Thứ năm 18/06/2026 03:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục
PGS.TS. Đào Thanh Trường tại Hội nghị tổng kết VNU

PV: Thưa Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt ra nhiều yêu cầu mới về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Với Đại học Quốc gia Hà Nội, đâu là quan điểm cốt lõi trong xây dựng con người cho kỷ nguyên mới?

PGS.TS. Đào Thanh Trường: Nghị quyết số 71-NQ/TW được xem là dấu mốc quan trọng trong tư duy phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng, khi đặt vấn đề phát triển con người ở vị trí trung tâm của mọi chiến lược. Nghị quyết không chỉ xác định “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực”, mà còn nhấn mạnh, làm rõ hơn việc hình thành con người Việt Nam phát triển toàn diện, có trí tuệ, nhân cách, bản lĩnh, khả năng đổi mới sáng tạo và tinh thần phụng sự, trách nhiệm xã hội, đủ năng lực dẫn dắt sự phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Để hiện thực hóa quan điểm này, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện bước chuyển đổi chiến lược, thúc đẩy “học sâu” dựa trên nghiên cứu, tận dụng công nghệ, chuẩn bị cho người học những phẩm chất và năng lực cốt yếu trong kỷ nguyên số. Chúng tôi xác định rõ, đào tạo đại học không chỉ nhằm trang bị kiến thức chuyên môn, mà quan trọng hơn là hình thành tư duy khoa học, năng lực phản biện, khả năng học tập suốt đời và hệ giá trị nhân văn bền vững cho người học.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tri thức có thể nhanh chóng trở nên lạc hậu, nên tư duy, phẩm chất và năng lực tự thích ứng mới là yếu tố quyết định. Vì vậy, Đại học Quốc gia Hà Nội đặc biệt coi trọng việc chuyển từ mô hình đào tạo “truyền thụ kiến thức” sang mô hình phát triển năng lực toàn diện, trong đó, người học được đặt vào vị trí trung tâm, chủ động kiến tạo tri thức thông qua nghiên cứu, trải nghiệm và giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, Đại học Quốc gia Hà Nội đã và đang đẩy mạnh đào tạo theo hướng liên ngành, xuyên ngành; kết hợp chặt chẽ giữa khoa học cơ bản, khoa học - công nghệ với khoa học xã hội - nhân văn và quản trị hiện đại. Nhiều chương trình đào tạo được thiết kế linh hoạt, cho phép sinh viên lựa chọn lộ trình học tập phù hợp với năng lực và định hướng nghề nghiệp cá nhân, đồng thời, tăng cường các học phần về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội.

Đại học Quốc gia Hà Nội xác định, con người của kỷ nguyên mới không chỉ là người “giỏi nghề”, mà còn là người hiểu việc, hiểu người và hiểu chính mình; có khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế, biết trân trọng và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Trên cơ sở đó, Đại học Quốc gia Hà Nội đang từng bước xây dựng môi trường giáo dục toàn diện, nơi tri thức, kỹ năng và giá trị cùng được nuôi dưỡng, qua đó hình thành thế hệ trí thức trẻ có khát vọng cống hiến, tinh thần phụng sự và ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của đất nước.

PV: Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp được xác định là hai trụ cột quan trọng của hệ thống phát triển nhân lực quốc gia. Theo ông, cần ưu tiên những khâu nào để nâng cao chất lượng đào tạo?

PGS.TS. Đào Thanh Trường: Tôi cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp cần được nhìn nhận như hai cấu phần quan trọng trong một hệ sinh thái phát triển nhân lực thống nhất, có sự phân tầng hợp lý, liên thông, linh hoạt và bổ trợ lẫn nhau. Mục tiêu không chỉ đào tạo đủ số lượng, mà quan trọng hơn, cần nâng cao chất lượng, khả năng thích ứng và tính bền vững của nguồn nhân lực.

Theo đó, có ba khâu ưu tiên then chốt cần tập trung triển khai đồng bộ.

Thứ nhất, đổi mới căn bản chương trình và phương thức đào tạo. Giáo dục đại học cần nhanh chóng tiếp cận các chuẩn mực quốc tế, đồng thời, gắn chặt với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc cập nhật các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, công nghệ bán dẫn, năng lượng tái tạo, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn là yêu cầu tất yếu. Đại học Quốc gia Hà Nội đã thiết kế nhiều chương trình đào tạo theo hướng chuẩn đầu ra dựa trên năng lực, tăng cường học tập trải nghiệm, nghiên cứu khoa học và dự án thực tiễn, thay cho cách tiếp cận nặng về lý thuyết như trước đây.

Thứ hai, tăng cường mối liên kết chặt chẽ giữa nhà trường - doanh nghiệp - viện nghiên cứu. Chất lượng đào tạo chỉ được bảo đảm nếu quá trình đào tạo gắn liền với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo và đánh giá kết quả học tập. Đại học Quốc gia Hà Nội đang từng bước hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, trong đó, sinh viên không chỉ học trong giảng đường mà còn tham gia giải quyết các bài toán thực tế của doanh nghiệp, địa phương và xã hội.

Thứ ba, phát triển đội ngũ giảng viên và nhà khoa học chất lượng cao. Giảng viên là yếu tố then chốt quyết định chất lượng giáo dục. Do đó, cần có cơ chế đủ mạnh để thu hút, trọng dụng và giữ chân nhân tài; đồng thời, tạo điều kiện để giảng viên nâng cao năng lực nghiên cứu, giảng dạy liên ngành và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh chuyển đổi số, giảng viên không chỉ là người truyền đạt tri thức mà còn là người dẫn dắt, truyền cảm hứng, định hướng học tập và nghiên cứu cho người học.

Khi ba khâu này được triển khai đồng bộ, nhất quán và có chiều sâu, giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp mới thực sự trở thành động lực quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.

PV: Chủ trương sáp nhập các cơ sở giáo dục, đặc biệt trong mạng lưới trường đại học và trường nghề, đang thu hút nhiều sự quan tâm. Theo ông, cần nhìn nhận vấn đề này như thế nào để bảo đảm nâng cao chất lượng đào tạo?

PGS.TS. Đào Thanh Trường: Chủ trương sáp nhập các cơ sở giáo dục là chủ trương lớn và cần được đặt trong tổng thể chiến lược tái cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng tinh, gọn, hiệu quả và nâng cao chất lượng. Trên thế giới, nhiều quốc gia đã thực hiện sáp nhập nhằm hình thành các cơ sở giáo dục có quy mô đủ lớn, năng lực nghiên cứu mạnh và khả năng cạnh tranh quốc tế cao. Tuy nhiên, cần khẳng định rõ, sáp nhập không phải là mục tiêu, mà là giải pháp quản lý và chỉ phát huy hiệu quả khi được triển khai trên cơ sở khoa học cũng như thực tiễn vững chắc.

Để bảo đảm chất lượng đào tạo, theo tôi, cần đặc biệt lưu ý ba vấn đề cốt lõi.

Thứ nhất, lấy người học làm trung tâm. Việc sáp nhập không được gây xáo trộn tiêu cực đến quá trình học tập, nghiên cứu và phát triển của người học. Ngược lại, phải tạo ra môi trường giáo dục tốt hơn, nơi người học được tiếp cận chương trình đào tạo chất lượng cao, đội ngũ giảng viên giỏi và cơ sở vật chất, hạ tầng hiện đại hơn.

Thứ hai, đổi mới thực chất mô hình quản trị sau sáp nhập. Nếu chỉ sáp nhập về mặt tổ chức hành chính mà không tái cấu trúc chương trình đào tạo, đội ngũ nhân sự và cơ chế vận hành thì rất khó đạt được hiệu quả cao. Cần xây dựng mô hình quản trị hiện đại, tinh, gọn, phân quyền rõ ràng, gắn với trách nhiệm giải trình, đồng thời, tạo dư địa cho các đơn vị thành viên phát huy tính tự chủ, đổi mới sáng tạo.

Thứ ba, bảo đảm tính kế thừa và phát triển thương hiệu học thuật. Mỗi cơ sở giáo dục đều có lịch sử hình thành, truyền thống và thế mạnh riêng. Quá trình sáp nhập cần tôn trọng và phát huy những giá trị đó, tránh làm mất bản sắc học thuật đã được khẳng định. Nếu được thực hiện bài bản, khoa học, có lộ trình phù hợp, sáp nhập sẽ góp phần hình thành các tổ hợp đào tạo - nghiên cứu mạnh, có khả năng thu hút nhân tài, nâng cao nguồn lực, mở rộng hợp tác và nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

Chính vì vậy, sáp nhập chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn liền với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng. Với cách tiếp cận đúng đắn, đây sẽ là một trong những giải pháp quan trọng để xây dựng hệ thống giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hiện đại, hiệu quả và phát triển bền vững.

PV: Từ thực tiễn hoạt động của Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Giáo sư, Tiến sĩ có kiến nghị gì với Bộ Tư pháp nhằm tăng cường phối hợp, góp phần hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật trong giai đoạn tới?

PGS.TS. Đào Thanh Trường: Từ thực tiễn hoạt động của Đại học Quốc gia Hà Nội - trung tâm đào tạo lớn nhất của đất nước, nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, chúng tôi nhận thấy, công tác pháp chế và giáo dục pháp luật ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản trị đại học, cũng như trong việc hình thành ý thức văn hóa tuân thủ pháp luật cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên. Trên cơ sở đó, tôi xin đề xuất một số kiến nghị với Bộ Tư pháp trong thời gian tới.

Thứ nhất, tiếp tục tăng cường cơ chế phối hợp chặt chẽ, thực chất giữa Bộ Tư pháp với các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là các đại học quốc gia và đại học vùng, trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế. Các cơ sở giáo dục đại học, với lợi thế về đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, dữ liệu nghiên cứu, có thể tham gia sâu hơn vào quá trình nghiên cứu chính sách, góp ý dự thảo chính sách, pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là trong các lĩnh vực mới, phức tạp như chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, giáo dục đại học, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thứ hai, đẩy mạnh phối hợp trong công tác pháp chế và phổ biến, giáo dục pháp luật trong hệ thống giáo dục đại học. Bộ Tư pháp có thể tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị pháp chế trong các cơ sở giáo dục đại học; phối hợp xây dựng các mô hình, chương trình giáo dục pháp luật phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là sinh viên. Việc giáo dục pháp luật cần được triển khai theo hướng thiết thực, gắn với thực tiễn đời sống, nghề nghiệp và trách nhiệm công dân, góp phần hình thành văn hóa thượng tôn pháp luật trong môi trường giáo dục đại học.

Thứ ba, khuyến khích, tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học tham gia nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực pháp luật và pháp chế chất lượng cao. Đại học Quốc gia Hà Nội sẵn sàng phối hợp với Bộ Tư pháp trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác pháp chế, cán bộ tư pháp - pháp luật theo hướng liên ngành, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình xây dựng, thi hành pháp luật trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

Thứ tư, tăng cường đặt hàng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật đối với các cơ sở giáo dục đại học. Thông qua các đề tài, chương trình nghiên cứu chung, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học sẽ góp phần cung cấp luận cứ khoa học, thực tiễn cho công tác hoạch định chính sách, đồng thời, rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn xây dựng, thi hành pháp luật.

Chúng tôi tin tưởng rằng, với sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, hiệu quả giữa Bộ Tư pháp và các cơ sở giáo dục đại học, trong đó có Đại học Quốc gia Hà Nội, công tác pháp chế, xây dựng, thi hành pháp luật, cũng như giáo dục pháp luật trong trường đại học sẽ ngày càng đi vào chiều sâu, đạt chất lượng, hiệu quả cao, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh, hiện đại, hội nhập và phát triển.

PV: Trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ!

An Ngô

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.

Theo dõi chúng tôi trên: