Thứ sáu 17/04/2026 23:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.

Từ khóa: quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Hiến pháp, Pháp, Nhật Bản, Việt Nam.

Đặt vấn đề

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo với chính sách nhất quán là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do cho mọi người, tạo điều kiện để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật và đóng góp nguồn lực cho sự phát triển chung của đất nước. Tuy nhiên, trước bối cảnh toàn cầu hóa và sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, pháp luật hiện hành về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo bộc lộ một số khoảng trống như tổ chức sinh hoạt tôn giáo trên không gian mạng, trục lợi tài sản từ tổ chức tôn giáo hay lợi dụng danh nghĩa của tổ chức tôn giáo truyền bá thông tin sai lệch, cực đoan, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo đảm đầy đủ quyền con người, quyền công dân, việc nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa tham chiếu quan trọng trên phương diện nhận thức và hoàn thiện thể chế. Trong đó, Pháp và Nhật Bản (là hai quốc gia trong hệ thống dân luật) có những điểm tương đồng với Việt Nam về sự đa dạng tôn giáo và có luật riêng về tôn giáo.

1. Pháp luật của Pháp và Nhật Bản về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia. Sự khác nhau về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phụ thuộc vào các điều kiện chủ quan và khách quan nhưng đều phản ánh mối quan hệ giữa thần quyền và pháp quyền và là cơ sở phản ánh bản chất dân chủ của Nhà nước.

1.1. Khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Pháp luật của Pháp và Nhật Bản quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như sau:

1.1.1. Tại Pháp

Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Pháp[1] được các cơ quan nhà nước coi là thành tố quan trọng của Hiến pháp. Điều 10 Hiến pháp của Pháp quy định: “Không ai được phép cản trở người khác vì quan điểm của họ, kể cả quan điểm tôn giáo, miễn là việc thể hiện những quan điểm đó không gây xung đột đến luật pháp và trật tự xã hội”[2]. Đến năm 1905, Đạo luật Phân lập giữa giáo hội và Nhà nước chính thức thể chế hóa về chế độ thế tục. Luật này nhấn mạnh hai nguyên tắc cốt lõi: (i) Nhà nước bảo đảm tự do lương tâm; tự do tín ngưỡng chỉ bị giới hạn bởi các quy định vì lợi ích trật tự công cộng; (ii) Nhà nước không công nhận, trợ cấp hoặc ủng hộ bất kỳ tôn giáo nào[3]. Quy định này cho thấy, việc thể hiện tín ngưỡng là vấn đề riêng tư thiết lập nguyên tắc phân tách nghiêm ngặt giữa tôn giáo và Chính phủ, đánh dấu bước ngoặt quyết định, chấm dứt ảnh hưởng mạnh mẽ của Giáo hội Công giáo đối với các vấn đề nhà nước trước Cách mạng Pháp.

Điều 1 Hiến pháp năm 1958 của Đệ ngũ cộng hòa tuyên bố: “Nước Pháp sẽ là một nước Cộng hòa không thể chia cắt, thế tục, dân chủ và xã hội. Nước Pháp sẽ đảm bảo sự bình đẳng của tất cả công dân trước pháp luật, không phân biệt nguồn gốc, chủng tộc hay tôn giáo. Nước Pháp sẽ tôn trọng mọi tín ngưỡng”. Đây là cam kết của Nhà nước đối với nguyên tắc thế tục như một giá trị hiến pháp của nền Cộng hòa Pháp. Một mặt, Nhà nước tiếp tục duy trì khẳng định tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và bình đẳng về tôn giáo của công dân, mặt khác, nguyên tắc này cũng bảo đảm không tôn giáo nào nắm giữ quyền lực chính thức trong các lĩnh vực công cộng.

1.1.2. Tại Nhật Bản

Điều 20 Hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản quy định: “Mọi công dân đều có quyền tự do tín ngưỡng. Không tổ chức tôn giáo nào có thể nhận được đặc ân của Chính phủ hay được sử dụng quyền chính trị. Không ai bị bắt buộc tham gia các hoạt động, lễ nghi của các tổ chức tôn giáo. Chính phủ và các cơ quan nhà nước không theo nền giáo dục mang tính tôn giáo và cũng không có các hành vi tôn giáo”[4]. Quy định này là căn cứ hiến định bảo đảm quyền tự do tôn giáo cho mọi cá nhân. Nội hàm của quyền tự do tôn giáo từ quy định trên được thể hiện trên hai khía cạnh: (i) tự do trong tư tưởng, niềm tin được bảo đảm tuyệt đối và không bị ép buộc cải đạo; (ii) tự do hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, khi niềm tin tôn giáo được thực hiện dưới dạng hành vi tôn giáo cũng cần bảo đảm phù hợp với lợi ích công cộng và quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác. Nếu việc thực hành tôn giáo xâm phạm đến tự do của người khác, chủ thể có thể phải gánh chịu trách nhiệm dân sự hoặc hình sự. Nội dung này là tương thích với Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR) mà Nhật Bản là quốc gia thành viên phê chuẩn.

1.2. Quy định về thực hành tín ngưỡng, tôn giáo

Pháp luật của Pháp và Nhật Bản quy định về thực hành tín ngưỡng, tôn giáo như sau:

1.2.1. Tại Pháp

Năm 2004, Đạo luật về sự thế tục và các biểu tượng tôn giáo nổi bật trong nhà trường được Pháp thông qua[5]. Nội dung cơ bản của Đạo luật này là quy định cấm học sinh trong các trường tiểu học, trung học và trường trung học phổ thông công lập đeo các phù hiệu hoặc mặc trang phục thể hiện tín ngưỡng tôn giáo của mình một cách công khai (Điều 1). Nội dung của Đạo luật tuy không liệt kê rõ về phù hiệu của tôn giáo cụ thể bị cấm đoán, nhưng “các phương tiện truyền thông ngay lập tức diễn giải cho rằng, đó là đề nghị với mục đích ngăn chặn các cô gái Hồi giáo mang khăn trùm đầu trong các trường học”[6] và trước đó, trong cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh Thủ tướng Jean-Pierre Raffarin của Đảng Bảo thủ cầm quyền UMP cho biết, “những chiếc khăn trùm đầu Hồi giáo phải bị cấm hoàn toàn trong các trường công lập”[7].

Quy định mang tính chi tiết này dẫn đến những quan điểm khác nhau. Một mặt, nhìn nhận từ góc độ ngăn ngừa tình trạng phân biệt đối xử trong môi trường học đường, quy định này nhằm mục đích bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, thúc đẩy sự đoàn kết và hạn chế sự chia rẽ tôn giáo giữa các học sinh. Xét trong mối quan hệ với Nhà nước, quy định này cũng bảo đảm sự kết nối giữa cá nhân với Nhà nước với tư cách là công dân, mà không phải là thành viên của cộng đồng tôn giáo cụ thể. Tuy nhiên, dưới khía cạnh tự do tôn giáo, đây là quy định làm hạn chế thực hành tôn giáo của cá nhân. Quy định này cũng mâu thuẫn với Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights - UDHR) và ICCPR, trong khi Pháp là quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc soạn thảo UDHR và là thành viên của ICCPR. Cụ thể, Điều 18 ICCPR quy định bảo đảm tự do tôn giáo cho mọi người, gồm cả tự do thể hiện tín ngưỡng, tôn giáo thông qua biểu tượng hoặc trang phục. Trong Bình luận chung số 22, Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc khẳng định “việc tuân thủ và thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng không chỉ gồm các hoạt động nghi lễ mà còn gồm tuân thủ các nguyên tắc về ăn kiêng, trang phục hoặc khăn đội đầu đặc biệt…”[8]. Việc biểu đạt, bày tỏ hay thể hiện tôn giáo, tín ngưỡng là những thành tố thiết yếu của tự do tôn giáo và tín ngưỡng.

Năm 2010, Quốc hội Pháp thông qua Đạo luật về cấm che giấu khuôn mặt[9] (có hiệu lực từ ngày 12/4/2011). Theo đó, trang phục nhằm che giấu khuôn mặt là bất kỳ loại trang phục nào làm cho người mặc không thể nhận dạng được. Danh sách không đầy đủ, nhưng những vật dụng sau bị cấm: mũ trùm đầu, khăn che mặt toàn bộ (burqa, niqab...), tất, mặt nạ và tất cả các loại trang phục, phụ kiện khác, khi được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với các trang phục khác, dẫn đến việc che khuất khuôn mặt. Ngoại lệ đối với lệnh cấm này gồm: (i) nếu trang phục được quy định hoặc cho phép bởi các điều khoản lập pháp hoặc quy định (ví dụ, người sử dụng xe hai bánh phải đội mũ bảo hiểm); (ii) nếu trang phục đó được biện minh vì lý do sức khỏe hoặc lý do nghề nghiệp. Ví dụ, lý do y tế có thể biện minh cho việc băng bó mặt. Bên cạnh đó, việc mặc quần áo che kín mặt không bị cấm ở những cơ sở tôn giáo khi chúng được quy định vì lý do tôn giáo và được người chịu trách nhiệm quản lý cơ sở chấp nhận. Về chế tài, chủ thể có hành vi vi phạm lệnh cấm che mặt ở nơi công cộng sẽ bị phạt tối đa 150 euro. Đồng thời, người nào ép buộc người khác che mặt ở nơi công cộng thì bị coi là phạm tội, bị phạt tù một năm và phạt tiền 30.000 euro (mức phạt gấp đôi nếu người liên quan là người chưa thành niên). Như vậy, từ Đạo luật năm 2004 về sự thế tục đến Luật năm 2010 của Pháp đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng quy định nghiêm ngặt hơn đối với các hoạt động thực hành tôn giáo: về phạm vi, không còn giới hạn điều chỉnh trong các trường học công lập; về nội dung, quy định chi tiết hơn và có chế tài đối với hành vi vi phạm.

1.2.2. Tại Nhật Bản

Khác với phương thức quản lý của Pháp, pháp luật của Nhật Bản không cho phép cơ quan nhà nước can thiệp vào các vấn đề tôn giáo như tín ngưỡng, giáo lý, phong tục, hay việc bổ nhiệm chức sắc (Điều 85 Luật về các tổ chức tôn giáo ban hành ngày 03/4/1951, sửa đổi năm 2006). Đây là quy định thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước trong vấn đề quản lý tín ngưỡng, tôn giáo với tinh thần tôn trọng những hoạt động về tổ chức nội bộ và thực hành các nghi lễ của tổ chức tôn giáo.

1.3. Về quản lý nhà nước đối với tín ngưỡng, tôn giáo

Pháp luật của Pháp và Nhật Bản quy định về quản lý nhà nước đối với tín ngưỡng, tôn giáo như sau:

1.3.1. Tại Pháp

Ngày 24/8/2021, Pháp ban hành Luật số 2021-1109 nhằm tăng cường sự tôn trọng các nguyên tắc của nền Cộng hòa[10]. Đạo luật này gồm các nội dung chính:

Một là, tăng cường tính trung lập đối với tín ngưỡng, tôn giáo trong thực hiện dịch vụ công. Cụ thể, yêu cầu các nhân viên công vụ và những nhà thầu tư nhân thực hiện dịch vụ công phải tuân thủ nguyên tắc trung lập về tôn giáo, không được thể hiện niềm tin tôn giáo qua trang phục hay hành vi khi làm việc; thiết lập các biện pháp bảo vệ nhân viên công vụ trước các hành vi đe dọa hoặc bạo lực nhằm gây áp lực lên dịch vụ công vì lý do tôn giáo.

Hai là, giám sát chặt chẽ các hiệp hội và tổ chức tôn giáo với các quy định như: các hiệp hội muốn nhận tài trợ công phải ký “hợp đồng cam kết Cộng hòa”, cam kết tôn trọng các giá trị tự do, bình đẳng, bác ái và phẩm giá con người; yêu cầu các tổ chức tôn giáo phải công khai các khoản tài trợ từ nước ngoài nếu vượt quá 153.000 euro mỗi năm, để ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài; trao quyền cho cơ quan chức năng tạm thời đóng cửa các cơ sở tôn giáo nếu phát hiện có hoạt động kích động bạo lực, thù ghét hoặc phân biệt đối xử.

Thực tiễn cho thấy, trong năm 2022, Bộ Nội vụ Pháp đã tiến hành 3.000 cuộc đánh giá và đóng cửa 187 cơ sở các loại, gồm 07 nhà thờ Hồi giáo bị đóng cửa tạm thời và 11 trường học, trong đó có một trường Do Thái theo phái Chính thống cực đoan, cùng các cơ sở thể thao, văn hóa và nhà hàng.

Chính phủ cũng giải tán 05 hiệp hội Hồi giáo; Nội các đã giải tán Hiệp hội Hồi giáo “Les Alerteurs” (Những người tố giác), mà theo Chính phủ là ủng hộ chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan và đưa ra những bình luận bài Do Thái và kỳ thị đồng tính[11].

Ba là, tăng cường bảo vệ phẩm giá con người và an ninh mạng. Cụ thể, các quy định về chống phát ngôn gây thù ghét trực tuyến, tội phạm hóa hành vi tiết lộ thông tin cá nhân của người khác nhằm đe dọa hoặc gây nguy hiểm cho họ và gia đình; nghiêm cấm việc cấp “giấy chứng nhận trinh tiết”, thắt chặt các biện pháp chống đa thê và hôn nhân cưỡng ép.

Đạo luật này được coi là công cụ để kiềm chế “chủ nghĩa ly khai”, đặc biệt là những tư tưởng cực đoan đi ngược với giá trị thế tục (laïcité) và sự gắn kết xã hội của Pháp. Hơn nữa, nó xác lập cơ chế quản lý hiện đại, bảo đảm tính trung lập của Nhà nước trong khi vẫn cho phép các tôn giáo phát triển trong khuôn khổ pháp luật.

1.3.2. Tại Nhật Bản

Điều 89 Hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản quy định cụ thể về quản lý của Nhà nước đối với tài chính của các tổ chức, hiệp hội tôn giáo như sau:

“Không một tài sản quốc gia hay ngân sách nào được dùng để thiết lập, duy trì hiệp hội tôn giáo, cơ quan từ thiện hay giáo dục công ích mà không được chính quyền quản lý”[12]. Chính phủ Nhật Bản ghi nhận nguyên tắc phân lập Nhà nước và tôn giáo, không có bất kỳ tổ chức tôn giáo nào có vị trí pháp lý đặc biệt, các tôn giáo bình đẳng với nhau và tôn giáo được coi là vấn đề riêng tư.

Luật về các tổ chức tôn giáo ban hành ngày 03/4/1951, sửa đổi năm 2006[13], trao tư cách pháp nhân cho các tổ chức tôn giáo để tạo điều kiện cho các tổ chức này có thể sở hữu tài sản (gồm cả cơ sở thờ tự), duy trì và vận hành các hoạt động kinh doanh phục vụ mục đích tôn giáo. Tổ chức tôn giáo là tổ chức có hoạt động chính là truyền bá giáo lý tôn giáo, tiến hành các nghi lễ và hoạt động, cũng như giáo dục và nuôi dưỡng tín đồ, gồm các đền thờ (jinja), chùa (ji-in), nhà thờ (kyokai), tu viện hoặc các giáo phái, giáo khu có cơ sở thờ tự (Điều 2). Cơ quan có thẩm quyền quản lý các tổ chức tôn giáo thuộc về Thống đốc tỉnh (nơi đặt văn phòng chính) hoặc Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (MEXT) nếu tổ chức có cơ sở ở nhiều tỉnh khác nhau (Điều 5). Mặt khác, Luật về các tổ chức tôn giáo quy định cụ thể về quá trình thành lập, hoạt động tổ chức lại (sáp nhập) và chấm dứt hoạt động của tổ chức tôn giáo (giải thể). Những quy định này cho thấy, dưới góc độ pháp lý, tổ chức tôn giáo hoạt động và chịu sự quản lý của Nhà nước tương tự như các tổ chức kinh tế, thương mại.

Điểm đáng lưu ý của Luật này là những quy định chi tiết về tài chính, tài sản của tổ chức tôn giáo. Theo quy định tại Chương III (từ Điều 18 đến Điều 25), pháp nhân tôn giáo có thể thực hiện các hoạt động phúc lợi công cộng và các hoạt động kinh doanh khác nếu không trái với mục đích tôn giáo; tổ chức tôn giáo phải công khai tài sản, thu nhập và chi tiêu cho Chính phủ: yêu cầu pháp nhân tôn giáo phải lập danh mục tài sản tại thời điểm thành lập và lập báo cáo thu chi trong vòng 03 tháng sau khi kết thúc mỗi năm tài chính (khoản 1 Điều 25); pháp nhân tôn giáo phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền bản sao các tài liệu (gồm danh mục tài sản, báo cáo thu chi, danh sách chức sắc…) trong vòng 04 tháng sau khi kết thúc mỗi năm tài chính (khoản 4 Điều 25).

Luật các tổ chức tôn giáo của Nhật Bản quy định về các biện pháp giám sát đối với pháp nhân tôn giáo (Điều 78-2) và xử lý đối với các vi phạm của tổ chức tôn giáo từ Điều 79 đến Điều 83. Theo đó, cho phép Chính phủ điều tra các vi phạm có thể xảy ra đối với các quy định về hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận; chính quyền có quyền đình chỉ hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận của một tổ chức tôn giáo trong thời hạn tối đa 01 năm, nếu tổ chức đó vi phạm các quy định (Điều 79).

1.4. Đánh giá chung

Nhìn chung, khung pháp luật của Pháp về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là biểu hiện đậm nét nhất của nguyên tắc thế tục, với mục đích tạo ra ranh giới pháp lý trung lập rõ ràng, bảo đảm các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội tại các không gian công cộng diễn ra khách quan, không bị ảnh hưởng bởi tôn giáo và xây dựng chuẩn mực chung để thúc đẩy sự gắn kết xã hội và sự tương tác giữa các cá nhân là bình đẳng trong phạm vi nước Pháp. Tuy nhiên, việc áp dụng nghiêm ngặt nguyên tắc thế tục nhằm bảo vệ giá trị cộng hòa ít nhiều gây ra sự tác động không cân xứng đối với nhóm tôn giáo thiểu số (đặc biệt là Hồi giáo) dẫn đến sự phản kháng xã hội. Các quy định về hạn chế sự biểu đạt tôn giáo ra bên ngoài gây ra sự xung đột với các chuẩn mực quốc tế và thường xuyên chịu sự giám sát của các cơ quan thực thi các công ước nhân quyền quốc tế.

Đối với hệ thống pháp luật của Nhật Bản, những quy định về quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo được thể hiện cụ thể, rõ ràng trong Hiến pháp (Điều 20) khẳng định sự bảo đảm tuyệt đối quyền tự do tư tưởng và niềm tin nội tâm, nghiêm cấm việc ép buộc cá nhân cải đạo. Mặt khác, từ khía cạnh pháp lý đến thực tiễn ở quốc gia này cho thấy sự thành công trong xây dựng và thực hành giá trị khoan dung tôn giáo, bảo đảm người dân có thể thực hành nhiều tôn giáo cùng lúc; duy trì và bảo vệ được các giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, mô hình phân tách lỏng lẻo giữa Nhà nước và tôn giáo của Nhật Bản có thể dẫn đến việc nhân danh sự trung lập để áp đặt quan điểm của đa số lên thiểu số.

Như vậy, khung pháp luật và một số thực tiễn pháp lý về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo tại hai quốc gia trên khá đa dạng. Cả hai quốc gia này đều theo hệ thống dân luật, khung pháp luật bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo được ghi nhận ở cấp độ cao nhất là Hiến pháp và xây dựng nguyên tắc phân lập giữa Nhà nước với tôn giáo, tạo sự bình đẳng giữa các tôn giáo. Tuy nhiên, do có sự khác biệt nhất định về điều kiện chính trị, hình thức chính thể, bối cảnh văn hóa, xã hội và ý chí chủ quan của lực lượng cầm quyền… nên ít nhiều có sự khác biệt trong quá trình thực hiện pháp luật. Đối với Pháp, nguyên tắc thế tục được áp dụng nghiêm ngặt hơn để bảo vệ sự trung lập của Nhà nước, chú trọng bảo vệ các giá trị cộng hòa trong không gian công cộng hơn là đa dạng tôn giáo; thực tiễn phán quyết của cơ quan tư pháp đặt ra yêu cầu đối với nhóm tôn giáo thiểu số phải thích nghi và chung sống hòa bình. Còn tại Nhật Bản, việc thực hiện nguyên tắc phân lập Nhà nước với tôn giáo có phần linh hoạt và ôn hòa hơn, gắn liền các hoạt động tôn giáo với các giá trị truyền thống khoan dung và sự tự do tư tưởng tuyệt đối của cá nhân. Hơn nữa, so với Pháp, quy định trong hệ thống pháp luật của Nhật Bản có sự linh hoạt hơn trong quản lý hoạt động của các tổ chức tôn giáo và tạo điều kiện để các tổ chức này tham gia thúc đẩy sự phát triển xã hội.

2. Pháp luật Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, tính đến tháng 6/2024, Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 40 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 27.282.846 tín đồ, 66.365 chức sắc và 12.475 chức việc, 30.374 cơ sở tôn giáo, 73.298 cơ sở tín ngưỡng[14]. Nhìn chung, các tôn giáo hoạt động ổn định, phù hợp với đường hướng hành đạo phù hợp với truyền thống văn hóa, đồng hành cùng dân tộc và sự phát triển của đất nước. Các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam cũng tham gia sâu, rộng vào các lĩnh vực giáo dục, bảo trợ xã hội và từ thiện.

Khung pháp luật hiện hành của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận từ văn bản có giá trị hiệu lực cao nhất là Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013). Theo đó, Điều 24 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo cơ sở hiến định khẳng định chính sách nhất quán về quyền con người này; tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức hoạt động tôn giáo, bảo đảm sự tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước với các tổ chức tôn giáo. Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, Quốc hội đã ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) (Luật năm 2016) và Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 hướng dẫn chi tiết biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Nghị định số 162/2017/NĐ-CP.

Quá trình tổ chức thực hiện Luật năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt được những kết quả nổi bật như: bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử, không có tôn giáo nào giữ vị trí độc tôn; mọi người có quyền tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tôn giáo nào mà không bị ép buộc hoặc cản trở; các đại lễ của các tổ chức tôn giáo thu hút được đông đảo tín đồ tham gia; các ấn phẩm tôn giáo được đưa vào sử dụng tại các cơ sở quản lý, giam giữ. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo có nhiều điểm tiến bộ như chuyển đổi từ cơ chế “xin phép” sang “thông báo” đối với nhiều hoạt động, giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng tính công khai, minh bạch; khẳng định tư cách pháp nhân phi thương mại giúp các tổ chức tôn giáo chính thức tham gia vào các hoạt động xã hội, bảo đảm quyền lợi pháp lý tương ứng và Nhà nước luôn hỗ trợ, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tổ chức các sự kiện tôn giáo quốc tế…

Trong tương quan so sánh với hệ thống pháp luật của Pháp và Nhật Bản, hệ thống quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam và thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo có phần thông thoáng hơn.Tuy nhiên, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Pháp và Nhật Bản để hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể:

Thứ nhất, Luật năm 2016 thiếu quy định chi tiết điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Pháp đã ban hành Luật Tôn trọng các nguyên tắc giá trị của nền Cộng hòa năm 2021, quy định nghiêm ngặt về việc chống phát ngôn thù ghét trực tuyến và trao quyền cho chính quyền gỡ bỏ các nội dung vi phạm trên môi trường số. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)[15] (dự thảo Luật) đã quy định giải thích từ ngữ tại khoản 17 Điều 2 và Điều 8 dự liệu về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Tuy nhiên, khoản 17 Điều 2 dự thảo Luật mới đề cập đến điều kiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; chưa quy định cụ thể bản chất hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng gồm những gì và được hoạt động trên nền tảng số nào. Đồng thời, Điều 8 dự thảo Luật quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng còn chưa cụ thể. Điểm a khoản 2 Điều 8 dự thảo Luật quy định “cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không giang mạng” là cơ quan có chức năng quản lý hành chính hay cơ quan có chức năng chuyên môn về công nghệ kỹ thuật số. Hoạt động hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra là về nội dung giáo lý, giáo luật hay mặt kỹ thuật thao tác trên không gian mạng. Điểm c khoản 2 Điều 8 dự thảo Luật quy định “doanh nghiệp, tổ chức có liên quan đến việc cung ứng dịch vụ trên không gian mạng” còn bao quát, chưa xác định rõ chủ thể công quyền hay chủ thể khu vực tư, có thể dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm khi có nội dung vi phạm và sự cố kỹ thuật xảy ra.

Thứ hai, Luật năm 2016 và dự thảo Luật đều chưa quy định về giải trình thu chi của các tổ chức tôn giáo. Kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy, Luật các tổ chức tôn giáo yêu cầu các tổ chức phải nộp báo cáo tài chính hàng năm cho Chính phủ và cho phép chính quyền điều tra, đình chỉ các hoạt động kinh doanh vì lợi nhuận nếu vi phạm quy định. Các quy định về quản lý tài sản của tổ chức tôn giáo còn mang tính chung chung; chưa có yêu cầu tổ chức tôn giáo phải nộp báo cáo tài chính hằng năm cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong dự thảo Luật có quy định về quản lý sử dụng nguồn thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng (Điều 18); chưa có quy định điều chỉnh về nguồn thu chi từ các tổ chức tôn giáo. Đồng thời, tại khoản 5 Điều 52 chưa quy định rõ chủ thể tiếp nhận, quản lý các khoản tài trợ của tổ chức, cá nhân người nước ngoài của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; chưa quy định về mục đích của hoạt động quyên góp. Điều này tiềm ẩn nguy cơ tổ chức, cá nhân lợi dụng danh nghĩa tôn giáo tiếp nhận khoản tài trợ và sử dụng cho mục đích phi pháp, trái với đường hướng hành đạo của tổ chức tôn giáo, xâm phạm truyền thống văn hóa của đất nước.

Thứ ba, thiếu các biện pháp chế tài cần thiết đối với hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Pháp áp dụng các biện pháp mạnh như tạm thời đóng cửa cơ sở thờ tự hoặc giải thể các hiệp hội tôn giáo thúc đẩy tư tưởng cực đoan, trái với giá trị của Nhà nước Cộng hòa; hay tại Nhật Bản, cơ quan có thẩm quyền có quyền đình chỉ hoạt động kinh doanh của pháp nhân tôn giáo tối đa 01 năm. Điều 33 dự thảo Luật quy định về cách chức, bãi nhiệm, đình chỉ chức sắc, chức việc. Biện pháp chế tài này thiên tính kỷ luật, chưa thể hiện được vai trò của cơ quan hành chính nhà nước trong quản lý hoạt động tôn giáo.

3. Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo

Để hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hiệu quả hoạt động tôn giáo, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, hội nhập quốc tế cùng với chuyển đổi số, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, việc hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cần phải thực hiện trên cơ sở các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đổi mới tư duy xây dựng, thi hành pháp luật về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, về chính sách tín ngưỡng, tôn giáo[16].

Thứ hai, sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua, cần sớm xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Các văn bản này cần quy định cụ thể, chi tiết các vấn đề sau:

(i) Quy định chi tiết để bảo đảm thực hiện quy định về hoạt động tôn giáo trên không gian mạng.

Các quy định này cần mô tả chi tiết hơn bản chất của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng tại khoản 17 Điều 2 dự thảo Luật. Theo đó, các hoạt động gồm: tổ chức phổ biến nghi lễ, giáo lý, giáo luật; thực hành tín ngưỡng, tôn giáo và tương tác trên không gian mạng. Nền tảng kỹ thuật số là các mạng xã hội phổ biến, nhưng ưu tiên mạng xã hội do Việt Nam phát triển như Zalo. Quy định cần thể hiện rõ mục đích vì giá trị tín ngưỡng, tôn giáo (phân biệt với tin tức quảng bá du lịch, văn hóa tâm linh).

Quy định cụ thể, chi tiết điểm c khoản 2 Điều 8 dự thảo Luật theo hướng quy định rõ doanh nghiệp khu vực tư (có chức năng chuyên môn kỹ thuật) được Nhà nước giao trách nhiệm xây dựng tên miền, logo nhận diện (không trùng lặp hoặc gây nhầm lẫn trên phạm vi toàn quốc; không có tính bài xích giữa các tôn giáo). Còn thẩm quyền giám sát, kiểm tra, thanh tra là về nội dung giáo lý, giáo luật, ấn phẩm tôn giáo được đăng tải trên không gian mạng thuộc về cơ quan nhà nước. Từ đó, có thể dễ dàng truy vết được hành vi sai phạm, phát ngôn gây thù ghét trực tuyến, phân biệt tôn giáo và bảo đảm môi trường tôn giáo trực tuyến văn minh, hài hòa. Các quy định này cần bảo đảm sự đồng bộ với các quy định có liên quan như Luật An ninh mạng năm 2025, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025, Luật Quảng cáo năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Di sản văn hóa năm 2024.

(ii) Quy định cụ thể, chi tiết về việc giải trình thu chi của các tổ chức tôn giáo.

Cần quy định cụ thể, chi tiết, làm rõ nội dung Điều 18 dự thảo Luật về quản lý sử dụng nguồn thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng và việc quản lý nguồn thu chi của tổ chức tôn giáo, công khai tài sản. Đồng thời, cần quy định rõ, cụ thể khoản 5 Điều 52 dự thảo Luật về chủ thể tiếp nhận và quản lý các khoản tài trợ cho tổ chức tôn giáo là người đại diện theo pháp luật, phục vụ mục đích tôn giáo và phúc lợi xã hội dưới sự giám sát của Nhà nước. Quy định này được thực hiện triệt để nhằm ngăn ngừa tình trạng trục lợi từ tôn giáo và phát huy được vai trò là điểm tựa bình an nội tâm của các tổ chức tôn giáo đối với Nhân dân.

(iii) Quy định cụ thể các biện pháp chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ thể vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Để nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, văn bản hướng dẫn thi hành Luật (sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua), cần quy định cụ thể chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ thể là chức sắc, chức việc, tín đồ có hành vi vi phạm về quản lý tín ngưỡng, tôn giáo. Nội dung quy định cụ thể chức danh có thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể của từng chức danh; thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt; thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính. Việc áp dụng chế tài trong quản lý hành chính đối với tín ngưỡng, tôn giáo khi cần thiết cũng cần bảo đảm ôn hòa, linh hoạt, giữ gìn được truyền thống dân tộc.

(iv) Một số giải pháp khác nhằm bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo.

Rà soát, sửa đổi hệ thống pháp luật bảo đảm sự tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việc sửa đổi các quy định của pháp luật trên cơ sở điều ước quốc tế nhằm tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người nói chung (gồm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo) cần lưu ý: mục tiêu vì lợi ích quốc gia, dân tộc như tinh thần Điều 12 Hiến pháp năm 2013; các quy định về giới hạn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải dựa trên cơ sở hợp lý (bảo vệ an ninh, đạo đức xã hội) và không được mang tính phân biệt đối xử theo Điều 14 Hiến pháp năm 2013 và “tuyệt đối không để cài cắm lợi ích” theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đồng thời, tăng cường vai trò của chính quyền địa phương, chính quyền cơ sở gần dân, sát dân nhất để bảo đảm giải quyết kịp thời nhu cầu tôn giáo tại chỗ, phù hợp với thực tiễn sắp xếp, tinh, gọn bộ máy nhà nước.

Kết luận

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người phổ quát được cộng đồng quốc tế thừa nhận và được bảo đảm bởi Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Cách tiếp cận trong hệ thống pháp luật của các quốc gia về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có sự tương đồng và khác biệt nhất định do cả điều kiện chủ quan và khách quan. Nghiên cứu pháp luật của Pháp và Nhật Bản về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho thấy, các cơ quan có thẩm quyền cần phải bảo đảm sự hài hòa giữa việc giữ gìn an ninh quốc gia, trật tự công cộng với việc tôn trọng lối sống, niềm tin tôn giáo.

Với Việt Nam, việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong điều kiện hội nhập quốc tế và chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu của thời đại, mà còn thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Hệ thống pháp luật minh bạch, hiện đại, dung hòa được đức tin tôn giáo sẽ là nền tảng vững chắc để phát huy các nguồn lực tôn giáo, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

ThS. Đoàn Văn Nhật

ThS. Phạm Thị Mai Vui

Trường Đại học Hà Nội

Ảnh: Internet

[1]. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền được Louis XVI phê chuẩn ngày 05/10/1978 dưới áp lực từ Quốc hội và người dân đổ xô đến Versailles. Bản tuyên ngôn này được ghi nhận trong lời mở đầu cho Hiến pháp đầu tiên của Cách mạng Pháp năm 1791 và đặt nền móng cho các Hiến pháp Pháp các năm 1852, 1946 và 1958.

[2]. La Maison Élysée, The Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, https://www.elysee.fr/en/french-presidency/the-declaration-of-the-rights-of-man-and-of-the-citizen, truy cập ngày 26/3/2026.

[3]. Musée virtuel du protestantisme, The Law of 1905, https://museeprotestant.org/en/notice/the-law-of-1905/, truy cập ngày 26/3/2026.

[4]. Văn phòng Quốc hội, Trung tâm Thông tin thư viện và nghiên cứu khoa học (2009), Tuyển tập Hiến pháp một số nước trên thế giới, Nxb. Thống kê, tr. 121.

[5]. LOI n° 2004 - 228 du 15 mars 2004 encadrant, en application du principe de laïcité, le port de signes ou de tenues manifestant une appartenance religieuse dans les écoles, collèges et lycées publics (Luật về sự thế tục và các biểu tượng tôn giáo nổi bật trong nhà trường), https://www.legifrance.gouv.fr/jorf/id/JORFTEXT000000417977/, truy cập ngày 26/3/2026.

[6]. W. Cole Duham, JR - Brett G.Scharffs, Luật pháp và tôn giáo - Tiếp cận so sánh quốc gia, quốc tế, Đặng Hoàng Nam và cộng sự dịch, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội,t r. 221.

[7]. W. Cole Duham, JR - Brett G.Scharffs, sđd, tr. 224.

[8]. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu quyền con người và quyền công dân, Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966), Nxb. Hồng Đức, tr. 282.

[9]. République Française, ACT N0 2010-1192 of 11 october 2010, https://www.diplomatie.gouv.fr/IMG/pdf/Q_A-ENG_2_.pdf, truy cập ngày 26/3/2026.

[10]. République Française, LOI n° 2021-1109 du 24 août 2021 confortant le respect des principes de la République, https://www.legifrance.gouv.fr/jorf/id/JORFTEXT000043964778/, truy cập ngày 26/3/2026.

[11]. Office of International Religious Freedom, 2023 Report on International Religious Freedom: France, https://2021-2025.state.gov/reports/2023-report-on-international-religious-freedom/france/.

[12]. Văn phòng Quốc hội, tlđd, tr.135.

[13]. Religious Corporations Act,

https://www.japaneselawtranslation.go.jp/ja/laws/view/3898/en, truy cập ngày 26/3/2026.

[14]. Bộ Dân tộc và tôn giáo, Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 về Tổng kết việc thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, tr.2.

[15]. Xem tại: https://danchuphapluat.vn/stores/customer_file/huyennt/032026/13/6.DU-THAO-LUAT-BAN-SACH-Ton-giao-13-3-26.pdf.

[16]. Xem Báo cáo số 578/BC-BDTTG ngày 09/3/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo về rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Tôn giáo Chính phủ, Chuyên đề 10: Hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam hiện nay, Tài liệu bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ thông tin, tuyên truyền chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tín ngưỡng, tôn giáo theo Quyết định số 219/QĐ-TTg ngày 21/02/2019 của Thủ tướng Chính phủ.

2. Bộ Dân tộc và tôn giáo, Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 về Tổng kết việc thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

3. European Court of Human Rights, CASE OF S.A.S. v. FRANCE, https://hudoc.echr.coe.int/fre#{%22item id%22:[%22001-145466%22]}, truy cập ngày 26/3/2026.

4. Japanese Law Translation, https://www.japaneselawtranslation.go.jp/ja/laws/view/3898/en, truy cập 26/3/2026.

5. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu quyền con người và quyền công dân, Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966), Nxb. Hồng Đức.

6. La Maison Élysée, The Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, https://www.elysee.fr/en/french-presidency/the-declaration-of-the-rights-of-man-and-of-the-citizen, truy cập ngày 26/3/2026.

7. LOI n° 2004-228 du 15 mars 2004 encadrant, en application du principe de laïcité, le port de signes ou de tenues manifestant une appartenance religieuse dans les écoles, collèges et lycées publics (Luật về sự thế tục và các biểu tượng tôn giáo nổi bật trong nhà trường), https://www.legifrance.gouv.fr/jorf/id/JORFTEXT000000417977/, truy cập ngày 15/3/2026.

8. Musée virtuel du protestantisme, The Law of 1905, https://museeprotestant.org/en/notice/the-law-of-1905/, truy cập ngày 26/3/2026.

9. Office of International Religious Freedom, 2022 Report on International Religious Freedom: Japan, https://2021-2025.state.gov/reports/2022-report-on-international-religious-freedom/japan, truy cập ngày 18/3/2026.

10. Office of International Religious Freedom, 2023 Report on International Religious Freedom: France, https://2021-2025.state.gov/reports/2023-report-on-international-religious-freedom/france/, truy cập ngày 15/3/2026.

11. République Française, LOI n° 2021-1109 du 24 août 2021 confortant le respect des principes de la République, https://www.legifrance.gouv.fr/jorf/id/JORFTEXT000043964778/, truy cập ngày 26/3/2026.

12. République Française, ACT N0 2010-1192 of 11 october 2010, https://www.diplomatie.gouv.fr/IMG/pdf/QA-ENG2.pdf, truy cập ngày 15/3/2026.

13. Shigenori Matsui, Constitutional precedents in Japan: A comment on the role of precedent, https://journals.library.wustl.edu/lawreview/ article/7107/galley/23940/view/, truy cập ngày 26/3/2026.

14. Văn phòng Quốc hội, Trung tâm Thông tin thư viện và nghiên cứu khoa học, Tuyển tập Hiến pháp một số nước trên thế giới, Nxb. Thống kê, 2009.

15. W. Cole Duham, JR - Brett G.Scharffs, Luật pháp và tôn giáo - Tiếp cận so sánh quốc gia, quốc tế, Đặng Hoàng Nam và cộng sự dịch, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016.

16. Yuichiro Tsuji, Freedom of Religion and the Rule of Law in Japan International Conference “Religion and the Rule of Law: Towards a Harmonious Relationship in the Era of Globalization”, Hội thảo quốc tế: “Tôn giáo và pháp quyền: Hướng tới mối quan hệ hài hòa trong kỷ nguyên toàn cầu hóa” do Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Viện Hợp tác Toàn cầu ( IGE), Hoa Kỳ; Trung tâm Nghiên cứu Luật và Tôn giáo Quốc tế, Trường Luật J. Reuben Clark, Đại học Brigham Young ( ICLRS ), Hoa Kỳ; Trung tâm Tín ngưỡng, Trường Kinh tế London (LSE Faith Centre ), Vương quốc Anh; Hội VUFO Việt Nam - Hoa Kỳ đồng tổ chức, https://globalengage.org/assets/ docs/FreedomofReligionandtheRuleof LawinJapan.pdf, truy cập ngày 22/3/2026.

(Nguồn: Ấn phẩm chuyên đề “Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu phải sửa đổi nhằm đáp ứng thực tiễn quản trị hiện đại. Nghiên cứu tập trung đánh giá các khoảng trống pháp lý trên không gian mạng, sự phức tạp trong thủ tục hành chính hiện hành; đồng thời, đi sâu phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc đối với mô hình quản lý tôn giáo trực tuyến và cơ chế hậu kiểm, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh luật học và phân tích chính sách, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các hướng hoàn thiện cụ thể: luật hóa trách nhiệm định danh trên môi trường số, thiết lập cơ chế quản trị nhiều bên và đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn liền với việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Những giải pháp đó nhằm kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần bảo đảm quyền tự do tôn giáo hài hòa với lợi ích an ninh quốc gia.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sáng ngày 14/4, tại Phiên họp thứ Nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý đối với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh.
Hoàn thiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi): củng cố khối đại đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc

Hoàn thiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi): củng cố khối đại đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc

Chiều ngày 10/4, tại phiên thảo luận trên hội trường Quốc hội về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang đã có phần giải trình, làm rõ nhiều nội dung quan trọng, theo đó khẳng định việc sửa đổi Luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; qua đó củng cố khối đại đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Dự thảo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi): Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi): Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) gồm 09 chương, 61 điều, giảm 07 điều so với Luật hiện hành, tập trung điều chỉnh các nội dung liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tổ chức, hoạt động của các tổ chức tôn giáo; cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan.
Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân

Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân

Trong bối cảnh mới, việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm bớt số lượng giấy tờ, rút ngắn thời gian xử lý và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết. Theo đó, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã hoàn thiện một số quy định về thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính về tín ngưỡng, tôn giáo.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI

Sáng ngày 06/4/2026, Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội khóa XV Trần Thanh Mẫn. Trong Chương trình của Kỳ họp, về công tác lập pháp, Quốc hội sẽ tiến hành xem xét thông qua 08 dự án luật và 01 nghị quyết, trong đó có dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm phù hợp, thống nhất, khả thi

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm phù hợp, thống nhất, khả thi

Tại phiên họp mở rộng thẩm tra sơ bộ dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) do Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội tổ chức (ngày 16/3/2026), các đại biểu đã thống nhất thảo luận về kết quả đánh giá những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế sau hơn 8 năm thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
Bảo đảm một số yêu cầu trong chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Bảo đảm một số yêu cầu trong chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Trên cơ sở thảo luận của các thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật được tổ chức ngày 27/02/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 05/3/2026 quyết nghị về một số dự án luật, nghị quyết, trong đó có dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, Chính phủ cơ bản thống nhất dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) do Bộ Dân tộc và Tôn giáo trình tại Tờ trình số 478/TTr-BDTTG ngày 26/02/2026.