Tóm tắt: Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI. Nghiên cứu phân tích, so sánh dự thảo Luật với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và chỉ ra những điểm mới, sửa đổi, bổ sung, những nội dung kế thừa, từ đó, đánh giá những điểm thành công và kiến nghị giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; tín ngưỡng, tôn giáo; hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Đặt vấn đề
Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016) đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập, một số quy định không phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, theo Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026, tại Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XVI dự kiến thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu những nội dung cơ bản của dự thảo Luật và so sánh với Luật năm 2016 để chỉ ra những sửa đổi, bổ sung của dự thảo Luật là cần thiết, góp phần làm rõ hơn những điểm mới căn bản của dự thảo Luật.
1. Tổng quan về bố cục, nội dung của dự thảo Luật
Dự thảo Luật gồm 09 chương với tổng số 61 điều[1]. Cụ thể như sau:
- Chương I. Những quy định chung, gồm 08 điều (từ Điều 1 đến Điều 8) quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; nguyên tắc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hợp tác quốc tế trong công tác tín ngưỡng, tôn giáo; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; các hành vi bị nghiêm cấm và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
- Chương II. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, gồm 05 điều (từ Điều 9 đến Điều 13) quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; quyền của tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
- Chương III. Hoạt động tín ngưỡng, gồm 05 điều (từ Điều 14 đến Điều 18) quy định về người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng; thông báo, đăng ký hoạt động tín ngưỡng; tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ; tổ chức lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi và quản lý, sử dụng khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng.
- Chương IV. Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo, gồm 02 điều (Điều 19, Điều 20) quy định về điều kiện, thẩm quyền chấp thuận, thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung; điều kiện, thẩm quyền chấp thuận, thu hồi văn bản chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo.
- Chương V. Tổ chức tôn giáo, gồm 18 điều (từ Điều 21 đến Điều 38) quy định về công nhận tổ chức tôn giáo; thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc; phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành; cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo.
- Chương VI. Hoạt động tôn giáo; hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo, gồm 13 điều (từ Điều 39 đến Điều 51) quy định về hoạt động tôn giáo; hoạt động tôn giáo có yếu tố nước ngoài; hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo.
- Chương VII. Tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, gồm 04 điều (từ Điều 52 đến Điều 55) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo.
- Chương VIII. Quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, gồm 04 điều (từ Điều 56 đến Điều 59) quy định về nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; thẩm quyền quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; kiểm tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo và khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về tín ngưỡng, tôn giáo.
- Chương IX. Điều khoản thi hành, gồm 02 điều (Điều 60, Điều 61) quy định về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp. Dự thảo Luật quy định Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027.
2. Những nội dung sửa đổi, bổ sung, kế thừa và lược bỏ
So với Luật năm 2016, dự thảo Luật giảm 07 điều[2], bổ sung mới 03 điều và có nhiều nội dung bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện. Cụ thể:
2.1. Những nội dung bổ sung
Thứ nhất, dự thảo Luật bổ sung mới 03 điều.
- Bổ sung Điều 3 về nguyên tắc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Trên cơ sở khoản 1 Điều 9, Điều 10 Luật năm 2016 và các nội dung quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, Điều 3 dự thảo Luật quy định về nguyên tắc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, gồm cả hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trực tiếp và hoạt động trên không gian mạng. Việc bổ sung này là cần thiết để giải quyết được các bất cập trên thực tế hiện nay, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động vàcơ quan Nhà nước quản lý hiệu quả hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên thực tế.
- Bổ sung Điều 5 về hợp tác quốc tế trong công tác tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó, quy định các nguyên tắc và nội dung hợp tác quốc tế trong công tác tín ngưỡng, tôn giáo. Việc bổ sung này là cần thiết trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế sâu, rộng, toàn diện để có thể học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia khác trong công tác tín ngưỡng, tôn giáo.
- Bổ sung Điều 8 về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Đồng thời, dự thảo Luật còn bổ sung khoản 17 Điều 2 để giải thích về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Việc bổ sung khoản 17 Điều 2 và Điều 8 của dự thảo Luật là cần thiết vì: (i) để giải thích rõ thế nào là hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; (ii) để tạo cơ sở pháp lý nhằm tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; (iii) để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; (iv) để tạo thuận lợi trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và trên không gian mạng nói riêng; (v) để phù hợp với thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên thực tế hiện nay.
Thứ hai, dự thảo Luật bổ sung một số điểm, một số khoản tại 14 điều.
Cùng với việc bổ sung 03 điều mới, dự thảo Luật còn bổ sung một số điểm, khoản tại 11 điều (bổ sung khoản 17 Điều 2; khoản 4, khoản 6 Điều 14; điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 15; điểm c khoản 1, các khoản 4, 5 và 6 Điều 19; các khoản 3 và 4 Điều 20; khoản 4 Điều 33, khoản 1 Điều 34; khoản 5 Điều 35; khoản 2 Điều 40; khoản 1, 3 và 4 Điều 43, khoản 3 Điều 44).
- Bổ sung khoản 4, khoản 6 Điều 14 để quy định về việc bầu, cử người đại diện cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn nhiều xã trong một tỉnh và đối với người đại diện cơ sở tín ngưỡng đã được đưa vào Danh mục kiểm kê, xếp hạng di tích. Việc bổ sung này là cần thiết, vì đối với cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn nhiều xã trong một tỉnh thì Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh sẽ phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức để cộng đồng dân cư nơi có cơ sở tín ngưỡng bầu, cử người đại diện và căn cứ kết quả bầu, cử và điều kiện theo quy định, sẽ công nhận người đại diện hoặc thành viên ban quản lý. Đối với cơ sở tín ngưỡng đã đưa vào Danh mục kiểm kê, xếp hạng di tích thì thực hiện việc giao tổ chức, người đại diện quản lý cơ sở theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.
- Bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 15 để quy định về việc thông báo hoạt động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng và đăng ký hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng. Việc bổ sung này là cần thiết, vì đối với cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn một xã thì người đại diện hoặc ban quản lý có trách nhiệm thông báo bằng văn bản hoạt động tín ngưỡng với UBND cấp xã nơi có cơ sở tín ngưỡng; đối với cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn nhiều xã trong một tỉnh thì người đại diện hoặc ban quản lý có trách nhiệm thông báo bằng văn bản hoạt động tín ngưỡng với UBND cấp tỉnh nơi có cơ sở tín ngưỡng. Người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng hoặc tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại điểm a hoặc b khoản 2 Điều này. Các hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng phải đăng ký, thẩm quyền chấp thuận và giao Chính phủ quy định các hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng phải đăng ký.
- Bổ sung các khoản 5 và 6 Điều 19; các khoản 3 và 4 Điều 20; khoản 4 Điều 33, các khoản 1 và 4 Điều 43 về các biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Việc bổ sung các nội dung này là để xây dựng, hình thành văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp, pháp luật của các tổ chức, cá nhân có liên quan; đề cao công tác phòng ngừa, cảnh báo vi phạm đi đôi với việc tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Vìvậy, dự thảo Luật bổ sung một số biện pháp có tính chất cảnh báo, khuyến cáo, răn đe, ngăn ngừa các tổ chức, cá nhân có liên quan có hành vi vi phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể:
(i) Bổ sung khoản 4 Điều 19 để quy định, trong thời hạn nhất định nếu nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của công dân Việt Nam không tổ chức sinh hoạt tôn giáo tập trung thì văn bản chấp thuận của UBND cấp xã hết hiệu lực, trừ trường hợp bất khả kháng; bổ sung khoản 5 Điều 19 và khoản 3 Điều 43 về biện pháp thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
(ii) Bổ sung khoản 3 Điều 20 để quy định, trong thời hạn nhất định nếu tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo không tổ chức hoạt động tôn giáo thì văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hết hiệu lực, trừ trường hợp bất khả kháng[3]; bổ sung khoản 4 Điều 20 về biện pháp thu hồi văn bản chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo.
(iii) Bổ sung khoản 4 Điều 33 về biện pháp đình chỉ chức vụ của chức việc. Đồng thời, dự thảo Luật cũng bổ sung các điều kiện, thu hồi văn bản đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam tại khoản 1, khoản 4 Điều 43 và bổ sung nội dung người Việt Nam làm chức sắc cho tổ chức tôn giáo nước ngoài giảng đạo cho tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo tại khoản 3 Điều 44.
- Bổ sung khoản 1 Điều 34 để quy định điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo. Điều 34 dự thảo Luật đã kế thừa các điều kiện từ Luật năm 2016 và bổ sung điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 26 dự thảo Luật.
- Bổ sung quy định về trình độ đào tạo, hình thức đào tạo, phương thức đào tạo của cơ sở đào tạo tôn giáo phải tuân thủ chuẩn chương trình đào tạo do Chính phủ quy định.
2.2. Những nội dung sửa đổi, hoàn thiện
Để bảo đảm phù hợp với tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ, cải tiến phương thức quản lý, điều hành gắn với mô hình tổ chức chính quyền ba cấp, nâng cao tính ổn định, khả năng dự báo của Luật, dự thảo Luật đã sửa đổi, hoàn thiện 45 điều.
Một là, sửa đổi, hoàn thiện Điều 1 quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng. Bổ sung cụm từ “cộng đồng” để bảo đảm thống nhất với pháp luật hiện hành về di sản và pháp luật có liên quan[4], phù hợp với thực tiễn nhiều hoạt động thờ cúng tín ngưỡng gắn với sinh hoạt cộng đồng theo truyền thống, phong tục, tập quán. Đồng thời, rà soát, bổ sung vào các quy định có liên quan về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của “cộng đồng” trong hoạt động tín ngưỡng như tại Điều 13.
Hai là, sửa đổi, hoàn thiện một số cụm từ được giải thích tại Điều 2, gồm: hoạt động tín ngưỡng, lễ hội tín ngưỡng, cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo, chức việc để phù hợp với thực tiễn hoạt động của các tổ chức, cá nhân tín ngưỡng, tôn giáo cũng như pháp luật có liên quan.
Ba là, sửa đổi, hoàn thiện quy định tại Điều 14 về người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng. Trên cơ sở quy định tại Điều 11 Luật năm 2016, Điều 14 dự thảo Luật quy định cụ thể về nhiệm kỳ hoạt động của người đại diện, thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng[5]; chỉnh sửa, làm rõ hơn quy định liên quan đến thẩm quyền, trách nhiệm của UBND cấp xã và UBND cấp tỉnh nơi có cơ sở tín ngưỡng (trừ cơ sở tín ngưỡng là nhà thờ dòng họ) phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức để cộng đồng dân cư nơi có cơ sở tín ngưỡng bầu, cử người đại diện hoặc thành viên ban quản lý và quy định cụ thể trách nhiệm của UBND cấp xã, UBND cấp tỉnh trong việc ban hành “quyết định” công nhận người đại diện hoặc thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng.
Đồng thời, khoản 6 Điều 14 dự thảo Luật bổ sung quy định cơ sở tín ngưỡng đã được đưa vào Danh mục kiểm kê, xếp hạng di tích thì thực hiện việc giao tổ chức, người đại diện quản lý cơ sở theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.
Bốn là, sửa đổi, hoàn thiện Điều 15 quy định về đăng ký hoạt động tín ngưỡng. Trên cơ sở quy định tại Điều 12 Luật năm 2016, Điều 15 dự thảo Luật quy định cụ thể về trách nhiệm và thẩm quyền trong việc thông báo, đăng ký hoạt động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng (cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn một xã; cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn nhiều xã trong một tỉnh) và hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng của người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng hoặc của tổ chức, cá nhân (tại các cơ sở do cá nhân hoặc doanh nghiệp đầu tư xây dựng có tổ chức hoạt động tín ngưỡng). Theo đó, khoản 3 Điều 15 dự thảo Luật quy định cụ thể các hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng phải đăng ký, thẩm quyền chấp thuận và giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này.
Năm là, sửa đổi, hoàn thiện quy định tại các điều 19, 20, 21, 26, 29 và 34. Gắn với quy định về việc không quy định trình tự, thủ tục tại dự thảo Luật, trên cơ sở quy định tại Điều 16 Luật năm 2016, Điều 19 dự thảo Luật sửa đổi tên gọi của điều, theo đó cùng với quy định về điều kiện, thẩm quyền chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, dự thảo Luật bổ sung quy định về thẩm quyền thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung. Đồng thời, để bảo đảm tính thống nhất với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2017, 2020, 2022, 2024, 2025 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012), Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025), dự thảo Luật quy định cụ thể hơn về điều kiện của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho tín đồ tại những nơi chưa đủ điều kiện thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho những người thuộc tổ chức. Theo đó, nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung có người đại diện là công dân Việt Nam phải thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; không có án tích hoặc không bị coi là có án tích, trừ trường hợp án tích về tội xâm phạm an ninh quốc gia; tên của nhóm không trùng với tên của các nhóm đã được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung (điểm c khoản 1 Điều 19). Bên cạnh đó, để bảo đảm tính thống nhất trong nội tại quy định của Luật, tương tự như quy định tại điểm c khoản 1 Điều 19, dự thảo Luật đã sửa đổi, hoàn thiện quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 (đối với tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo), điểm d khoản 1 Điều 21 (đối với tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được công nhận là tổ chức tôn giáo), điểm c khoản 1 Điều 26 (đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc), khoản 2 Điều 29 (phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc), khoản 1 Điều 34 (đối với tổ chức tôn giáo thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo), điểm a khoản 3 Điều 47 (phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử có yếu tố nước ngoài).
Sáu là, sửa đổi, hoàn thiện Điều 22 quy định về nội dung Hiến chương của tổ chức tôn giáo. Trên cơ sở quy định tại Điều 23 Luật năm 2016 và Điều 8 dự thảo Luật về “Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng”, gắn với trách nhiệm của các tổ chức tôn giáo, điểm l khoản 1 Điều 22 dự thảo Luật bổ sung trong nội dung của Hiến chương quy định về “Nguyên tắc, trách nhiệm hoạt động tôn giáo trên không gian mạng”.
Bảy là, sửa đổi, hoàn thiện Điều 31 quy định về đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc. Trên cơ sở quy định tại Điều 34 Luật năm 2016, dự thảo Luật quy định, nếu bổ nhiệm, suy cử chức việc thì tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đăng ký trước (không qua đại hội); nếu bầu cử chức việc (qua đại hội) thì các tổ chức nêu trên sẽ gửi hồ sơ đăng ký sau khi có kết quả, nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo không có dự kiến trước nhân sự có thể thực hiện được.
Tám là, sửa đổi, hoàn thiện Điều 35 quy định về hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo. Để tạo điều kiện cho cơ sở đào tạo tôn giáo trong việc đào tạo các trình độ, hình thức (chính quy hoặc thường xuyên), phương thức đào tạo (trực tiếp, từ xa hoặc kết hợp trực tiếp với từ xa), mặt khác, nhằm quản lý việc đào tạo các bậc học sau cử nhân của các cơ sở đào tạo tôn giáo, dự thảo Luật quy định “Trình độ đào tạo, hình thức đào tạo, phương thức đào tạo của cơ sở đào tạo tôn giáo phải tuân thủ chuẩn chương trình đào tạo do Chính phủ quy định”.
Chín là, sửa đổi, hoàn thiện Điều 47 quy định về phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử có yếu tố nước ngoài. Trên cơ sở quy định tại Điều 51 Luật năm 2016, để bảo đảm logic, Điều 47 dự thảo Luật quy định tách bạch cụ thể về các điều kiện liên quan đến phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử có yếu tố nước ngoài: (i) tổ chức tôn giáo nước ngoài phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử cho công dân Việt Nam ở Việt Nam; (ii) tổ chức tôn giáo ở Việt Nam phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị cho người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
Mười là, sửa đổi, hoàn thiện Điều 50, Điều 51 quy định về hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo. Trên cơ sở quy định tại Điều 54, Điều 55 Luật năm 2016, dự thảo Luật đã sửa đổi, hoàn thiện các quy định theo hướng kế thừa các hoạt động về xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm (được thực hiện); đối với hoạt động giáo dục, y tế (được tham gia); đối với các hoạt động bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo, các tổ chức sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Quy định này nhằm phát huy nguồn lực của các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Bên cạnh đó, Điều 50, Điều 51 dự thảo Luật đã bổ sung chủ thể được đề xuất thực hiện hoặc được tham gia đối với các hoạt động này.
Mười một là, sửa đổi, hoàn thiện Điều 56 quy định về nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 60 Luật năm 2016, đồng thời, bảo đảm tính thống nhất với quy định tại khoản 3 Điều 59 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 (sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 87/2025/QH15) về nội dung tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, Điều 56 dự thảo Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định về nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Mười hai là, sửa đổi, hoàn thiện Điều 57 quy định về thẩm quyền quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân định rõ thẩm quyền của từng cấp, từng cơ quan, đơn vị và cá nhân, Điều 57 dự thảo Luật đã sửa đổi, hoàn thiện quy định về thẩm quyền quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo theo hướng Quốc hội giao Chính phủ thống nhất quản lýnhànước vềtín ngưỡng, tôn giáo trong phạm vi cả nước. Bộ Dân tộc và Tôn giáo, thực hiện thẩm quyền quy định tại Luật này và các thẩm quyền khác theo quy định của Chính phủ. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo khi thực hiện các nhiệm vụ theo thẩm quyền có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương.
Mười ba là, sửa đổi, hoàn thiện Điều 58 quy định về kiểm tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo. Trên cơ sở quy định tại Điều 62 Luật năm 2016, Điều 58 dự thảo Luật đã sửa đổi, hoàn thiện quy định cụ thể về kiểm tra chuyên ngành lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo (thay cho quy định về thanh tra chuyên ngành như Luật năm 2016) để thực hiện Kết luận số 134-KL/TW ngày 28/3/2025 về Đề án sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Mười bốn là, dự thảo Luật đã rà soát, chỉnh lý các điều, khoản có liên quan để tạo sự thống nhất trong tổng thể toàn bộ dự thảo Luật, gồm các điều 4, 6, 7, 10, 12, 16, 17, 30, 32, 33, 36, 37, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 49, 54, 55, 60 và 61.
2.3. Những nội dung kế thừa quy định của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016
Bên cạnh việc bổ sung mới, sửa đổi, hoàn thiện các quy định của Luật năm 2016, dự thảo Luật đã kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật năm 2016. Cụ thể, dự thảo Luật kế thừa, giữ nguyên 13 điều, gồm các điều 6, 7, 15, 25, 26, 27, 30, 31, 42, 52, 56, 57, 63.
2.4. Những nội dung lược bỏ
Thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới tư duy xây dựng, thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và để phù hợp với yêu cầu mới của đất nước, nhất là thực hiện sắp xếp, tinh gọn bộ máy, Dự thảo Luật đã lược bỏ các quy định về trình tự, thủ tục, gồm các nội dung quy định tại 24 điều. Cụ thể: khoản 2 Điều 13, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 15, các điều 17, 19, 22, 24, 29, khoản 3 Điều 33, các điều 34, 35, 36, 38, 39, 41, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 53 của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
Đồng thời, dự thảo Luật lược bỏ quy định tại khoản 1 Điều 9[6], Điều 10[7]Luật năm 2016 do dự thảo Luật đã bổ sung Điều 3 về nguyên tắc chung cho hoạt động tín ngưỡng và tôn giáo; lược bỏ quy định tại Điều 64 và Điều 65 Luật năm 2016 để phù hợp, thống nhất với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025), Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành do các quy định tại Điều 64 và Điều 65 Luật năm 2016 dẫn chiếu đến việc xử phạt vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đã được quy định và thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, hình sự và cán bộ, công chức.
3. Một số nhận xét, đánh giá về dự thảo Luật
Từ bố cục, nội dung và qua phân tích, so sánh những sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 như trên, có thể nhận xét, đánh giá dự thảo Luật như sau:
3.1. Một số thành công nổi bật
Dự thảo Luật đã thành công ở những điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, dự thảo Luật, về cơ bản đã thể chế hóa được những quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về chính sách tín ngưỡng, tôn giáo như bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; huy động và phát huy vai trò của các tổ chức tôn giáo vào phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Đặc biệt, dự thảo Luật đã thể chế hóa được các chính sách theo Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 10/02/2026 của Chính phủ về chính sách của Luật Tín ngưỡng tôn giáo (sửa đổi). Cụ thể:
- Các quy định của dự thảo Luật phù hợp với nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp giữa các dân tộc; giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc; bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc; xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
- Khoản 1 Điều 4 dự thảo Luật quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc “tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, bảo đảm các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.
- Khoản 1 Điều 7 dự thảo Luật quy định các hành vi bị nghiêm cấm “phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo” và điểm d khoản 4 Điều 7 quy định “chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau”.
Thứ hai, dự thảo Luật được xây dựng theo tư duy mới về xây dựng pháp luật. Luật chỉ quy định những vấn đề chung, mang tính nguyên tắc, cơ bản ổn định, ít thay đổi; những nội dung cụ thể, thường xuyên thay đổi như trình tự, thủ tục, hồ sơ thực hiện giao Chính phủ quy định[8].
Thứ ba, dự thảo Luật đã thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính. Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung một số quy định về thủ tục hành chính theo hướng tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính về tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể:
- Sửa đổi, bổ sung 07 thủ tục hành chính theo Luật năm 2016, trong đó có 02 thủ tục đăng ký có bổ sung về chủ thể và địa bàn hoạt động; 01 thủ tục đăng ký từ tiền kiểm chuyển sang hậu kiểm và 04 thủ tục theo hướng cho đăng ký (thay vì đề nghị) tại khoản 3 Điều 15, khoản 5 Điều 31 và Điều 42 dự thảo Luật. Cụ thể: (i) đăng ký hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn một xã; (ii) thủ tục đăng ký hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn nhiều xã trong một tỉnh; (iii) thủ tục đăng ký chức việc sau khi có kết quả bầu cử của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; (iv) thủ tục đăng ký tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở một tỉnh hoặc nhiều tỉnh; (v) thủ tục đăng ký giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở một tỉnh hoặc nhiều tỉnh; (vi) thủ tục đăng ký tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở một xã; (vii) thủ tục đăng ký giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở một xã.
- Sửa đổi, bổ sung 03 thủ tục hành chính theo Luật năm 2016 theo hướng chuyển từ quy định phải đăng ký thành thông báo: 02 thủ tục đăng ký hoạt động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng quy định tại khoản 2 Điều 15 dự thảo Luật và 01 thủ tục đăng ký mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo cho người chuyên hoạt động tôn giáo quy định tại khoản 1 Điều 37 dự thảo Luật.
- Bỏ các quy định có liên quan đến cắt giảm thành phần hồ sơ không cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo như bỏ phiếu lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam tại điểm b khoản 2 Điều 19, điểm c khoản 2 Điều 22, điểm c khoản 2 Điều 29, khoản 3 Điều 33, điểm b khoản 4 Điều 34, điểm b khoản 2 Điều 38 của Luật năm 2016.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật bỏ các quy định về thành phần hồ sơ, thời hạn thực hiện các thủ tục trong Luật, giao Chính phủ quy định chi tiết và phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp hiện nay và theo đúng chủ trương của Đảng về đổi mới tư duy xây dựng pháp luật.
Thứ tư, dự thảo Luật đã thực hiện phân cấp, phân quyền, quy định rõ thẩm quyền của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền ba cấp và bối cảnh đất nước hiện nay.
Dự thảo Luật đã đẩy mạnh phân quyền, phân cấp cho UBND cấp tỉnh, cấp xã và quy định rõ thẩm quyền của từng cấp, từng cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, phù hợp với nguyên tắc phân định thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan và điều kiện, đặc điểm, nguồn lực, năng lực của địa phương, bảo đảm tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Dự thảo Luật quy định về thẩm quyền của UBND cấp tỉnh và cấp xã như sau:
- UBND cấp tỉnh là chủ thể có thẩm quyền thực hiện 02 thủ tục mà theo quy định của Luật năm 2016, thẩm quyền này thuộc về Bộ Nội vụ (nay thuộc Bộ Dân tộc và Tôn giáo), gồm: (i) đề nghị cho người nước ngoài đến giảng đạo cho nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; (ii) đề nghị cho người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam.
- UBND tỉnh là chủ thể thực hiện 14 thủ tục (14 thẩm quyền) mà theo quy định của Luật năm 2016, thẩm quyền này thuộc cơ quan chuyên môn về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh, để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, gồm: (i) đề nghị cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở một tỉnh; (ii) đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 34 của Luật năm 2016; (iii) đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc của tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở một tỉnh; (iv) đăng ký mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo cho người chuyên hoạt động tôn giáo; (v) tiếp nhận thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc đối với các trường hợp phong phẩm hoặc suy cử chức sắc không phải là hòa thượng, thượng tọa, ni trưởng, ni sư của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; giám mục, linh mục của Giáo hội Công giáo Việt Nam; mục sư của các tổ chức Tin Lành; phối sư trở lên của các Hội thánh Cao Đài; giảng sư trở lên của Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam và các phẩm vị tương đương của các tổ chức tôn giáo khác; (vi) tiếp nhận thông báo thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành; (vii) tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một tỉnh; (viii) tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm chức việc của tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở một tỉnh; (ix) tiếp nhận thông báo danh mục hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một tỉnh; (x) tiếp nhận thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một tỉnh; (xi) tiếp nhận thông báo tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một tỉnh; (xii) đề nghị tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một tỉnh; (xiii) đề nghị tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở nhiều xã thuộc một tỉnh hoặc ở nhiều tỉnh; (xiv) đề nghị giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở nhiều xã thuộc một tỉnh hoặc ở nhiều tỉnh.
- UBND cấp xã thực hiện 05/08 thẩm quyền mà theo quy định của Luật năm 2016 thẩm quyền này thuộc UBND cấp huyện, gồm: (i) tiếp nhận thông báo mở lớp bồi dưỡng tôn giáo cho người không chuyên hoạt động tôn giáo; (ii) tiếp nhận thông báo tổ chức hội nghị thường niên của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một xã; (iii) chấp thuận tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở một xã; (iv) chấp thuận tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, ngoài địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức trong một xã; (v) chấp thuận việc giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, ngoài cơ sở tôn giáo, ngoài địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức trong một xã.
- Khoản 3 Điều 60 dự thảo Luật quy định giao Chính phủ quy định chi tiết hơn 30 nội dung tại 34 điều của Luật để tiếp tục thực hiện chủ trương phân cấp, phân quyền, gắn với việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản trị quốc gia.
Thứ năm, dự thảo Luật đã quy định cơ sở pháp lý để thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể, khoản 17 Điều 2 và Điều 8 quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng tạo điều kiện để cá nhân, tổ chức, cơ quan quản lý ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, phù hợp với quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ sáu, dự thảo Luật cơ bản đã giải quyết và khắc phục được những bất cập, khó khăn, vướng mắc phát sinh trên thực tế trong quá trình thực hiện triển khai Luật năm 2016[9]. Đồng thời, dự thảo Luật đã cơ bản tương thích, phù hợp với các đạo luật về lĩnh vực chuyên ngành tạo thành hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, dễ tiếp cận.
Thứ bảy, về bảo đảm quốc phòng, an ninh, bình đẳng giới và hội nhập quốc tế. Nghiên cứu cho thấy, các quy định của dự thảo Luật cơ bản bảo đảm phù hợp với các yêu cầu về quốc phòng, an ninh; bảo đảm tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên như Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights - UDHR) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR). Đồng thời, dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam, nữ và không phân biệt đối xử về giới, tạo điều kiện để mọi người và cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển và tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Có thể khẳng định, dự thảo Luật đã được xây dựng theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về chính sách tín ngưỡng, tôn giáo; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức và bảo đảm để các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo này được thực hiện trên thực tế. Đặc biệt, về cơ bản, dự thảo Luật đã giải quyết, khắc phục được những hạn chế, khó khăn, bất cập, tồn tại trong quy định và thực tiễn thi hành Luật năm 2016.
3.2. Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và tổ chức thi hành sau khi dự thảo Luật sau được Quốc hội thông qua
Dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những thành công, điểm tích cực và khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật năm 2016; thể chế được các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, tư duy xây dựng pháp luật mới nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, để các quy định của Luật được thực hiện thuận lợi, sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua, Chính phủ cần sớm ban hành nghị định hướng dẫn thi hành Luật và quy định cụ thể các nội dung sau:
Một là, quy định cụ thể hóa các điều luật được Quốc hội giao Chính phủ quy định chi tiết tại khoản 3 Điều 60 dự thảo Luật, gồm Điều 8, khoản 5 Điều 9, khoản 3 và 4 Điều 14, khoản 2 và 3 Điều 15, khoản 1 Điều 16, Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 21, khoản 2 Điều 22, khoản 3 và 4 Điều 23, Điều 24, Điều 26, khoản 2 Điều 27, khoản 2 và 3 Điều 28, Điều 30, Điều 31, Điều 32, khoản 2, 3 và 4 Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 41, khoản 1, 2 và 3 Điều 42, Điều 43, khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 44, Điều 45, Điều 46, khoản 4 và 5 Điều 47, Điều 49, khoản 5 Điều 52. Đặc biệt, nghị định hướng dẫn thi hành Luật cần phải cụ thể hóa các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Việc cụ thể hóa các thủ tục hành chính phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, liên thông, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức có liên quan, đồng thời, phải đơn giản, minh bạch, dễ hiểu, dễthực hiện, chi phí tuân thủ thấp. Có như vậy, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo mới tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức và cơ quan quản lý triển khai Luật được thuận lợi trên thực tế, đồng thời, đây cũng là cơ sở để xem xét xử lý trách nhiệm đối với các cá nhân, tổ chức có liên quan nếu để xảy ra chậm trễ hoặc sai sót trong quátrình thi hành Luật vàgiải quyết công việc cho người dân.
Hai là, tiếp tục rà soát cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, như cắt giảm thời gian giải quyết, thành phần hồ sơ, tài liệu không cần thiết hoặc đã được tích hợp trên hệ thống cơ sở dữ liệu,… để tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện.
Ba là, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến Luật bằng các hình thức đa dạng, phong phú, đưa pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo đến với các tầng lớp Nhân dân để các cá nhân, tổ chức hiểu rõ, thực hiện đồng bộ, hiệu quả trên thực tế.
Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, tập trung về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý về pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo và các vấn đề có liên quan để việc thực hiện, triển khai Luật được thực hiện đồng bộ, thống nhất trên thực tế.
Kết luận
Qua nghiên cứu, phân tích vàso sánh với Luật năm 2016 cho thấy, nội dung dự thảo Luật đã phù hợp với quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, chính sách về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Đặc biệt, nội dung dự thảo Luật về cơ bản đã khắc phục được những bất cập, hạn chế của Luật năm 2016. Vì vậy, dự thảo Luật được thông qua sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của cá nhân, tổ chức và để thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên thực tế đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đồng thời, dự thảo Luật được thông qua còn góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, sau khi dự thảo Luật được thông qua, để Luật được tổ chức thi hành trên thực tế đạt chất lượng, hiệu quả cao, cần thực hiện tổng thể các giải pháp, trong đó, cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành để quy định cụ thể, chi tiết một số điều, khoản của Luật; chú trọng tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; đào tạo, tập huấn kiến thức pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho đội ngũ cán bộ.
Trung tá. ThS. Nguyễn Quốc Vương
Giảng viên, Khoa Quân sự địa phương, Trường Sĩ quan lục quân 1
ThS. Trần Xuân Hiến
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp
[1]. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bài viết này là dự thảo Luật kèm theo Báo cáo của Chính phủ tiếp thu, giải trình kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Báo cáo thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).
[2]. Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 gồm 9 chương, 68 điều; Dự thảo Luật gồm 9 chương, 61 điều.
[3]. Bộ Dân tộc và Tôn giáo đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh; UBND cấp tỉnh đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở một tỉnh.
[4]. Điều 2 Luật Di sản văn hóa năm 2024; Điều 16, Điều 178 Luật Đất đai năm 2024; Điều 4, Điều 14 Luật Lâm nghiệp năm 2017…
[5]. Thời hạn nhiệm kỳ của người đại diện, thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng do cộng đồng dân cư quyết định.
[6]. Quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
[7]. Quy định nguyên tắc tổ chức hoạt động tín ngưỡng.
[8]. Các tư duy đổi mới xây dựng pháp luật được thể hiện trong Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2026 của Bộ Chính trị về đổi mới tư duy xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật (Kết luận số 119-KL/TW); Thông báo số 108-TB/VPTW ngày 18/11/2024 thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp.
[9]. Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao.
2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
3. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
4. Bộ Chính trị, Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật.
5. ThS. Nguyễn Xuân Trung, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp Việt Nam, https://noichinh.vn/ho-so-tu-lieu/201401/quyen-tu-do-tin-nguong-ton-giao-trong-hien-phap-viet-nam-293755/#:~:text=h%C6%A1n:%20%E2%80%9CM%E1%BB%8Di%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20%C4%91%E1%BB%81u%20c%C3%B3,n%C6%A1i%20c%C3%B4ng%20c%E1%BB%99ng%20ho%E1%BA%B7c%20n%C6%A1i, truy cập ngày 20/3/2026.
6. ThS. Nguyễn Trường Anh (2024), Học viện An ninh nhân dân, Hoàn thiện pháp luật về hoạt động xã hội, từ thiện của các tôn giáo Việt Nam trong tình hình hiện nay, https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/02/06/hoan-thien-phap-luat-ve-hoat-dong-xa-hoi-tu-thien-cua-cac-ton-giao-viet-nam-trong-tinh-hinh-hien-nay/, truy cập ngày 20/3/3026.
7. Vũ Hoài Bắc (2025), Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, Sự cần thiết và những nội dung dự kiến cần xây dựng trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo sửa đổi, https://dangcongsan.vn/uybandantoc/tin-tuc-hoat-dong/su-can-thiet-va-nhung-noi-dung-du-kien-can-xay-dung-trong-luat-tin-nguong-ton-giao-sua-doi.html, truy cập ngày 20/03/2026.
8. TS. Phan Thị Mỹ Bình (2026), Học viện Hành chính Quốc gia, Hoàn thiện quy định pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=791, truy cập ngày 20/3/2026.
9. TS. Nguyễn Thị Định (2026), Ban Tôn giáo Chính phủ, Xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, http://www.cema.gov.vn/uy-ban-dan-toc-voi-dia-phuong/xay-dung-luat-tin-nguong-ton-giao-sua-doi-nham-bao-dam-tot-hon-quyen-tu-do-tin-nguong-ton-giao.htm, truy cập ngày 20/03/2026.
10. Lê Văn Lộc (2023), Ban Dân vận Huyện ủy Bến Lức, tỉnh Long An, Hoàn thiện chính sách tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/06/20/hoan-thien-chinh-sach-ton-giao-trong-giai-doan-hien-nay/, truy cập ngày 20/3/2026.
11. Pháp luật và thực tiễn về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam https://sonoivu.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/phap-luat-va-thuc-tien-ve-bao-dam-quyen-tu-do-tin-nguong-ton-giao-o-viet-nam?type=NEWS&id=127165, truy cập ngày 20/3/2026.
(Nguồn: Ấn phẩm chuyên đề “Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” xuất bản năm 2026)