Thứ sáu 28/08/2026 11:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi - Thực trạng và một số kiến nghị

Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích quy định của pháp luật về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, đồng thời nêu lên thực trạng công tác đấu tranh phòng, chống và chỉ ra hạn chế, bất cập của quy định pháp luật về tội phạm dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, từ đó, đề xuất, kiến nghị một số nội dung liên quan đến vấn đề này.

1. Quy định của pháp luật về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Theo Điều 1 Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 thì: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Tuy nhiên, cũng tại điều này, Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 cũng chỉ ra rằng: “Căn cứ đặc điểm lịch sử, phong tục tập quán và các điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia để quy định về độ tuổi của trẻ em, nhưng không được quá 18 tuổi”. Vì vậy, Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam (Điều 1) quy định độ tuổi của trẻ em dưới 16 tuổi là không trái với quy định của Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989.

Cùng với sự phát triển về thể chất, thông qua hoạt động thực tiễn, nhận thức của con người cũng dần được hoàn thiện hơn. Chỉ đến khi đạt độ tuổi nhất định thì con người mới có đầy đủ năng lực nhận thức trách nhiệm về hành vi của mình. Ở độ tuổi trẻ em dưới 16 tuổi sẽ chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và trí tuệ, chưa có đủ kiến thức xã hội, vì vậy, cần phải được quan tâm chăm sóc đặc biệt và được bảo vệ về mặt pháp lý.

Chính vì trẻ em chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần nên rất dễ bị dụ dỗ, lôi kéo vào con đường phạm tội hoặc dễ bị xâm hại bởi hành vi phạm tội. Một trong những hành vi xâm hại mang tính chất nguy hiểm cao, ảnh hưởng đến tâm lý, thể chất của trẻ em là các hành vi hiếp dâm hoặc dâm ô.

Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) quy định cụ thể về các tội xâm phạm tình dục, đặc biệt là các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong đó, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi được quy định tại Điều 146, đây là hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự, sự phát triển bình thường về thể chất, tâm sinh lý của người dưới 16 tuổi.

Khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Như vậy, các hành vi của người phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi phải là chưa hoặc không có mục đích giao cấu. Nếu có ý định giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân nhưng không giao cấu hoặc không thực hiện hành vi đó được thì không phải là hành vi dâm ô, mà tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ 13 đến dưới 16 tuổi hoặc tội giao cấu với người dưới 16 tuổi. Trẻ em bị dâm ô có thể đồng tình, tự nguyện hoặc bị cưỡng ép thực hiện hành vi dâm ô với người phạm tội. Việc tự nguyện của nạn nhân không phải là căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, bởi lẽ, độ tuổi và nhận thức của nạn nhân còn rất non nớt, chưa được xem là đủ hiểu biết, đủ trưởng thành, đủ chín chắn để nhìn nhận được việc bản thân đang bị xâm hại. Vì vậy, việc xử lý hành vi dâm ô không xem xét về yếu tố tự nguyện của nạn nhân mà điều quan trọng nhất là độ tuổi của nạn nhân.

Đối tượng của hành vi dâm ô ở tội này là trẻ em. Trẻ em có thể bị hành vi dâm ô tác động đến thân thể nhưng cũng có thể chỉ bị chứng kiến những hành vi dâm ô. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là tội có cấu thành hình thức, nghĩa là không căn cứ vào hậu quả và những tổn hại của nạn nhân từ hành vi dâm ô gây ra mà chỉ xét về hành vi vi phạm của người thực hiện tội phạm để xác định trách nhiệm hình sự. Trường hợp người có ý định dâm ô nhưng chưa có hành vi cụ thể nào thể hiện ý định dâm ô thì không cấu thành tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.

Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng không mô tả cụ thể hành vi của tội phạm mà chỉ quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi…”. Việc không mô tả cụ thể hành vi phạm tội của tội phạm này thể hiện văn hóa pháp lý của Nhà nước ta. Theo đó, nhà làm luật tránh mô tả các từ ngữ nhạy cảm trong Bộ luật Hình sự năm 2015 mà sẽ mô tả, giải thích trong các văn bản hướng dẫn. Theo Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi (Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP) thì hành vi dâm ô là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục.

Chủ thể của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi có thể là nam hoặc nữ, nhưng chủ yếu là nam và là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự. Người phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Tùy vào mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội gây ra mà người phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo 01 trong 04 khung hình phạt tương ứng với 01 trong 04 khoản được quy định tại Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Thực trạng tội phạm dâm ô đối với người dưới 16 tuổi ở Việt Nam hiện nay

Theo Báo cáo của Bộ Công an từ năm 2018 đến năm 2022, trên cả nước đã xảy ra 55.127 vụ xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn cả nước. Trong đó, có 14.501 vụ dâm ô với người dưới 16 tuổi (chiếm 26,30%); trung bình mỗi năm phát hiện 1.450 vụ, cụ thể: Năm 2018, phát hiện 1.011 vụ, điều tra, khám phá 731 vụ (chiếm 71,95%); năm 2019, phát hiện 1.969 vụ, điều tra, khám phá 1.284 vụ (chiếm 64,91%); năm 2020, phát hiện 1.471 vụ, điều tra, khám phá 975 vụ (chiếm 66,10%); năm 2021, phát hiện 1.830 vụ, điều tra, khám phá 1.103 vụ (chiếm 60,17%); năm 2022, phát hiện 1.118 vụ, điều tra, khám phá 879 vụ (chiếm 78,41%). Điều này cho thấy, tội phạm dâm ô đối với người dưới 16 tuổi xảy ra ở mức cao, cần phải có biện pháp đủ mạnh để đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. Qua nghiên cứu điển hình 620 đối tượng phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi cho thấy: (i) Về cư trú: Các đối tượng phạm tội chủ yếu có địa bàn cư trú trong các tỉnh, có 513 đối tượng, chiếm 82,74%; 107 đối tượng thường trú ở ngoài tỉnh, chiếm 17,26%. (ii) Về giới tính: Số đối tượng là nam giới có 94,52%, là nữ giới có 5,48%. (iii) Về độ tuổi: Dưới 18 tuổi chiếm 6,29%, từ 18 đến 35 tuổi chiếm 71,77%, từ 36 đến 45 tuổi chiếm 16,29%, trên 45 tuổi chiếm 5,65%. (iv) Về trình độ học vấn: Tiểu học và không biết chữ chiếm 15,48%, trung học cơ sở chiếm 50,97%, trung học phổ thông trở lên chiếm 33,55%. (v) Về tiền án, tiền sự: Đối tượng có tiền án chiếm 13,23%, đối tượng có tiền sự chiếm 17,42%. (vi) Về nghề nghiệp: Có 31,94% đối tượng là người không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định, có 10,97% số đối tượng nghiện ma tuý. (vii) Về hoàn cảnh kinh tế: Người có hoàn cảnh kinh tế nghèo, khó khăn chiếm 31,13%, kinh tế trung bình chiếm 39,19%, kinh tế giàu có, khá giả chiếm 29,68%.

Trong thời gian qua, mặc dù các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống đối với loại tội phạm này, tuy nhiên, nhìn chung vẫn còn xảy ra và có chiều hướng phức tạp. Nguyên nhân của thực trạng này chủ yếu xuất phát từ một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, một số quy định của pháp luật còn vướng mắc, bất cập:

- Về bản chất, hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là các hành vi tình dục, có tính chất kích thích, khêu gợi, thỏa mãn nhu cầu tình dục của người phạm tội hoặc kích thích, khêu gợi nhu cầu tình dục của người dưới 16 tuổi. Việc quy định cụ thể những hành vi không phải dâm ô mặc dù là cần thiết để thống nhất về đường lối xử lý, tuy nhiên, trong Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP lại quy định đối tượng của những trường hợp này phải là người dưới 10 tuổi, người bệnh, người tàn tật (cha, mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con dưới 10 tuổi; giáo viên mầm non tắm rửa, vệ sinh cho trẻ mầm non...). Vậy, trường hợp cha mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con trên 10 tuổi thì có phải là hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi hay không thì chưa được quy định và còn có các quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề này.

- Việc phân hóa trách nhiệm hình sự để cá thể hóa hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em là rất cần thiết trong quá trình đấu tranh phòng, chống các tội phạm này. Có thể thấy, các hình phạt đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi là vô cùng nghiêm khắc, bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khung hình phạt đối với tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm còn khá nhẹ, khung hình phạt cơ bản quy định ở các tội này mức cao nhất của khung hình phạt chỉ đến 03 năm tù hoặc 05 năm tù giam. Mức hình phạt như vậy chưa bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa tội phạm, đặc biệt là trong tình hình các tội phạm giao cấu hoặc hoặc quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi diễn biến phức tạp như hiện nay.

Thứ hai, công tác tuyên truyền về giới tính cho người dưới 16 tuổi và chia sẻ những kỹ năng cho đối tượng này còn hạn chế và chưa thực sự đi vào chiều sâu. Người lớn vẫn còn tâm lý ngại chia sẻ, không nhắc đến vấn đề này với trẻ em, trong khi đó, hiện nay, các hình ảnh đồi trụy đang ngày càng tràn ngập trên internet mà trẻ em thì rất hiếu kỳ và dễ bị lợi dụng.

Bên cạnh đó, trong công tác điều tra các vụ án dâm ô đối với người dưới 16 tuổi của lực lượng Cảnh sát hình sự, một bộ phận điều tra viên có tâm lý “gói gọn”, ít mở rộng điều tra vụ án để phát hiện các tổ chức, băng, nhóm và đối tượng phạm tội khác; còn một số ít trường hợp thu thập tài liệu, chứng cứ theo hướng buộc tội nhiều hơn so với theo hướng gỡ tội cho đối tượng.

Ngoài ra, quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát hình sự với các lực lượng khác khi tiến hành công tác điều tra các vụ án dâm ô đối với người dưới 16 tuổi trong một số trường hợp còn chưa thực sự chặt chẽ và phát huy hết hiệu quả, chỉ mới dừng lại ở từng giai đoạn, từng vụ việc nhất định mà chưa bảo đảm tính thường xuyên nên chưa phát huy thế mạnh tổng hợp, chưa khai thác được nguồn tài liệu và nguồn lực của mỗi lực lượng.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm dâm ô người dưới 16 tuổi, theo tác giả, cần nghiên cứu thực hiện một số giải pháp theo hướng:

Một là, hoàn thiện các quy định của pháp luật:

- Sửa đổi Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP theo hướng, cần quy định dâm ô là hành vi có tính chất tình dục để phân biệt hành vi dâm ô với những hành vi khác không phải là tội phạm (chăm sóc, điều trị cho trẻ em...); đồng thời, theo đó, cũng cần xác định trường hợp cha, mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con trên 10 tuổi không phải là dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.

- Đề nghị tăng mức khung hình phạt đối với tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi và bổ sung một số tình tiết định khung hình phạt để làm cơ sở phân hóa trách nhiệm hình sự đối với tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi như người thực hiện hành vi là cha mẹ, thầy cô giáo… dẫn đến nạn nhân bị hoảng loạn về tâm lý, bỏ học...

Hai là, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần phối hợp với chính quyền địa phương, các nhà trường tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục giới tính cho người dưới 16 tuổi. Sở Thông tin và Truyền thông tăng cường kiểm soát trên môi trường không gian mạng, kịp thời bật tường lửa các trang web đen để không thể truy cập và thường xuyên đưa ra các lời cảnh báo về sự nguy hiểm của loại tội phạm này.

Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra vụ án dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, cơ quan điều tra cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở, các tổ chức, đoàn thể nhằm bảo đảm quyền lợi cho người bị hại trên các lĩnh vực: Bảo đảm việc tham gia của người bảo vệ quyền lợi của người bị hại từ khi lấy lời khai; cung cấp những thông tin cần thiết về quá trình tố tụng cho người bị hại cùng người đại diện hợp pháp; giải thích để người bị hại (đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý) biết về quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của pháp luật; nơi lấy lời khai người bị hại cần được bố trí theo cách thích hợp để họ thấy an toàn, thoải mái; hạn chế thấp nhất số lần và thời lượng lấy lời khai đối với họ. Trong quá trình lấy lời khai, phải tạm dừng ngay khi họ có biểu hiện mệt mỏi; bảo đảm không làm ảnh hưởng đến tâm lý cũng như quyền giữ bí mật thông tin cá nhân về danh dự, nhân phẩm của họ. Ngoài người đại diện hợp pháp, cơ quan tiến hành tố tụng có thể đề nghị đại diện cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Trung tâm và Chi nhánh trợ giúp pháp lý cử cán bộ trợ giúp pháp lý giúp cho người bị hại, đặc biệt là những trẻ em không có gia đình, lang thang, cơ nhỡ, trẻ em không nơi nương tựa hoặc gia đình họ có yêu cầu trợ giúp về mặt pháp lý, tâm lý trong quá trình tố tụng hoặc khi xét xử.

ThS. Nguyễn Thanh Dũng

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: