Chủ nhật 10/05/2026 12:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

1. Thực trạng các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Những năm gần đây, khi không gian mạng trở thành môi trường quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, các tổ chức, cá nhân tôn giáo đã sử dụng không gian mạng để tuyên truyền giáo lý, tổ chức các buổi sinh hoạt tín ngưỡng, kết nối cộng đồng. Không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian, người dân có thể tham gia các hoạt động tôn giáo chỉ với một thiết bị kết nối internet (điện thoại thông minh, máy tính bảng…). Những buổi lễ, bài giảng hay hoạt động cộng đồng được phát trực tiếp trên các trang mạng xã hội thu hút hàng nghìn, hàng chục nghìn người theo dõi.

Có thể nói “không gian mạng” đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” để các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo đẩy mạnh truyền giáo, phát triển tín đồ và mở rộng sức ảnh hưởng. Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng thực hiện dưới nhiều hình thức (diễn đàn, nhóm kín, hội thảo, tọa đàm trực tuyến) thông qua các ứng dụng như: Facebook, TikTok, Zalo, Zoom, Skype, Youtube, Instagram, Twitter, WhatsApp, Telegram… Điều này, bên cạnh việc mang lại thuận lợi giúp lan tỏa các giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam, còn nhiều tác động tiêu cực, đặc biệt là tình hình vi phạm pháp luật trên không gian mạng liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Một số tổ chức, cá nhân “mượn danh” hoặc lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để sinh hoạt trá hình trên không gian mạng, tạo ra nhiều hình thức biến tướng phức tạp, nguy hiểm như: tuyên truyền bài xích tôn giáo truyền thống; tuyên truyền mê tín dị đoan, trái với chuẩn mực đạo đức, truyền thống văn hóa, thuần phong, mỹ tục của dân tộc; thực hiện “kinh doanh tâm linh”, trục lợi kinh tế[1]

Lợi dụng vấn đề tôn giáo, các thế lực thù địch xuyên tạc chính sách tôn giáo và hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí, chúng lợi dụng một số chức sắc, tín đồ có nhận thức hạn chế hoặc tư tưởng cực đoan để lôi kéo tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; gây mất đoàn kết trong nội bộ tôn giáo, chia rẽ tôn giáo với chính quyền. Bên cạnh đó, lợi dụng sự phát triển của công nghệ số, các thế lực thù địch thường xuyên tung ra những video, bài viết, hình ảnh cắt ghép, bóp méo sự thật, vu cáo chính quyền “can thiệp thô bạo vào tôn giáo”, “xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Chúng muốn lợi dụng tôn giáo như “lá chắn” để che đậy hành vi chống phá, đồng thời tranh thủ sự hậu thuẫn của các thế lực chống đối ở bên ngoài[2].

Trước những diễn biến phức tạp của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, các quy định pháp luật hiện nay về quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng nói riêng còn nhiều bất cập. Mặc dù, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các nghị định hướng dẫn thi hành[3], Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật An ninh mạng năm 2018[4]… đã đem lại hiệu quả quan trọng trong việc quản lý hoạt động tôn giáo, tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện nay còn thiếu các quy định về nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng không chỉ là vấn đề mới mà còn là thực tế tất yếu của kỷ nguyên số, đặt ra yêu cầu cần thiết phải quy định đầy đủ, toàn diện về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.

2. Quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng tại dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) so với Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã bổ sung 01 khoản giải thích từ ngữ về “hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng” và 01 điều luật (Điều 8 dự thảo Luật) về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng với nội dung chính:

Thứ nhất, về khái niệm “hoạt động tín ngưỡng trên không gian mạng”, là việc tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật này sử dụng môi trường được hình thành bởi hệ thống mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu để hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

Thứ hai, về chủ thể và điều kiện để chủ thể được thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng: “Tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 3 Điều 15 của Luật này; chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung khi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng phải thực hiện thông báo, đăng ký hoặc đề nghị hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật này”.

Thứ ba, về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng: (i) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; (ii) Tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật có liên quan; (iii) Tổ chức, doanh nghiệp có nền tảng truyền thông số có trách nhiệm triển khai các giải pháp kỹ thuật, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền gỡ bỏ, ngăn chặn các nội dung vi phạm; (iv) Tổ chức, doanh nghiệp có mạng viễn thông có trách nhiệm ngăn chặn truy cập các nội dung vi phạm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai các quy định của Luật, đặc biệt tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện dự thảo Luật, theo đó cân nhắc bổ sung quy định các cá nhân, tổ chức khi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng cần phải thực hiện việc định danh xác thực tài khoản tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này giúp công tác quản lý nhà nước được chặt chẽ; giúp các tín đồ phân biệt được các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo chân chính, từ đó đặt niềm tin đúng chỗ, tránh bị các thế lực “núp bóng tín ngưỡng, tôn giáo” trục lợi hoặc tuyên truyền mê tín dị đoan, chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết dân tộc của Nhân dân ta.

Hai là, cần nghiên cứu ban hành các văn bản hướng dẫn liên quan đến một số hoạt động tôn giáo như: sử dụng AI, robot giảng đạo, giảng pháp trực tuyến, tổ chức lễ nghi trực tuyến, quyên góp trực tuyến, lập các fanpage/kênh chính thức…; đồng thời rà soát, đồng bộ giữa các luật để tạo hành lang pháp lý thống nhất trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.

Ba là, có văn bản hướng dẫn việc xây dựng quy chế phối hợp nhằm tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc vận động quần chúng nhân dân nâng cao tinh thần cảnh giác khi sử dụng không gian mạng, không tham gia các hội/nhóm tín ngưỡng, tôn giáo chưa được đăng ký chính thức; các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái pháp luật trên không gian mạng.

Bốn là, tăng cường vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong việc phổ biến, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Đa dạng hóa các hình thức truyền thông, ưu tiên sử dụng các hình thức truyền thông mới như: sản xuất video ngắn, infographic, podcast, livestream, diễn đàn, đối thoại trực tuyến với chuyên gia,… với nội dung hấp dẫn đề cập chuyên sâu về chủ trương, chính sách, pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta giúp người dân nắm bắt được nguồn thông tin chính thống. Đặc biệt là những đối tượng thực hành tín ngưỡng như: người đại diện, thành viên ban quản lý các cơ sở tín ngưỡng, người chuyên hoạt động tín ngưỡng (thầy cúng, thầy mo…) hiểu và thực hiện đúng chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Năm là, cần xây dựng các quy định, quy chế đăng tải các nội dung về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng tại văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Thường xuyên kiểm duyệt, kiểm tra, giám sát các nội dung trên mạng để ngăn chặn các hành vi phát tán thông tin sai lệnh, kích động, gây mất ổn định xã hội. Nâng cấp trung tâm giám sát an toàn không gian mạng quốc gia, ứng dụng AI vào phân tích dữ liệu lớn giúp nhận diện, xử lý, ngăn chặn những nội dung vi phạm về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.

Như vậy, việc dự thảo Luật mở rộng phạm vi bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng không chỉ tạo hành lang pháp lý bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thuần túy có thể hoạt động thuận lợi, đúng pháp luật, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, mà còn góp phần ngăn chặn các hành vi lợi dụng, mượn danh nghĩa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, tuyên truyền mê tín, dị đoan, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức tôn giáo, của tổ chức, cá nhân và lợi ích của Nhà nước. Điều này đồng thời mạng lại những thuận lợi và cơ hội phát triển cho các tổ chức tôn giáo, đáp ứng xu hướng số hóa hiện nay trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội./.


  1. Phạm Thanh Hằng, Nhận diện và đấu tranh với những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng bất hợp pháp trên không gian mạng, Tạp chí Triết học, số 10 (406), năm 2025.

  2. Nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước Việt Nam, https://hvannd.edu.vn/bv/ct/6106/nhan-dien-hoat-dong-loi-dung-van-de-ton-giao-chong-dang-nha-nuoc-viet-nam.

  3. Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

  4. Luật An ninh mạng năm 2025 đã được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, tuy nhiên đến ngày 01/7/2026 Luật mới có hiệu lực thi hành.

QV

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Trong bối cảnh Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đang được sửa đổi, việc đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền trở nên cần thiết. Bài viết tiếp cận theo hướng dựa trên quyền con người, phân tích nội dung quyền theo Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và pháp luật hiện hành, đồng thời, đánh giá thực tiễn thi hành giai đoạn 2018 - 2025. Nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những tiến bộ, thành công, kết quả đạt được, còn tồn tại khoảng cách giữa ghi nhận và thụ hưởng quyền, thể hiện qua thủ tục hành chính, sự không đồng đều trong thực thi và khoảng trống pháp lý trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và đề xuất hoàn thiện theo hướng tăng cường tính minh bạch, giảm điều kiện hóa quyền và nâng cao cơ chế bảo vệ quyền.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu phải sửa đổi nhằm đáp ứng thực tiễn quản trị hiện đại. Nghiên cứu tập trung đánh giá các khoảng trống pháp lý trên không gian mạng, sự phức tạp trong thủ tục hành chính hiện hành; đồng thời, đi sâu phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc đối với mô hình quản lý tôn giáo trực tuyến và cơ chế hậu kiểm, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh luật học và phân tích chính sách, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các hướng hoàn thiện cụ thể: luật hóa trách nhiệm định danh trên môi trường số, thiết lập cơ chế quản trị nhiều bên và đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn liền với việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Những giải pháp đó nhằm kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần bảo đảm quyền tự do tôn giáo hài hòa với lợi ích an ninh quốc gia.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sáng ngày 14/4, tại Phiên họp thứ Nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý đối với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Xây dựng "môi trường số lành mạnh" cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo

Xây dựng "môi trường số lành mạnh" cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo

Chiều ngày 10/4, tại kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại hội trường về một số luật, trong đó có dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Dự thảo Luật nhận được sự quan tâm lớn của các đại biểu với nhiều ý kiến góp ý tập trung vào hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Đáng chú ý, một số ý kiến nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật không phải để thắt chặt hay hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, mà là để tạo ra một "môi trường số lành mạnh" cho cộng đồng tôn giáo.
Thiết lập cơ chế minh bạch trong quản lý tài chính tín ngưỡng, tôn giáo

Thiết lập cơ chế minh bạch trong quản lý tài chính tín ngưỡng, tôn giáo

Tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, thảo luận về dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) ở tổ ngày 08/4 và ở hội trường ngày 10/4, một nhóm vấn đề lớn được nhiều đại biểu quan tâm là quản lý tài chính, đặc biệt là tiền công đức, hoạt động từ thiện và các nguồn thu phát sinh trong bối cảnh kinh tế số.
Hoàn thiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi): củng cố khối đại đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc

Hoàn thiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi): củng cố khối đại đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc

Chiều ngày 10/4, tại phiên thảo luận trên hội trường Quốc hội về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang đã có phần giải trình, làm rõ nhiều nội dung quan trọng, theo đó khẳng định việc sửa đổi Luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; qua đó củng cố khối đại đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc.