![]() |
| Quốc hội chính thức thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Ảnh: quochoi.vn |
Kết quả biểu quyết có 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%), chiếm 98,40% tổng số đại biểu Quốc hội; không có đại biểu không tán thành và không có đại biểu không biểu quyết. Kết quả này thể hiện sự thống nhất rất cao của Quốc hội trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tín ngưỡng, tôn giáo.
Trước khi tiến hành biểu quyết thông qua, các đại biểu đã nghe Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang trình bày Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, các vấn đề lớn của dự thảo Luật đã được nghiên cứu, tiếp thu và hoàn thiện kỹ lưỡng, trong đó có các nội dung liên quan đến hoạt động tín ngưỡng trên không gian mạng, hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng, cũng như yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Luật được thông qua gồm 09 chương, 61 điều, quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Luật áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân trong việc bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Về nguyên tắc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, Luật quy định rõ tuân thủ Hiến pháp, Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; tiết kiệm, chống lãng phí; bảo vệ tài nguyên, môi trường…
Trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của Luật là tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
Đồng thời, tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo; truyền thống thờ cúng tổ tiên; tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng dân cư; đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân.
Bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng; tài sản hợp pháp của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo.
Khuyến khích và tạo điều kiện phát huy nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải bảo đảm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp, pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Luật cũng quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, gồm: phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo…
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang trình bày Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Ảnh: quochoi.vn |
Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, Luật quy định: mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo. Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo phải trên cơ sở tự nguyện và được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện ma túy có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.
Luật cũng quy định rõ các nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, gồm: xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; hướng dẫn áp dụng; tiếp nhận và xử lý đề nghị, kiến nghị; đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ. Đồng thời, thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.
Một nội dung đáng chú ý trong lần sửa đổi này là việc tiếp tục đẩy mạnh phân cấp thủ tục hành chính, bảo đảm cấp bộ chỉ thực hiện không quá 30% tổng số thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, Chính phủ đã chuyển 08 thẩm quyền, thủ tục hành chính từ Bộ Dân tộc và Tôn giáo về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc lấy ý kiến đối với nội dung này đã được Bộ Dân tộc và Tôn giáo thực hiện với Chủ tịch Ủy ban nhân dân 34 tỉnh, thành phố và nhận được sự đồng thuận của hầu hết các địa phương. Đây được xem là bước cụ thể hóa chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Việc Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và thích ứng với những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, nhất là trên môi trường số.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.