Tóm tắt: Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Trong khi thực tiễn thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, cần phải nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo theo các quan điểm của Đảng, yêu cầu phát triển đất nước, đánh giá thực trạng pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó đề xuất những định hướng hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: sự cần thiết hoàn thiện pháp luật; pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Đặt vấn đề
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights - UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR) mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt, được quy định trong Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013). Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016) đã thể chế hóa, quy định cụ thể các quyền này, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ để các cá nhân, tổ chức thực hiện được thuận lợi. Đồng thời, Luật còn quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc bảo đảm để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên thực tế.
Sau 08 năm thi hành, Luật năm 2016 đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định, một số quy định không phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, việc nghiên cứu sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo vàđịnh hướng hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới hiện nay là cấp thiết.
1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 là nước đang phát triển, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo của sự phát triển. Để đạt mục tiêu này, Việt Nam đang quyết liệt đổi mới tư duy xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật, thực hiện sắp xếp, tổ chức lại bộ máy hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và thực hiện nhiều giải pháp, giải quyết, tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định của pháp luật gây ra để phát huy, huy động mọi nguồn lực vào phát triển kinh tế - xã hội nhằm đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững,… Việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới trên và nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của Nhân dân. Cụ thể:
Thứ nhất, để thể chế các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và đổi mới tư duy xây dựng, hoàn thiện pháp luật.
Đảng đã có nhiều chủ trương, chính sách, quan điểm về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo như tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta[1]; phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước[2],... Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”… Bảo đảm để các tổ chức tôn giáo hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật và hiến chương điều lệ được Nhà nước công nhận; quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ giải quyết các nhu cầu chính đáng của quần chúng tín đồ trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng[3]. Đồng thời, Đảng xác định cần phải xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu xây dựng đối với các giai cấp, tầng lớp Nhân dân; các chính sách về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng; hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo[4].
Về hoàn thiện thể chế, pháp luật và đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, nhiều nghị quyết của Đảng được ban hành gần đây đã xác định tập trung hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, dễ tiếp cận, chi phí tuân thủ thấp,… trong mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Đảng, Nhà nước xác định phải đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng pháp luật vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển, dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”; các quy định của luật phải mang tính ổn định, có giá trị lâu dài, dễ tuân thủ, chi phí thấp, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; các vấn đề thực tiễn, biến động thì giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, địa phương quy định[5].
Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo để phù hợp với tinh thần của Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nghị quyết số 25-NQ/TW, Nghị quyết số 43-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW và nhiều nghị quyết khác là cần thiết.
Thứ hai, để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và phát huy vai trò của các quy tắc xã hội, quy tắc tự quản xã hội, trong đó có quy tắc hoạt động của các tổ chức chức tôn giáo.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn UDHR và Công ước ICCPR mà Việt Nam là thành viên. Đặc biệt, Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức và phát huy vai trò của các tổ chức tôn giáo, Đảng, Nhà nước đã có quan điểm chỉ đạo cùng với việc hoàn thiện thể chế, pháp luật, đổi mới tư duy xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cần phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động của các tổ chức tôn giáo. Đặc biệt, cần tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc, khơi dậy, phát huy tiềm năng và nguồn nhân lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân,…; bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được; phát huy đúng mức vai trò của đạo đức xã hội, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc tự quản cộng đồng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội…[6]. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu[7]. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện nghiêm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội[8].
Cho nên, việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết để bảo đảm, bảo vệ các quyền cơ bản của con người, của công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và phát huy vai trò của các tổ chức tôn giáo trong phát triển đất nước theo đúng chủ trương của Đảng và đã được quy định trong các công ước quốc tế, Hiến pháp năm 2013.
Thứ ba, để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Kỷ nguyên mới là kỷ nguyên vươn mình phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu; mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu[9]. Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam đưa ra mục tiêu: đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa[10]. Để đạt được các mục tiêu trong kỷ nguyên mới, Đảng, Nhà nước đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân; phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước[11], trong đó có các nội dung liên quan đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ tư, để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về sắp xếp, tổ chức lại bộ máy hành chính nhà nước trong toàn hệ thống chính trị[12]. Từ ngày 01/7/2025, Việt Nam chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã). Việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp dẫn đến nhiều nhiệm vụ trước đây do chính quyền cấp huyện thực hiện phải chuyển giao cho chính quyền cấp tỉnh hoặc chính quyền cấp xã thực hiện. Đồng thời, để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiệu quả, Việt Nam xác định phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và phân định rõ thẩm quyền chung của Ủy ban nhân dân (UBND) với thẩm quyền riêng của Chủ tịch UBND (cấp tỉnh, cấp xã), trong đó có liên quan đến lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo nhất là quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo,…
Như vậy, để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhất là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân định rõ thẩm quyền giữa các cấp chính quyền, thẩm quyền chung của UBND với thẩm quyền riêng của Chủ tịch UBND các cấp trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, cần phải sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ năm, để đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số là yêu cầu cấp bách, xuất phát từ nhu cầu nội tại, là giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu. Vì vậy, Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng về phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, công dân số[13],… trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt, Đảng, Nhà nước xác định cá nhân, tổ chức được thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc cung ứng dịch vụ trên không gian mạng[14]. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động để cải cách tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị;… Đẩy mạnh cải cách hành chính; đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp[15].
Để thực hiện được các chủ trương, chính sách này và đặc biệt để đạt được các mục tiêu đã đề ra, Việt Nam cần phải sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có các quy định về ứng dụng khoa học, công nghệ, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
2. Thực trạng pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo
Sau tám năm thi hành, Luật năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đạt được nhiều thành công, kết quả nổi bật như[16]: (i) tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên thực tế. Các quy định của Luật tương đối rõ ràng, minh bạch, dễ tiếp cận, hài hòa với pháp luật dân sự, đất đai, xây dựng, hình sự…; (ii) đã quy định tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo, góp phần cụ thể hóa nguyên tắc không phân biệt đối xử về tôn giáo, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Luật khẳng định rõ tư cách pháp nhân phi thương mại của tổ chức tôn giáo, tạo điều kiện để tổ chức tôn giáo tham gia thực hiện các hoạt động kinh tế thương mại, phi thương mại theo quy định của pháp luật và bảo đảm các quyền lợi pháp lý tương ứng; cho phép các tổ chức tôn giáo tham gia vào các hoạt động xã hội, văn hóa và từ thiện; đồng thời, tạo cơ hội khai thác các nguồn lực tôn giáo để phục vụ cộng đồng; (iii) đã đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với tôn giáo, giảm thiểu sự can thiệp vào nội bộ các tổ chức tôn giáo. Nhà nước vừa bảo đảm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, vừa bảo đảm sự bình đẳng của các tôn giáo trước pháp luật và đơn giản hóa cơ chế quản lý nhà nước. Theo đó, nhiều hoạt động của các tổ chức tôn giáo chỉ cần “thông báo” thay vì phải “đăng ký” hoặc “xin phép” như Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004; (iv) giúp các tổ chức tôn giáo hoạt động thuận lợi trên thực tế,...
Như vậy, có thể khẳng định, Luật năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có nhiều điểm tiến bộ, thể hiện tính công khai, minh bạch của Nhà nước pháp quyền, phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013; phù hợp với tình hình đất nước, thực tế xã hội Việt Nam và bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc ban hành Luật năm 2016 không chỉ khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo trước đây, mà còn phù hợp với chủ trương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính ở Việt Nam; tạo hành lang pháp lý cần thiết để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc, đáp ứng nhu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, triển khai trên thực tế, Luật năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, không phù hợp với bối cảnh hiện nay[17]. Điều này được thể hiện như sau:
Một là, pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo chưa quy định nhiều nội dung như: (i) chưa quy định về thời hạn hoạt động của người đại diện, thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng,… gây khó khăn cho người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng cũng như trong công tác quản lý nhà nước; (ii) chưa quy định về đăng ký hoạt động tín ngưỡng tại các cơ sở tư gia, các cơ sở do doanh nghiệp đầu tư xây dựng có hoạt động tín ngưỡng. Thực tế cho thấy, các điện, phủ tư gia ở tất cả các tỉnh, thành đều có và hoạt động rất đa dạng, trên phạm vi toàn quốc có khoảng 8.702 cơ sở tư gia[18]; (iii) chưa quy định về điều kiện để được đăng ký đối với nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; chưa quy định về thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung trong trường hợp nhóm sinh hoạt tôn giáo vi phạm pháp luật hoặc tự giải tán; chưa quy định về người đại diện trong điều kiện thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc; thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo; chưa quy định về thu hồi văn bản chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo trong trường hợp tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; (iv) chưa điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng cũng như giải thích về “hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng” trong khi hoạt động này phổ biến và trở thành xu thế, phương thức hoạt động chính của nhiều tôn giáo; vi phạm chưa được phát hiện kịp thời và xử lý hiệu quả, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh của cộng đồng và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo…
Hai là, nhiều quy định chưa cụ thể, chưa rõ ràng gây khó khăn cho việc áp dụng, thực hiện trên thực tế như quy định tại Điều 2 về hoạt động tín ngưỡng, cơ sở tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo, cơ sở tôn giáo, chức việc,... dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các địa phương; việc xác định đăng ký hoạt động tín ngưỡng chỉ gắn với cơ sở tín ngưỡng là chưa phù hợp với thực tiễn đa dạng, phong phú về đời sống tín ngưỡng, hoạt động tín ngưỡng hiện nay trong phạm vi toàn quốc; khoản 3, khoản 4 Điều 6 chưa quy định chủ thể là tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; Điều 35 chưa quy định tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo thuyên chuyển chức việc; Điều 41 chưa quy định tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo,…
Ba là, nhiều quy định của Luật năm 2016 quy định cụ thể, chi tiết trình tự, thủ tục thực hiện không phù hợp với bối cảnh hiện nay, như Điều 12 quy định về đăng ký hoạt động tín ngưỡng; Điều 13 quy định về tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ; Điều 14 quy định về tổ chức lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi; Điều 17 quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung; Điều 19 quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; Điều 22 quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo,…
3. Định hướng hoàn thiện pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo
Để kịp thời thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và giải quyết những hạn chế, bất cập của pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo, việc hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cấp thiết. Tuy nhiên, để phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, việc hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cần thực hiện theo một số định hướng sau:
Thứ nhất, việc hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phải phù hợp với quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về: (i) xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh mới. Các quan điểm của Đảng về vấn đề này đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 27-NQ/TW[19]; Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Kết luận số 119-KL/TW[20], Thông báo số 108-TB/VPTW[21], Kết luận số 09-KL/TW[22]. Theo đó, dự thảo Luật chỉ quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, mang tính nguyên tắc, có giá trị ổn định, lâu dài như nguyên tắc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; quyền nghĩa vụ của công dân, của tổ chức trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo,… Những vấn đề biến động thường xuyên như trình tự, thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo,… thì giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt trong điều hành[23]…; (ii) về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Các chính sách của Đảng về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nghị quyết số 25-NQ/TW, Chỉ thị số 18-CT/TW, Nghị quyết số 24-NQ/TW, Kết luận số 65-KL/TW, Nghị quyết số 43-NQ/TW với nhiều chủ trương như bảo đảm để các tổ chức tôn giáo hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận; vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”; tôn trọng, khuyến khích phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ hai, việc hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phải bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của công dân. Quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, của công dân đã được quy định trong Công ước ICCPR, Tuyên ngôn UDHR và Hiến pháp năm 2013. Cụ thể, Điều 18 Công ước ICCPR quy định: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tín ngưỡng hoặc tôn giáo của mình và tự do bày tỏ tín ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyền giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ, dưới hình thức cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc nơi riêng tư”. Đặc biệt, Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Thứ ba, phải thể chế hóa và cụ thể được các chính sách pháp luật về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo[24]. Cụ thể: (i) chính sách 1 về xác lập nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Với chính sách này, dự thảo Luật phải quy định về quyền của các cá nhân, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; nguyên tắc hoạt động, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp có liên quan đến việc cung ứng dịch vụ trên không gian mạng; (ii) chính sách 2: về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Với chính sách này, dự thảo Luật phải phân cấp, phân quyền quản lý về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo cho UBND cấp tỉnh, cấp xã phù hợp với pháp luật và mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp hiện nay; (iii) chính sách 3: về bổ sung biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo. Với chính sách này, dự thảo Luật phải bổ sung các quy định, làm rõ được các biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với thực tiễn hiện nay như thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của nhóm công dân Việt Nam, người nước ngoài,...; (iv) chính sách 4: về đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Với chính sách này, dự thảo Luật phải cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giấy tờ không cần thiết, không làm phát sinh các thủ tục hành chính mới, thực hiện trên cơ sở dữ liệu, đồng thời, thực hiện chuyển đổi trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ tư, phải kế thừa những thành công, kết quả đã đạt được và khắc phục, giải quyết được những bất cập, khó khăn, vướng mắc phát sinh liên quan đến việc thực hiện triển khai Luật năm 2016 trên thực tế hiện nay. Các khó khăn, vướng mắc này đã được nhận diện trong quá trình tổng kết việc thực hiện, triển khai Luật năm 2016[25]. Chẳng hạn, Luật năm 2016 chưa quy định nhiều vấn đề phát sinh trên thực tế; một số quy định chưa cụ thể, rõ ràng dẫn đến có những cách hiểu khác nhau; một số quy định không phù với thực tế hiện nay;... Những vấn đề này gây khó khăn cho cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cũng như thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trên thực tế, cần được giải quyết để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, tránh làm suy giảm ý thức tuân thủ pháp luật nói chung và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng của các cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến trật tự, an ninh và sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Thứ năm, phải bảo đảm tính thống nhất, khả thi, đơn giản, dễ áp dụng, chi phí tuân thủ thấp. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là luật chuyên ngành, chuyên sâu về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như đất đai, xây dựng, giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội, bảo tồn di sản,... Vì thế, các quy định của dự thảo Luật nói riêng và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nói chung phải bảo đảm tính liên thông, thống nhất, đồng bộ với các luật chuyên ngành khác để tạo thành một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất. Đồng thời, dự thảo Luật phải bảo đảm tính khả thi, phù hợp với thực tiễn, điều chỉnh được các vấn đề phát sinh trên thực tế, đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng, chi phí tuân thủ thấp, không đẩy khó khăn cho người dân, doanh nghiệp.
Thứ sáu, phải tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên và hài hòa, phù hợp với pháp luật quốc tế. Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu, nhu cầu nội tại và chủ trương nhất quán của Việt Nam. Việt Nam xác định hội nhập quốc tế là quá trình chủ động, toàn diện trong việc hợp tác, tham gia các tổ chức và cam kết quốc tế, nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích quốc gia, dân tộc, phát triển kinh tế và tăng cường an ninh. Đây là chủ trương nhất quán, được nâng cao qua từng giai đoạn, trở thành động lực quan trọng cho phát triển đất nước. Để hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng phải tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời, phải hài hòa, phù hợp với pháp luật quốc tế, với xu hướng phát triển của pháp luật quốc tế cũng như của các quốc gia trên thế giới để có thể điều chỉnh, giải quyết được các vấn đề quốc tế phát sinh.
Kết luận
Thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách đổi mới tư duy xây dựng, thi hành pháp luật, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, cải cách quản trị đất nước,… để đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững. Sau 08 năm thi hành, Luật năm 2016 đã đạt được những kết quả tích cực nhưng cũng phát sinh hạn chế, bất cập làm ảnh hưởng đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức cũng như hoạt động quản lý nhà nước. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó, chủ yếu là do pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo chưa quy định hoặc quy định chưa cụ thể, rõ ràng hoặc không phù với thực tiễn. Vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết để thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước; giải quyết những khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn thi hành Luật năm 2016 đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
TS. Trương Thế Côn
Tổng Biên tập, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp
[1]. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo (Nghị quyết số 25-NQ/TW).
[2]. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
[3]. Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc (Nghị quyết số 43-NQ/TW).
[4]. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
[5]. Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật (Kết luận số 119-KL/TW).
[6]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW).
[7]. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.
[8]. Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW.
[9]. Tô Lâm (2024), Cơ sở định vị mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới và những định hướng chiến lược, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=4376, truy cập ngày 10/11/2025.
[10]. Nghị quyết số 66-NQ/TW.
[11]. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.
[12]. Như Kết luận số 155-KL/TW ngày 17/5/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về một số nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính từ nay đến ngày 30/6/2025; Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về việc xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. Đặc biệt, ngày 16/6/2025, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 203/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.
[13]. Như Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết 52-NQ/TW về ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW)…
[14]. Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 10/02/2026 của Chính phủ về chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).
[15]. Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 10/02/2026 của Chính phủ về chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).
[16]. Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc Tôn giáo tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo.
[17]. Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc Tôn giáo tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo.
[18]. Theo thống kê của “Đề án nghiên cứu, điều tra thực trạng cơ sở tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay”.
[19]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW).
[20]. Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật.
[21]. Thông báo số 108-TB/VPTW ngày 18/11/2024 thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp.
[22]. Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[23]. Nghị quyết số 66-NQ/TW.
[24]. Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 10/02/2026 của Chính phủ về chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).
[25]. Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.
2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
4. Bộ Chính trị, Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật.
5. ThS. Nguyễn Xuân Trung (2014), Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp Việt Nam, https://noichinh.vn/ho-so-tu-lieu/201401/quyen-tu-do-tin-nguong-ton-giao-trong-hien-phap-viet-nam-293755/#:~:text=h%C6%A1n:%20%E2%80%9CM%E1%BB%8Di%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20%C4%9 1%E1%BB%81u%20c%C3%B3,n%C6%A1i%20c%C3%B4ng%20c%E1%BB%99ng%20ho%E1%BA%B7c%20 n%C6%A1i, truy cập ngày 20/3/2026.
6. ThS. Nguyễn Trường Anh (2024), Học viện An ninh nhân dân, Hoàn thiện pháp luật về hoạt động xã hội, từ thiện của các tôn giáo Việt Nam trong tình hình hiện nay, https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/02/06/hoan-thien-phap-luat-ve-hoat-dong-xa-hoi-tu-thien-cua-cac-ton-giao-viet-nam-trong-tinh-hinh-hien-nay/, truy cập ngày 20/3/3026.
7. Vũ Hoài Bắc (2025), Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, Sự cần thiết và những nội dung dự kiến cần xây dựng trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo sửa đổi, https://dangcongsan.vn/uybandantoc/tin-tuc-hoat-dong/su-can-thiet-va-nhung-noi-dung-du-kien-can-xay-dung-trong-luat-tin-nguong-ton-giao-sua-doi.html, truy cập ngày 20/03/2026.
8. TS. Phan Thị Mỹ Bình (2026), Học viện Hành chính Quốc gia, Hoàn thiện quy định pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, https://tcdcpl.moj. gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=791, truy cập ngày 20/3/2026.
9. TS. Nguyễn Thị Định (2026), Ban Tôn giáo Chính phủ, Xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, http://www.cema.gov.vn/uy-ban-dan-toc-voi-dia-phuong/xay-dung-luat-tin-nguong-ton-giao-sua-doi-nham-bao-dam-tot-hon-quyen-tu-do-tin-nguong-ton-giao.htm, truy cập ngày 20/3/2026.
10. Lê Văn Lộc (2023), Ban Dân vận Huyện ủy Bến Lức, tỉnh Long An, Hoàn thiện chính sách tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/06/20/hoan-thien-chinh-sach-ton-giao-trong-giai-doan-hien-nay/, truy cập ngày 20/3/2026.
11. Pháp luật và thực tiễn về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam https://sonoivu.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/phap-luat-va-thuc-tien-ve-bao-dam-quyen-tu-do-tin-nguong-ton-giao-o-viet-nam?type=NEWS&id=127165, truy cập ngày 20/3/2026.
(Nguồn: Ấn phẩm chuyên đề “Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” xuất bản năm 2026)