![]() |
| Ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) |
PV: Thưa ông, nhìn lại hành trình một năm qua, đâu là điểm sáng và những vướng mắc lớn nhất trong hệ thống pháp luật về kinh doanh mà cộng đồng doanh nghiệp phản ánh đến VCCI?
Ông Nguyễn Quang Vinh: Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn đặc biệt, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của nền kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp lớn mạnh cả về “lượng” và “chất”. Đến cuối năm 2025, chúng ta đã có trên 01 triệu doanh nghiệp đăng ký hoạt động.
Đáng tự hào hơn, cộng đồng doanh nghiệp không chỉ kiên cường vượt khó, giữ vững nhịp độ sản xuất mà còn thẩm thấu mạnh mẽ tinh thần của “Kỷ nguyên vươn mình”. Họ đã và đang chủ động dấn thân vào những sân chơi lớn, tiên phong trong chuyển đổi số, thực hành các tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) và cam kết mạnh mẽ với chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia.
Có được kết quả này là nhờ một phần quan trọng về những thay đổi trong hệ thống pháp luật kinh doanh ở Việt Nam năm 2025, nhất là từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW). Đây được coi là một trong các nghị quyết trụ cột, là “lời hiệu triệu cho một cuộc cải cách thể chế sâu sắc”, tạo động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW, Quốc hội, Chính phủ đã sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật giúp xây dựng hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho doanh nghiệp hoạt động.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế, bức tranh pháp luật kinh doanh còn đan xen một số điều đáng trăn trở. VCCI nhận thấy, vướng mắc lớn nhất mà doanh nghiệp phản ánh trong năm qua không chỉ là sự chồng chéo, xung đột giữa các văn bản luật, mà sâu xa hơn nằm ở tư duy quản lý. Không ít quy định pháp luật được ban hành còn mang nặng tư duy “không quản được thì cấm”, hoặc thiết kế theo hướng “thuận lợi cho cơ quan quản lý, đẩy khó khăn về phía người dân”. Tư duy này dẫn đến các thủ tục hành chính mang tính “xin - cho”, phát sinh nhiều giấy phép con biến tướng dưới dạng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật. Chính những “điểm nghẽn” thể chế này đang làm gia tăng chi phí tuân thủ, bào mòn sức cạnh tranh và làm cho doanh nghiệp lỡ nhịp nhiều cơ hội đầu tư quý giá.
PV: Trong bối cảnh nhiều đạo luật quan trọng đang được sửa đổi, ông đánh giá như thế nào về mức độ ổn định, nhất quán của hệ thống pháp luật hiện hành? Doanh nghiệp đang kỳ vọng điều gì?
Ông Nguyễn Quang Vinh: Năm 2025, chúng ta đã chứng kiến một bước tiến lịch sử, một cuộc cách mạng thực sự trong tư duy lập pháp với việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW. Lần đầu tiên, Đảng xác định công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật là “đột phá của đột phá”, là chìa khóa để giải phóng sức sản xuất.
Dù vậy, nếu đánh giá khách quan từ góc độ thị trường, mức độ ổn định và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật hiện chưa đạt kỳ vọng. Doanh nghiệp vẫn thường trực nỗi lo về tình trạng chính sách thay đổi đột ngột, thiếu lộ trình hoặc thiếu tính tiên liệu. Một dự án đầu tư có vòng đời 20 - 30 năm không thể vận hành “trơn tru” trên nền tảng chính sách thay đổi theo từng năm.
Hiện, điều doanh nghiệp kỳ vọng nhất không phải là sự ưu đãi hay hỗ trợ tài chính, mà chính là sự an toàn pháp lý. Họ mong muốn tư duy làm luật phải chuyển hẳn từ “kiểm soát, thắt chặt” sang “kiến tạo phát triển” như Nghị quyết số 66-NQ/TW đã chỉ rõ. Doanh nghiệp cần hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch, quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản được bảo đảm thực chất. Chỉ khi các rủi ro pháp lý được giảm thiểu tối đa, doanh nghiệp mới dám mạnh dạn bỏ vốn lớn, đầu tư công nghệ cao và tính chuyện làm ăn dài hạn.
PV: Theo VCCI, những bất cập trong thực thi pháp luật nào đang ảnh hưởng mạnh nhất đến niềm tin của doanh nghiệp?
Ông Nguyễn Quang Vinh: Nếu thể chế là “nền móng” thì thực thi là “khung sườn” quyết định hình hài của môi trường kinh doanh. Bất cập lớn nhất, gây nhức nhối nhất hiện nay chính là căn bệnh “sợ sai, sợ trách nhiệm” trong một bộ phận cán bộ. Tình trạng hồ sơ bị “ngâm”, bị đùn đẩy lòng vòng qua nhiều cửa, nhiều cấp mà không ai dám quyết, đang làm cản trở dòng chảy đầu tư.
Bên cạnh đó, tâm lý lo ngại về hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự không phải không có. Doanh nghiệp rất phấn khởi với chỉ đạo quyết liệt tại Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW về “không hình sự hóa các mối quan hệ kinh tế”. Niềm tin của doanh nghiệp chỉ được củng cố vững chắc khi họ thấy pháp luật được thực thi công tâm, khách quan; cơ quan công quyền đóng vai trò đồng hành, hướng dẫn tuân thủ thay vì chỉ chăm chăm “soi xét”, “bắt lỗi”. Một môi trường thực thi pháp luật công bằng, nơi người làm đúng được bảo vệ, người làm sai bị xử lý nghiêm minh và rủi ro kinh doanh được tách bạch với vi phạm pháp luật, chính là giải pháp tốt nhất để vực dậy niềm tin và tinh thần khởi nghiệp.
PV: Nhiều doanh nghiệp cho rằng sự thay đổi chính sách liên tục làm cho họ khó xây dựng kế hoạch dài hạn. Theo ông, cần làm gì để bảo đảm hành lang pháp lý ổn định và dự đoán được?
Ông Nguyễn Quang Vinh: Đây là bài toán sống còn đối với môi trường đầu tư. Để giải quyết triệt để, Nghị quyết số 66 - NQ/TW đã đưa ra những định hướng rất “trúng” và “đúng”. Theo tôi, cần cụ thể hóa quyết liệt bằng ba giải pháp trọng tâm:
Một là, phân định rõ phạm vi điều chỉnh giữa luật và văn bản dưới luật: Luật chỉ nên quy định những vấn đề khung, những nguyên tắc cốt lõi mang tính ổn định dài hạn, bảo đảm tính nghiêm minh và nhất quán. Những vấn đề kỹ thuật, quy trình thực hiện hay các yếu tố biến động thường xuyên theo tín hiệu thị trường thì giao Chính phủ quy định. Cách tiếp cận này sẽ giúp luật có “tuổi thọ” cao hơn, tránh tình trạng vừa ban hành đã lạc hậu, phải sửa đổi.
Hai là, phân cấp, phân quyền thực chất: Phải thực hiện triệt để phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Khi địa phương được trao quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm, các quyết định đầu tư sẽ được xử lý nhanh chóng, ngay tại cơ sở, giảm bớt các tầng nấc trung gian, xin ý kiến lòng vòng, kéo dài thời gian, lãng phí nguồn lực xã hội.
Ba là, nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách. Đây phải là một quy trình khoa học và nghiêm túc, không hình thức. Mọi sự thay đổi chính sách phải được tính toán kỹ lưỡng, định lượng được chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và phải có lộ trình chuyển tiếp (transition period) phù hợp. Tuyệt đối tránh các quy định “giật cục”, áp dụng hồi tố gây bất lợi hoặc có hiệu lực tức thì, làm cho doanh nghiệp không kịp trở tay.
PV: Bước vào năm mới, ông kỳ vọng điều gì ở cộng đồng doanh nhân Việt Nam và tiến trình hoàn thiện thể chế kinh tế?
Ông Nguyễn Quang Vinh: Năm 2026 mở ra cánh cửa của “Kỷ nguyên vươn mình”, là thời điểm vàng để đất nước bứt phá phát triển. Tôi kỳ vọng cộng đồng doanh nhân Việt Nam nhạy bén, tận dụng tốt các cơ hội từ hệ thống chính sách đồng bộ và chiến lược mà Đảng vừa ban hành, đó là: Chủ động chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để nâng cao năng suất theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW; khơi thông động lực phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam theo Nghị quyết số 68-NQ/TW; mạnh dạn tham gia vào chuỗi giá trị năng lượng xanh, năng lượng tái tạo, đón đầu xu hướng toàn cầu theo Nghị quyết số 70-NQ/TW; chú trọng đầu tư cho con người, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài theo định hướng của Nghị quyết số 71-NQ/TW.
Về thể chế kinh tế, tôi kỳ vọng năm 2026 là năm của sự “cởi trói” toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa. Hệ thống pháp luật không chỉ dừng ở chức năng quản lý, mà phải thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia. Chúng ta cần một không gian pháp lý mở, chấp nhận các cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho các mô hình kinh doanh mới, khuyến khích đổi mới sáng tạo. Khi thể chế thông thoáng, nguồn lực khổng lồ trong dân và doanh nghiệp sẽ được khơi thông, tuôn chảy mạnh mẽ, tạo nên sức bật cho nền kinh tế.
PV: VCCI có đề xuất, kiến nghị gì để hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh không, thưa ông?
Ông Nguyễn Quang Vinh: Để hiện thực hóa khát vọng phát triển, VCCI kiến nghị 05 nhóm giải pháp trọng tâm mang tính hành động:
Một là, tiếp tục rà soát và xử lý triệt để chồng chéo. Cần tiếp tục rà soát để phát hiện và tháo gỡ ngay các mâu thuẫn, xung đột giữa các luật chuyên ngành (đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường...), khơi thông điểm nghẽn nguồn lực.
Hai là, đổi mới quy trình làm luật theo hướng thực chất. Tăng cường sự tham gia sâu rộng và thực chất của đối tượng chịu sự tác động (người dân, doanh nghiệp) ngay từ khâu đề xuất chính sách. Luật pháp phải bám sát “hơi thở” cuộc sống, giải quyết được các bài toán thực tiễn của thị trường.
Ba là, cải cách thủ tục hành chính gắn liền với chuyển đổi số. Đơn giản hóa tối đa điều kiện kinh doanh, cắt giảm chi phí tuân thủ. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số để minh bạch hóa quy trình giải quyết thủ tục, giảm thiểu sự tiếp xúc trực tiếp, từ đó triệt tiêu cơ hội tham nhũng vặt và chi phí phi chính thức.
Bốn là, bảo đảm cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm. Cần cụ thể hóa và bảo đảm thực hiện cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Cần có hành lang pháp lý an toàn để cán bộ yên tâm thực thi công vụ, khơi thông dòng chảy thủ tục.
Năm là, nâng cao vị thế và vai trò của các hiệp hội và tổ chức đại diện doanh nghiệp. Để các tổ chức đại diện doanh nghiệp thực sự là cầu nối hiệu quả, tham gia giám sát độc lập và phản biện xã hội đối với công tác thi hành pháp luật, đảm bảo tiếng nói của doanh nghiệp được lắng nghe và tôn trọng.
Ông Nguyễn Quang Vinh khẳng định: “Xuân Bính Ngọ 2026 mang theo vận hội mới và khí thế mới. Với điểm tựa vững chắc là Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định hoàn thiện thể chế là “đột phá của đột phá”, với tinh thần dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm” và chủ trương khơi thông động lực phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam theo Nghị quyết số 68-NQ/TW cùng nhiều chủ trương quan trọng khác, tôi hoàn toàn tin tưởng doanh nghiệp Việt Nam sẽ được giải phóng tối đa năng lực, cởi bỏ mọi rào cản để tự tin bước vào năm mới, đóng góp xứng đáng cho sự phát triển hùng cường và thịnh vượng của đất nước”.
Phương Liên
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)