Thứ ba 22/09/2026 15:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục
PGS.TS. Đào Thanh Trường tại Hội nghị tổng kết VNU

PV: Thưa Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt ra nhiều yêu cầu mới về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Với Đại học Quốc gia Hà Nội, đâu là quan điểm cốt lõi trong xây dựng con người cho kỷ nguyên mới?

PGS.TS. Đào Thanh Trường: Nghị quyết số 71-NQ/TW được xem là dấu mốc quan trọng trong tư duy phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng, khi đặt vấn đề phát triển con người ở vị trí trung tâm của mọi chiến lược. Nghị quyết không chỉ xác định “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”, mà còn nhấn mạnh, làm rõ hơn việc hình thành con người Việt Nam phát triển toàn diện, có trí tuệ, nhân cách, bản lĩnh, khả năng đổi mới sáng tạo và tinh thần phụng sự, trách nhiệm xã hội, đủ năng lực dẫn dắt sự phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Để hiện thực hóa quan điểm này, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện bước chuyển đổi chiến lược, thúc đẩy “học sâu” dựa trên nghiên cứu, tận dụng công nghệ, chuẩn bị cho người học những phẩm chất và năng lực cốt yếu trong kỷ nguyên số. Chúng tôi xác định rõ, đào tạo đại học không chỉ nhằm trang bị kiến thức chuyên môn, mà quan trọng hơn là hình thành tư duy khoa học, năng lực phản biện, khả năng học tập suốt đời và hệ giá trị nhân văn bền vững cho người học.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tri thức có thể nhanh chóng trở nên lạc hậu, nên tư duy, phẩm chất và năng lực tự thích ứng mới là yếu tố quyết định. Vì vậy, Đại học Quốc gia Hà Nội đặc biệt coi trọng việc chuyển từ mô hình đào tạo “truyền thụ kiến thức” sang mô hình phát triển năng lực toàn diện, trong đó, người học được đặt vào vị trí trung tâm, chủ động kiến tạo tri thức thông qua nghiên cứu, trải nghiệm và giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, Đại học Quốc gia Hà Nội đã và đang đẩy mạnh đào tạo theo hướng liên ngành, xuyên ngành; kết hợp chặt chẽ giữa khoa học cơ bản, khoa học - công nghệ với khoa học xã hội - nhân văn và quản trị hiện đại. Nhiều chương trình đào tạo được thiết kế linh hoạt, cho phép sinh viên lựa chọn lộ trình học tập phù hợp với năng lực và định hướng nghề nghiệp cá nhân, đồng thời, tăng cường các học phần về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội.

Đại học Quốc gia Hà Nội xác định, con người của kỷ nguyên mới không chỉ là người “giỏi nghề”, mà còn là người hiểu việc, hiểu người và hiểu chính mình; có khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế, biết trân trọng và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Trên cơ sở đó, Đại học Quốc gia Hà Nội đang từng bước xây dựng môi trường giáo dục toàn diện, nơi tri thức, kỹ năng và giá trị cùng được nuôi dưỡng, qua đó hình thành thế hệ trí thức trẻ có khát vọng cống hiến, tinh thần phụng sự và ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của đất nước.

PV: Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp được xác định là hai trụ cột quan trọng của hệ thống phát triển nhân lực quốc gia. Theo ông, cần ưu tiên những khâu nào để nâng cao chất lượng đào tạo?

PGS.TS. Đào Thanh Trường: Tôi cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp cần được nhìn nhận như hai cấu phần quan trọng trong một hệ sinh thái phát triển nhân lực thống nhất, có sự phân tầng hợp lý, liên thông, linh hoạt và bổ trợ lẫn nhau. Mục tiêu không chỉ đào tạo đủ số lượng, mà quan trọng hơn, cần nâng cao chất lượng, khả năng thích ứng và tính bền vững của nguồn nhân lực.

Theo đó, có ba khâu ưu tiên then chốt cần tập trung triển khai đồng bộ.

Thứ nhất, đổi mới căn bản chương trình và phương thức đào tạo. Giáo dục đại học cần nhanh chóng tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, đồng thời, gắn chặt với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc cập nhật các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, công nghệ bán dẫn, năng lượng tái tạo, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn là yêu cầu tất yếu. Đại học Quốc gia Hà Nội đã thiết kế nhiều chương trình đào tạo theo hướng chuẩn đầu ra dựa trên năng lực, tăng cường học tập trải nghiệm, nghiên cứu khoa học và dự án thực tiễn, thay cho cách tiếp cận nặng về lý thuyết như trước đây.

Thứ hai, tăng cường mối liên kết chặt chẽ giữa nhà trường - doanh nghiệp - viện nghiên cứu. Chất lượng đào tạo chỉ được bảo đảm nếu quá trình đào tạo gắn liền với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo và đánh giá kết quả học tập. Đại học Quốc gia Hà Nội đang từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, trong đó, sinh viên không chỉ học trong giảng đường mà còn tham gia giải quyết các bài toán thực tế của doanh nghiệp, địa phương và xã hội.

Thứ ba, phát triển đội ngũ giảng viên và nhà khoa học chất lượng cao. Giảng viên là yếu tố then chốt quyết định chất lượng giáo dục. Do đó, cần có cơ chế đủ mạnh để thu hút, trọng dụng và giữ chân nhân tài; đồng thời, tạo điều kiện để giảng viên nâng cao năng lực nghiên cứu, giảng dạy liên ngành và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh chuyển đổi số, giảng viên không chỉ là người truyền đạt tri thức mà còn là người dẫn dắt, truyền cảm hứng, định hướng học tập và nghiên cứu cho người học.

Khi ba khâu này được triển khai đồng bộ, nhất quán và có chiều sâu, giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp mới thực sự trở thành động lực quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.

PV: Chủ trương sáp nhập các cơ sở giáo dục, đặc biệt trong mạng lưới trường đại học và trường nghề, đang thu hút nhiều sự quan tâm. Theo ông, cần nhìn nhận vấn đề này như thế nào để bảo đảm nâng cao chất lượng đào tạo?

PGS.TS. Đào Thanh Trường: Chủ trương sáp nhập các cơ sở giáo dục là chủ trương lớn và cần được đặt trong tổng thể chiến lược tái cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng tinh, gọn, hiệu quả và nâng cao chất lượng. Trên thế giới, nhiều quốc gia đã thực hiện sáp nhập nhằm hình thành các cơ sở giáo dục có quy mô đủ lớn, năng lực nghiên cứu mạnh và khả năng cạnh tranh quốc tế cao. Tuy nhiên, cần khẳng định rõ, sáp nhập không phải là mục tiêu, mà là giải pháp quản lý và chỉ phát huy hiệu quả khi được triển khai trên cơ sở khoa học cũng như thực tiễn vững chắc.

Để bảo đảm chất lượng đào tạo, theo tôi, cần đặc biệt lưu ý ba vấn đề cốt lõi.

Thứ nhất, lấy người học làm trung tâm. Việc sáp nhập không được gây xáo trộn tiêu cực đến quá trình học tập, nghiên cứu và phát triển của người học. Ngược lại, phải tạo ra môi trường giáo dục tốt hơn, nơi người học được tiếp cận chương trình đào tạo chất lượng cao, đội ngũ giảng viên giỏi và cơ sở vật chất, hạ tầng hiện đại hơn.

Thứ hai, đổi mới thực chất mô hình quản trị sau sáp nhập. Nếu chỉ sáp nhập về mặt tổ chức hành chính mà không tái cấu trúc chương trình đào tạo, đội ngũ nhân sự và cơ chế vận hành thì rất khó đạt được hiệu quả cao. Cần xây dựng mô hình quản trị hiện đại, tinh, gọn, phân quyền rõ ràng, gắn với trách nhiệm giải trình, đồng thời, tạo dư địa cho các đơn vị thành viên phát huy tính tự chủ, đổi mới sáng tạo.

Thứ ba, bảo đảm tính kế thừa và phát triển thương hiệu học thuật. Mỗi cơ sở giáo dục đều có lịch sử hình thành, truyền thống và thế mạnh riêng. Quá trình sáp nhập cần tôn trọng và phát huy những giá trị đó, tránh làm mất bản sắc học thuật đã được khẳng định. Nếu được thực hiện bài bản, khoa học, có lộ trình phù hợp, sáp nhập sẽ góp phần hình thành các tổ hợp đào tạo - nghiên cứu mạnh, có khả năng thu hút nhân tài, nâng cao nguồn lực, mở rộng hợp tác và nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

Chính vì vậy, sáp nhập chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn liền với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng. Với cách tiếp cận đúng đắn, đây sẽ là một trong những giải pháp quan trọng để xây dựng hệ thống giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hiện đại, hiệu quả và phát triển bền vững.

PV: Từ thực tiễn hoạt động của Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Giáo sư, Tiến sĩ có kiến nghị gì với Bộ Tư pháp nhằm tăng cường phối hợp, góp phần hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật trong giai đoạn tới?

PGS.TS. Đào Thanh Trường: Từ thực tiễn hoạt động của Đại học Quốc gia Hà Nội - trung tâm đào tạo lớn nhất của đất nước, nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, chúng tôi nhận thấy, công tác pháp chế và giáo dục pháp luật ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản trị đại học, cũng như trong việc hình thành ý thức văn hóa tuân thủ pháp luật cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên. Trên cơ sở đó, tôi xin đề xuất một số kiến nghị với Bộ Tư pháp trong thời gian tới.

Thứ nhất, tiếp tục tăng cường cơ chế phối hợp chặt chẽ, thực chất giữa Bộ Tư pháp với các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là các đại học quốc gia và đại học vùng, trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế. Các cơ sở giáo dục đại học, với lợi thế về đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, dữ liệu nghiên cứu, có thể tham gia sâu hơn vào quá trình nghiên cứu chính sách, góp ý dự thảo chính sách, pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là trong các lĩnh vực mới, phức tạp như chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, giáo dục đại học, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thứ hai, đẩy mạnh phối hợp trong công tác pháp chế và phổ biến, giáo dục pháp luật trong hệ thống giáo dục đại học. Bộ Tư pháp có thể tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị pháp chế trong các cơ sở giáo dục đại học; phối hợp xây dựng các mô hình, chương trình giáo dục pháp luật phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là sinh viên. Việc giáo dục pháp luật cần được triển khai theo hướng thiết thực, gắn với thực tiễn đời sống, nghề nghiệp và trách nhiệm công dân, góp phần hình thành văn hóa thượng tôn pháp luật trong môi trường giáo dục đại học.

Thứ ba, khuyến khích, tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học tham gia nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực pháp luật và pháp chế chất lượng cao. Đại học Quốc gia Hà Nội sẵn sàng phối hợp với Bộ Tư pháp trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác pháp chế, cán bộ tư pháp - pháp luật theo hướng liên ngành, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình xây dựng, thi hành pháp luật trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

Thứ tư, tăng cường đặt hàng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật đối với các cơ sở giáo dục đại học. Thông qua các đề tài, chương trình nghiên cứu chung, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học sẽ góp phần cung cấp luận cứ khoa học, thực tiễn cho công tác hoạch định chính sách, đồng thời, rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn xây dựng, thi hành pháp luật.

Chúng tôi tin tưởng rằng, với sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, hiệu quả giữa Bộ Tư pháp và các cơ sở giáo dục đại học, trong đó có Đại học Quốc gia Hà Nội, công tác pháp chế, xây dựng, thi hành pháp luật, cũng như giáo dục pháp luật trong trường đại học sẽ ngày càng đi vào chiều sâu, đạt chất lượng, hiệu quả cao, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh, hiện đại, hội nhập và phát triển.

PV: Trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ!

An Ngô

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: