phân phối và tiêu dùng.

Tuy nhiên, hiện nay, hoạt động TMĐT chủ yếu được điều chỉnh bởi các văn bản ở cấp nghị định, chưa đủ hiệu lực pháp lý để điều chỉnh toàn diện các vấn đề quan trọng, mang tính đa ngành, phức tạp ngày càng gia tăng trong lĩnh vực TMĐT. Thực tiễn triển khai cũng cho thấy còn tồn tại nhiều bất cập.

Chính vì vậy, việc ban hành Luật Thương mại điện tử là yêu cầu khách quan và cấp thiết, kịp thời thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước tại các nghị quyết, chỉ đạo lớn, phù hợp với sự thay đổi nhanh của bối cảnh kinh tế - xã hội và xu hướng hội nhập quốc tế; đồng thời xuất phát từ việc nhận diện những hạn chế, bất cập sau hơn 12 năm ban hành và tổ chức thực hiện các nghị định về TMĐT.

Một số điểm mới, nổi bật của Luật như sau:

Định vị pháp lý rõ ràng các mô hình nền tảng thương mai điện tử

Luật lần đầu tiên phân loại cụ thể 04 loại hình nền tảng, gồm: (i) Nền tảng TMĐT kinh doanh trực tiếp; (ii) Nền tảng TMĐT trung gian; (iii) Mạng xã hội hoạt động TMĐT; (iv) Nền tảng TMĐT tích hợp.

Như vậy, Luật không chỉ áp dụng cho các sàn TMĐT truyền thống mà còn bao gồm mạng xã hội có chức năng thương mại, nền tảng thương mại điện tử tích hợp và các mô hình số khác[1].

Việc phân loại này là cơ sở quan trọng để xác định chính xác trách nhiệm pháp lý tương ứng của từng chủ thể, phù hợp với vai trò và mức độ can thiệp trong giao dịch.

Đối với nền tảng TMĐT thông thường, việc định danh người bán trên nền tảng là bắt buộc nhằm tăng tính minh bạch và trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động thương mại trực tuyến. Trong khi đó, các nền tảng TMĐT lớn ngoài việc định danh còn phải tăng cường cơ chế xử lý khiếu nại, lưu trữ thông tin giao dịch một cách an toàn và phối hợp cung cấp dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước khi cần thiết[2].

Quy định rõ trách nhiệm trong hoạt động livestream bán hàng

Luật Thương mại điện tử bổ sung quy định về livestream bán hàng và tiếp thị liên kết. Đây là các nội dung hoàn toàn mới nhằm lấp đầy khoảng trống pháp lý.

Theo đó, các điều 22, 23, 24 quy định rõ trách nhiệm của chủ quản nền tảng TMĐT, người bán và người livestream bán hàng với nhiều nội dung đáng chú ý. Cụ thể:

Chủ quản nền tảng có trách nhiệm xác thực điện tử danh tính người livestream bán hàng. Trường hợp người livestream bán hàng là người nước ngoài thì xác thực danh tính thông qua các giấy tờ hợp pháp. Đồng thời, thiết lập cơ chế tiếp nhận và giải quyết phản ánh, khiếu nại trong suốt quá trình livestream và lưu trữ dữ liệu hình ảnh, âm thanh theo quy định.

Trước khi thực hiện livestream bán hàng, người bán phải cung cấp đầy đủ cho người livestream giấy tờ chứng minh đáp ứng điều kiện đầu tư kinh doanh (đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện), đáp ứng chất lượng sản phẩm, hàng hóa; dừng hợp tác, gỡ bỏ thông tin ngay khi phát hiện về hành vi vi phạm.

Người livestream không được cung cấp thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn về công dụng, xuất xứ, chất lượng, giá cả… hàng hóa. Người livestream cần lưu ý không được sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, trang phục, hành vi trái đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục trong quá trình livestream.

Bên cạnh đó, Điều 25 Luật Thương mại điện tử quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tiếp thị liên kết trong TMĐT như phải xác thực điện tử danh tính người tiếp thị liên kết; ngăn chặn, gỡ bỏ liên kết cho hàng hóa, dịch vụ vi phạm pháp luật…

Tăng cường quản lý hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới

Luật Thương mại điện tử quy định các nền tảng TMĐT nước ngoài có sử dụng tiếng Việt, tên miền “.vn” hoặc đạt ngưỡng giao dịch nhất định tại Việt Nam phải thành lập pháp nhân hoặc chỉ định đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam.

Đối với chủ quản nền tảng nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam, Luật quy định nghĩa vụ ký quỹ tại ngân hàng nhằm bảo đảm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, bảo đảm công bằng giữa các chủ thể trong và ngoài nước, phù hợp với thông lệ và cam kết quốc tế.

Tăng cường bảo vệ người tiêu dùng

Luật yêu cầu các nền tảng TMĐT công khai đầy đủ thông tin về chủ sở hữu, chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, cũng như các tiêu chí chính của thuật toán ưu tiên hiển thị hàng hóa. Người bán chỉ được phép hoạt động sau khi đã được xác thực danh tính điện tử, góp phần nâng cao niềm tin và mức độ an toàn cho người tiêu dùng.

Ngoài ra, hoàn thiện hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ TMĐT cũng là một nội dung mới trong Luật Thương mại điện tử. Luật bổ sung quy định đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ TMĐT, gồm dịch vụ hạ tầng kỹ thuật, thanh toán, trung gian thanh toán, logistics và chứng thực hợp đồng điện tử. Các tổ chức này có trách nhiệm bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin và phối hợp với chủ quản nền tảng trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật.

Thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân gắn với đổi mới sáng tạo

Quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước, Luật Thương mại điện tử được xây dựng theo hướng kiến tạo, lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm, bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật. Luật tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, ổn định và bình đẳng, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân đầu tư, ứng dụng công nghệ, đổi mới mô hình kinh doanh và tham gia sâu vào TMĐT.

Luật còn quy định các chính sách hỗ trợ đặc thù nhằm bảo đảm tính bao trùm. Theo đó, Nhà nước có chính sách hỗ trợ về kết nối hạ tầng, đào tạo, tiếp cận nền tảng và thực hiện thủ tục hành chính cho các đối tượng như hộ kinh doanh, cá nhân khởi nghiệp sáng tạo, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số và các tổ chức, cá nhân tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, qua đó mở rộng cơ hội tham gia TMĐT cho toàn xã hội.

Định hướng phát triển thương mại điện tử xanh và bền vững

Lần đầu tiên, Luật đưa vào các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển hạ tầng TMĐT theo hướng giảm phát thải, sử dụng bao bì thân thiện với môi trường và tối ưu hóa hoạt động logistics, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

[1] Duy Minh, Luật Thương mại điện tử 2025: Mở rộng phạm vi điều chỉnh, bảo vệ người tiêu dùng trên không gian số, https://baovephapluat.vn/kinh-te/kinh-doanh-phap-luat/luat-thuong-mai-dien-tu-2025-mo-rong-pham-vi-dieu-chinh-bao-ve-nguoi-tieu-dung-tren-khong-gian-so-190806.html, truy cập ngày 09/01/2026.

[2] Duy Minh, tlđd.

(Ảnh: Internet)

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.

Theo dõi chúng tôi trên: