Chủ nhật 13/09/2026 13:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi - Thực trạng và một số kiến nghị

Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích quy định của pháp luật về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, đồng thời nêu lên thực trạng công tác đấu tranh phòng, chống và chỉ ra hạn chế, bất cập của quy định pháp luật về tội phạm dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, từ đó, đề xuất, kiến nghị một số nội dung liên quan đến vấn đề này.

1. Quy định của pháp luật về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Theo Điều 1 Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 thì: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Tuy nhiên, cũng tại điều này, Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 cũng chỉ ra rằng: “Căn cứ đặc điểm lịch sử, phong tục tập quán và các điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia để quy định về độ tuổi của trẻ em, nhưng không được quá 18 tuổi”. Vì vậy, Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam (Điều 1) quy định độ tuổi của trẻ em dưới 16 tuổi là không trái với quy định của Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989.

Cùng với sự phát triển về thể chất, thông qua hoạt động thực tiễn, nhận thức của con người cũng dần được hoàn thiện hơn. Chỉ đến khi đạt độ tuổi nhất định thì con người mới có đầy đủ năng lực nhận thức trách nhiệm về hành vi của mình. Ở độ tuổi trẻ em dưới 16 tuổi sẽ chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và trí tuệ, chưa có đủ kiến thức xã hội, vì vậy, cần phải được quan tâm chăm sóc đặc biệt và được bảo vệ về mặt pháp lý.

Chính vì trẻ em chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần nên rất dễ bị dụ dỗ, lôi kéo vào con đường phạm tội hoặc dễ bị xâm hại bởi hành vi phạm tội. Một trong những hành vi xâm hại mang tính chất nguy hiểm cao, ảnh hưởng đến tâm lý, thể chất của trẻ em là các hành vi hiếp dâm hoặc dâm ô.

Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) quy định cụ thể về các tội xâm phạm tình dục, đặc biệt là các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong đó, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi được quy định tại Điều 146, đây là hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự, sự phát triển bình thường về thể chất, tâm sinh lý của người dưới 16 tuổi.

Khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Như vậy, các hành vi của người phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi phải là chưa hoặc không có mục đích giao cấu. Nếu có ý định giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân nhưng không giao cấu hoặc không thực hiện hành vi đó được thì không phải là hành vi dâm ô, mà tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ 13 đến dưới 16 tuổi hoặc tội giao cấu với người dưới 16 tuổi. Trẻ em bị dâm ô có thể đồng tình, tự nguyện hoặc bị cưỡng ép thực hiện hành vi dâm ô với người phạm tội. Việc tự nguyện của nạn nhân không phải là căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, bởi lẽ, độ tuổi và nhận thức của nạn nhân còn rất non nớt, chưa được xem là đủ hiểu biết, đủ trưởng thành, đủ chín chắn để nhìn nhận được việc bản thân đang bị xâm hại. Vì vậy, việc xử lý hành vi dâm ô không xem xét về yếu tố tự nguyện của nạn nhân mà điều quan trọng nhất là độ tuổi của nạn nhân.

Đối tượng của hành vi dâm ô ở tội này là trẻ em. Trẻ em có thể bị hành vi dâm ô tác động đến thân thể nhưng cũng có thể chỉ bị chứng kiến những hành vi dâm ô. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là tội có cấu thành hình thức, nghĩa là không căn cứ vào hậu quả và những tổn hại của nạn nhân từ hành vi dâm ô gây ra mà chỉ xét về hành vi vi phạm của người thực hiện tội phạm để xác định trách nhiệm hình sự. Trường hợp người có ý định dâm ô nhưng chưa có hành vi cụ thể nào thể hiện ý định dâm ô thì không cấu thành tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.

Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng không mô tả cụ thể hành vi của tội phạm mà chỉ quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi…”. Việc không mô tả cụ thể hành vi phạm tội của tội phạm này thể hiện văn hóa pháp lý của Nhà nước ta. Theo đó, nhà làm luật tránh mô tả các từ ngữ nhạy cảm trong Bộ luật Hình sự năm 2015 mà sẽ mô tả, giải thích trong các văn bản hướng dẫn. Theo Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi (Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP) thì hành vi dâm ô là hành vi của những người cùng giới tính hoặc khác giới tính tiếp xúc về thể chất trực tiếp hoặc gián tiếp qua lớp quần áo vào bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, bộ phận khác trên cơ thể của người dưới 16 tuổi có tính chất tình dục nhưng không nhằm quan hệ tình dục.

Chủ thể của tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi có thể là nam hoặc nữ, nhưng chủ yếu là nam và là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự. Người phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Tùy vào mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội gây ra mà người phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo 01 trong 04 khung hình phạt tương ứng với 01 trong 04 khoản được quy định tại Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Thực trạng tội phạm dâm ô đối với người dưới 16 tuổi ở Việt Nam hiện nay

Theo Báo cáo của Bộ Công an từ năm 2018 đến năm 2022, trên cả nước đã xảy ra 55.127 vụ xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn cả nước. Trong đó, có 14.501 vụ dâm ô với người dưới 16 tuổi (chiếm 26,30%); trung bình mỗi năm phát hiện 1.450 vụ, cụ thể: Năm 2018, phát hiện 1.011 vụ, điều tra, khám phá 731 vụ (chiếm 71,95%); năm 2019, phát hiện 1.969 vụ, điều tra, khám phá 1.284 vụ (chiếm 64,91%); năm 2020, phát hiện 1.471 vụ, điều tra, khám phá 975 vụ (chiếm 66,10%); năm 2021, phát hiện 1.830 vụ, điều tra, khám phá 1.103 vụ (chiếm 60,17%); năm 2022, phát hiện 1.118 vụ, điều tra, khám phá 879 vụ (chiếm 78,41%). Điều này cho thấy, tội phạm dâm ô đối với người dưới 16 tuổi xảy ra ở mức cao, cần phải có biện pháp đủ mạnh để đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. Qua nghiên cứu điển hình 620 đối tượng phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi cho thấy: (i) Về cư trú: Các đối tượng phạm tội chủ yếu có địa bàn cư trú trong các tỉnh, có 513 đối tượng, chiếm 82,74%; 107 đối tượng thường trú ở ngoài tỉnh, chiếm 17,26%. (ii) Về giới tính: Số đối tượng là nam giới có 94,52%, là nữ giới có 5,48%. (iii) Về độ tuổi: Dưới 18 tuổi chiếm 6,29%, từ 18 đến 35 tuổi chiếm 71,77%, từ 36 đến 45 tuổi chiếm 16,29%, trên 45 tuổi chiếm 5,65%. (iv) Về trình độ học vấn: Tiểu học và không biết chữ chiếm 15,48%, trung học cơ sở chiếm 50,97%, trung học phổ thông trở lên chiếm 33,55%. (v) Về tiền án, tiền sự: Đối tượng có tiền án chiếm 13,23%, đối tượng có tiền sự chiếm 17,42%. (vi) Về nghề nghiệp: Có 31,94% đối tượng là người không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định, có 10,97% số đối tượng nghiện ma tuý. (vii) Về hoàn cảnh kinh tế: Người có hoàn cảnh kinh tế nghèo, khó khăn chiếm 31,13%, kinh tế trung bình chiếm 39,19%, kinh tế giàu có, khá giả chiếm 29,68%.

Trong thời gian qua, mặc dù các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống đối với loại tội phạm này, tuy nhiên, nhìn chung vẫn còn xảy ra và có chiều hướng phức tạp. Nguyên nhân của thực trạng này chủ yếu xuất phát từ một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, một số quy định của pháp luật còn vướng mắc, bất cập:

- Về bản chất, hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi là các hành vi tình dục, có tính chất kích thích, khêu gợi, thỏa mãn nhu cầu tình dục của người phạm tội hoặc kích thích, khêu gợi nhu cầu tình dục của người dưới 16 tuổi. Việc quy định cụ thể những hành vi không phải dâm ô mặc dù là cần thiết để thống nhất về đường lối xử lý, tuy nhiên, trong Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP lại quy định đối tượng của những trường hợp này phải là người dưới 10 tuổi, người bệnh, người tàn tật (cha, mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con dưới 10 tuổi; giáo viên mầm non tắm rửa, vệ sinh cho trẻ mầm non...). Vậy, trường hợp cha mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con trên 10 tuổi thì có phải là hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi hay không thì chưa được quy định và còn có các quan điểm khác nhau xoay quanh vấn đề này.

- Việc phân hóa trách nhiệm hình sự để cá thể hóa hình phạt đối với các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em là rất cần thiết trong quá trình đấu tranh phòng, chống các tội phạm này. Có thể thấy, các hình phạt đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi là vô cùng nghiêm khắc, bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khung hình phạt đối với tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm còn khá nhẹ, khung hình phạt cơ bản quy định ở các tội này mức cao nhất của khung hình phạt chỉ đến 03 năm tù hoặc 05 năm tù giam. Mức hình phạt như vậy chưa bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa tội phạm, đặc biệt là trong tình hình các tội phạm giao cấu hoặc hoặc quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi diễn biến phức tạp như hiện nay.

Thứ hai, công tác tuyên truyền về giới tính cho người dưới 16 tuổi và chia sẻ những kỹ năng cho đối tượng này còn hạn chế và chưa thực sự đi vào chiều sâu. Người lớn vẫn còn tâm lý ngại chia sẻ, không nhắc đến vấn đề này với trẻ em, trong khi đó, hiện nay, các hình ảnh đồi trụy đang ngày càng tràn ngập trên internet mà trẻ em thì rất hiếu kỳ và dễ bị lợi dụng.

Bên cạnh đó, trong công tác điều tra các vụ án dâm ô đối với người dưới 16 tuổi của lực lượng Cảnh sát hình sự, một bộ phận điều tra viên có tâm lý “gói gọn”, ít mở rộng điều tra vụ án để phát hiện các tổ chức, băng, nhóm và đối tượng phạm tội khác; còn một số ít trường hợp thu thập tài liệu, chứng cứ theo hướng buộc tội nhiều hơn so với theo hướng gỡ tội cho đối tượng.

Ngoài ra, quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát hình sự với các lực lượng khác khi tiến hành công tác điều tra các vụ án dâm ô đối với người dưới 16 tuổi trong một số trường hợp còn chưa thực sự chặt chẽ và phát huy hết hiệu quả, chỉ mới dừng lại ở từng giai đoạn, từng vụ việc nhất định mà chưa bảo đảm tính thường xuyên nên chưa phát huy thế mạnh tổng hợp, chưa khai thác được nguồn tài liệu và nguồn lực của mỗi lực lượng.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm dâm ô người dưới 16 tuổi, theo tác giả, cần nghiên cứu thực hiện một số giải pháp theo hướng:

Một là, hoàn thiện các quy định của pháp luật:

- Sửa đổi Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP theo hướng, cần quy định dâm ô là hành vi có tính chất tình dục để phân biệt hành vi dâm ô với những hành vi khác không phải là tội phạm (chăm sóc, điều trị cho trẻ em...); đồng thời, theo đó, cũng cần xác định trường hợp cha, mẹ tắm rửa, vệ sinh cho con trên 10 tuổi không phải là dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.

- Đề nghị tăng mức khung hình phạt đối với tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi và bổ sung một số tình tiết định khung hình phạt để làm cơ sở phân hóa trách nhiệm hình sự đối với tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi như người thực hiện hành vi là cha mẹ, thầy cô giáo… dẫn đến nạn nhân bị hoảng loạn về tâm lý, bỏ học...

Hai là, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần phối hợp với chính quyền địa phương, các nhà trường tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục giới tính cho người dưới 16 tuổi. Sở Thông tin và Truyền thông tăng cường kiểm soát trên môi trường không gian mạng, kịp thời bật tường lửa các trang web đen để không thể truy cập và thường xuyên đưa ra các lời cảnh báo về sự nguy hiểm của loại tội phạm này.

Bên cạnh đó, trong quá trình điều tra vụ án dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, cơ quan điều tra cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở, các tổ chức, đoàn thể nhằm bảo đảm quyền lợi cho người bị hại trên các lĩnh vực: Bảo đảm việc tham gia của người bảo vệ quyền lợi của người bị hại từ khi lấy lời khai; cung cấp những thông tin cần thiết về quá trình tố tụng cho người bị hại cùng người đại diện hợp pháp; giải thích để người bị hại (đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý) biết về quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của pháp luật; nơi lấy lời khai người bị hại cần được bố trí theo cách thích hợp để họ thấy an toàn, thoải mái; hạn chế thấp nhất số lần và thời lượng lấy lời khai đối với họ. Trong quá trình lấy lời khai, phải tạm dừng ngay khi họ có biểu hiện mệt mỏi; bảo đảm không làm ảnh hưởng đến tâm lý cũng như quyền giữ bí mật thông tin cá nhân về danh dự, nhân phẩm của họ. Ngoài người đại diện hợp pháp, cơ quan tiến hành tố tụng có thể đề nghị đại diện cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Trung tâm và Chi nhánh trợ giúp pháp lý cử cán bộ trợ giúp pháp lý giúp cho người bị hại, đặc biệt là những trẻ em không có gia đình, lang thang, cơ nhỡ, trẻ em không nơi nương tựa hoặc gia đình họ có yêu cầu trợ giúp về mặt pháp lý, tâm lý trong quá trình tố tụng hoặc khi xét xử.

ThS. Nguyễn Thanh Dũng

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: