Thứ ba 13/01/2026 19:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi - Thực trạng và một số kiến nghị

Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích quy định của pháp luật về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, đồng thời nêu lên thực trạng công tác đấu tranh phòng, chống và chỉ ra hạn chế, bất cập của quy định pháp luật về tội phạm dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, từ đó, đề xuất, kiến nghị một số nội dung liên quan đến vấn đề này.

1. Quy định của pháp luật về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Theo Điều 1 Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 thì: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Tuy nhiên, cũng tại điều này, Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 cũng chỉ ra rằng: “Căn cứ đặc điểm lịch sử, phong tục tập quán và các điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia để quy định về độ tuổi của trẻ em, nhưng không được quá 18 tuổi”. Vì vậy, Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam (Điều 1) quy định độ tuổi của trẻ em dưới 16 tuổi là không trái với quy định của Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989.

Cùng với sự phát triển về thể chất, thông qua hoạt động thực tiễn, nhận thức của con người cũng dần được hoàn thiện hơn. Chỉ đến khi đạt độ tuổi nhất định thì con người mới có đầy đủ năng lực nhận thức trách nhiệm về hành vi của mình. Ở độ tuổi trẻ em dưới 16 tuổi sẽ chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và trí tuệ, chưa có đủ kiến thức xã hội, vì vậy, cần phải được quan tâm chăm sóc đặc biệt và được bảo vệ về mặt pháp lý.

Chính vì trẻ em chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần nên rất dễ bị dụ dỗ, lôi kéo vào con đường phạm tội hoặc dễ bị xâm hại bởi hành vi phạm tội. Một trong những hành vi xâm hại mang tính chất nguy hiểm cao, ảnh hưởng đến tâm lý, thể chất của trẻ em là các hành vi hiếp dâm hoặc dâm ô.

Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) quy định cụ thể về các tội xâm phạm tình dục, đặc biệt là các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong đó, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi được quy định tại Điều 146, đây là hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự, sự phát triển bình thường về thể chất, tâm sinh lý của người dưới 16 tuổi.

Khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Như vậy, các hành vi của người phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi phải là chưa hoặc không có mục đích giao cấu. Nếu có ý định giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân nhưng không giao cấu hoặc không thực hiện hành vi đó được thì không phải là hành vi dâm ô, mà tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ 13 đến dưới 16 tuổi hoặc tội giao cấu với người dưới 16 tuổi. Trẻ em bị dâm ô có thể đồng tình, tự nguyện hoặc bị cưỡng ép thực hiện hành vi dâm ô với người phạm tội. Việc tự nguyện của nạn nhân không phải là căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, bởi lẽ, độ tuổi và nhận thức của nạn nhân còn rất non nớt, chưa được xem là đủ hiểu biết, đủ trưởng thành, đủ chín chắn để nhìn nhận được việc bản thân đang bị xâm hại. Vì vậy, việc xử lý hành vi dâm ô không xem xét về yếu tố tự nguyện của nạn nhân mà điều quan trọng nhất là độ tuổi của nạn nhân.

Đối tượng của hành vi dâm ô ở tội này là trẻ em. Trẻ em có thể bị hành vi dâm ô tác động đến thân thể nhưng cũng có thể chỉ bị chứng kiến những hành vi dâm ô. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là tội có cấu thành hình thức, nghĩa là không căn cứ vào hậu quả và những tổn hại của nạn nhân từ hành vi dâm ô gây ra mà chỉ xét về hành vi vi phạm của người thực hiện tội phạm để xác định trách nhiệm hình sự. Trường hợp người có ý định dâm ô nhưng chưa có hành vi cụ thể nào thể hiện ý định dâm ô thì không cấu thành tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.

Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng không mô tả cụ thể hành vi của tội phạm mà chỉ quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi…”. Việc không mô tả cụ thể hành vi phạm tội của tội phạm này thể hiện văn hóa pháp lý của Nhà nước ta. Theo đó, nhà làm luật tránh mô tả các từ ngữ nhạy cảm trong Bộ luật Hình sự năm 2015 mà sẽ mô tả, giải thích trong các văn bản hướng dẫn. Theo Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi (Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP) thì hành vi dâm ô là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục.

Chủ thể của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi có thể là nam hoặc nữ, nhưng chủ yếu là nam và là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự. Người phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Tùy vào mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội gây ra mà người phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo 01 trong 04 khung hình phạt tương ứng với 01 trong 04 khoản được quy định tại Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Thực trạng tội phạm dâm ô đối với người dưới 16 tuổi ở Việt Nam hiện nay

Theo Báo cáo của Bộ Công an từ năm 2018 đến năm 2022, trên cả nước đã xảy ra 55.127 vụ xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn cả nước. Trong đó, có 14.501 vụ dâm ô với người dưới 16 tuổi (chiếm 26,30%); trung bình mỗi năm phát hiện 1.450 vụ, cụ thể: Năm 2018, phát hiện 1.011 vụ, điều tra, khám phá 731 vụ (chiếm 71,95%); năm 2019, phát hiện 1.969 vụ, điều tra, khám phá 1.284 vụ (chiếm 64,91%); năm 2020, phát hiện 1.471 vụ, điều tra, khám phá 975 vụ (chiếm 66,10%); năm 2021, phát hiện 1.830 vụ, điều tra, khám phá 1.103 vụ (chiếm 60,17%); năm 2022, phát hiện 1.118 vụ, điều tra, khám phá 879 vụ (chiếm 78,41%). Điều này cho thấy, tội phạm dâm ô đối với người dưới 16 tuổi xảy ra ở mức cao, cần phải có biện pháp đủ mạnh để đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. Qua nghiên cứu điển hình 620 đối tượng phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi cho thấy: (i) Về cư trú: Các đối tượng phạm tội chủ yếu có địa bàn cư trú trong các tỉnh, có 513 đối tượng, chiếm 82,74%; 107 đối tượng thường trú ở ngoài tỉnh, chiếm 17,26%. (ii) Về giới tính: Số đối tượng là nam giới có 94,52%, là nữ giới có 5,48%. (iii) Về độ tuổi: Dưới 18 tuổi chiếm 6,29%, từ 18 đến 35 tuổi chiếm 71,77%, từ 36 đến 45 tuổi chiếm 16,29%, trên 45 tuổi chiếm 5,65%. (iv) Về trình độ học vấn: Tiểu học và không biết chữ chiếm 15,48%, trung học cơ sở chiếm 50,97%, trung học phổ thông trở lên chiếm 33,55%. (v) Về tiền án, tiền sự: Đối tượng có tiền án chiếm 13,23%, đối tượng có tiền sự chiếm 17,42%. (vi) Về nghề nghiệp: Có 31,94% đối tượng là người không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định, có 10,97% số đối tượng nghiện ma tuý. (vii) Về hoàn cảnh kinh tế: Người có hoàn cảnh kinh tế nghèo, khó khăn chiếm 31,13%, kinh tế trung bình chiếm 39,19%, kinh tế giàu có, khá giả chiếm 29,68%.

Trong thời gian qua, mặc dù các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống đối với loại tội phạm này, tuy nhiên, nhìn chung vẫn còn xảy ra và có chiều hướng phức tạp. Nguyên nhân của thực trạng này chủ yếu xuất phát từ một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, một số quy định của pháp luật còn vướng mắc, bất cập:

- Về bản chất, hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là các hành vi tình dục, có tính chất kích thích, khêu gợi, thỏa mãn nhu cầu tình dục của người phạm tội hoặc kích thích, khêu gợi nhu cầu tình dục của người dưới 16 tuổi. Việc quy định cụ thể những hành vi không phải dâm ô mặc dù là cần thiết để thống nhất về đường lối xử lý, tuy nhiên, trong Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP lại quy định đối tượng của những trường hợp này phải là người dưới 10 tuổi, người bệnh, người tàn tật (cha, mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con dưới 10 tuổi; giáo viên mầm non tắm rửa, vệ sinh cho trẻ mầm non...). Vậy, trường hợp cha mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con trên 10 tuổi thì có phải là hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi hay không thì chưa được quy định và còn có các quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề này.

- Việc phân hóa trách nhiệm hình sự để cá thể hóa hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em là rất cần thiết trong quá trình đấu tranh phòng, chống các tội phạm này. Có thể thấy, các hình phạt đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi là vô cùng nghiêm khắc, bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khung hình phạt đối với tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm còn khá nhẹ, khung hình phạt cơ bản quy định ở các tội này mức cao nhất của khung hình phạt chỉ đến 03 năm tù hoặc 05 năm tù giam. Mức hình phạt như vậy chưa bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa tội phạm, đặc biệt là trong tình hình các tội phạm giao cấu hoặc hoặc quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi diễn biến phức tạp như hiện nay.

Thứ hai, công tác tuyên truyền về giới tính cho người dưới 16 tuổi và chia sẻ những kỹ năng cho đối tượng này còn hạn chế và chưa thực sự đi vào chiều sâu. Người lớn vẫn còn tâm lý ngại chia sẻ, không nhắc đến vấn đề này với trẻ em, trong khi đó, hiện nay, các hình ảnh đồi trụy đang ngày càng tràn ngập trên internet mà trẻ em thì rất hiếu kỳ và dễ bị lợi dụng.

Bên cạnh đó, trong công tác điều tra các vụ án dâm ô đối với người dưới 16 tuổi của lực lượng Cảnh sát hình sự, một bộ phận điều tra viên có tâm lý “gói gọn”, ít mở rộng điều tra vụ án để phát hiện các tổ chức, băng, nhóm và đối tượng phạm tội khác; còn một số ít trường hợp thu thập tài liệu, chứng cứ theo hướng buộc tội nhiều hơn so với theo hướng gỡ tội cho đối tượng.

Ngoài ra, quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát hình sự với các lực lượng khác khi tiến hành công tác điều tra các vụ án dâm ô đối với người dưới 16 tuổi trong một số trường hợp còn chưa thực sự chặt chẽ và phát huy hết hiệu quả, chỉ mới dừng lại ở từng giai đoạn, từng vụ việc nhất định mà chưa bảo đảm tính thường xuyên nên chưa phát huy thế mạnh tổng hợp, chưa khai thác được nguồn tài liệu và nguồn lực của mỗi lực lượng.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm dâm ô người dưới 16 tuổi, theo tác giả, cần nghiên cứu thực hiện một số giải pháp theo hướng:

Một là, hoàn thiện các quy định của pháp luật:

- Sửa đổi Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP theo hướng, cần quy định dâm ô là hành vi có tính chất tình dục để phân biệt hành vi dâm ô với những hành vi khác không phải là tội phạm (chăm sóc, điều trị cho trẻ em...); đồng thời, theo đó, cũng cần xác định trường hợp cha, mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con trên 10 tuổi không phải là dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.

- Đề nghị tăng mức khung hình phạt đối với tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi và bổ sung một số tình tiết định khung hình phạt để làm cơ sở phân hóa trách nhiệm hình sự đối với tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi như người thực hiện hành vi là cha mẹ, thầy cô giáo… dẫn đến nạn nhân bị hoảng loạn về tâm lý, bỏ học...

Hai là, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần phối hợp với chính quyền địa phương, các nhà trường tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục giới tính cho người dưới 16 tuổi. Sở Thông tin và Truyền thông tăng cường kiểm soát trên môi trường không gian mạng, kịp thời bật tường lửa các trang web đen để không thể truy cập và thường xuyên đưa ra các lời cảnh báo về sự nguy hiểm của loại tội phạm này.

Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra vụ án dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, cơ quan điều tra cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở, các tổ chức, đoàn thể nhằm bảo đảm quyền lợi cho người bị hại trên các lĩnh vực: Bảo đảm việc tham gia của người bảo vệ quyền lợi của người bị hại từ khi lấy lời khai; cung cấp những thông tin cần thiết về quá trình tố tụng cho người bị hại cùng người đại diện hợp pháp; giải thích để người bị hại (đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý) biết về quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của pháp luật; nơi lấy lời khai người bị hại cần được bố trí theo cách thích hợp để họ thấy an toàn, thoải mái; hạn chế thấp nhất số lần và thời lượng lấy lời khai đối với họ. Trong quá trình lấy lời khai, phải tạm dừng ngay khi họ có biểu hiện mệt mỏi; bảo đảm không làm ảnh hưởng đến tâm lý cũng như quyền giữ bí mật thông tin cá nhân về danh dự, nhân phẩm của họ. Ngoài người đại diện hợp pháp, cơ quan tiến hành tố tụng có thể đề nghị đại diện cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Trung tâm và Chi nhánh trợ giúp pháp lý cử cán bộ trợ giúp pháp lý giúp cho người bị hại, đặc biệt là những trẻ em không có gia đình, lang thang, cơ nhỡ, trẻ em không nơi nương tựa hoặc gia đình họ có yêu cầu trợ giúp về mặt pháp lý, tâm lý trong quá trình tố tụng hoặc khi xét xử.

ThS. Nguyễn Thanh Dũng

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: