1. Thực trạng các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
Những năm gần đây, khi không gian mạng trở thành môi trường quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, các tổ chức, cá nhân tôn giáo đã sử dụng không gian mạng để tuyên truyền giáo lý, tổ chức các buổi sinh hoạt tín ngưỡng, kết nối cộng đồng. Không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian, người dân có thể tham gia các hoạt động tôn giáo chỉ với một thiết bị kết nối internet (điện thoại thông minh, máy tính bảng…). Những buổi lễ, bài giảng hay hoạt động cộng đồng được phát trực tiếp trên các trang mạng xã hội thu hút hàng nghìn, hàng chục nghìn người theo dõi.
Có thể nói “không gian mạng” đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” để các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo đẩy mạnh truyền giáo, phát triển tín đồ và mở rộng sức ảnh hưởng. Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng thực hiện dưới nhiều hình thức (diễn đàn, nhóm kín, hội thảo, tọa đàm trực tuyến) thông qua các ứng dụng như: Facebook, TikTok, Zalo, Zoom, Skype, Youtube, Instagram, Twitter, WhatsApp, Telegram… Điều này, bên cạnh việc mang lại thuận lợi giúp lan tỏa các giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam, còn nhiều tác động tiêu cực, đặc biệt là tình hình vi phạm pháp luật trên không gian mạng liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. Một số tổ chức, cá nhân “mượn danh” hoặc lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để sinh hoạt trá hình trên không gian mạng, tạo ra nhiều hình thức biến tướng phức tạp, nguy hiểm như: tuyên truyền bài xích tôn giáo truyền thống; tuyên truyền mê tín dị đoan, trái với chuẩn mực đạo đức, truyền thống văn hóa, thuần phong, mỹ tục của dân tộc; thực hiện “kinh doanh tâm linh”, trục lợi kinh tế[1]…
Lợi dụng vấn đề tôn giáo, các thế lực thù địch xuyên tạc chính sách tôn giáo và hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí, chúng lợi dụng một số chức sắc, tín đồ có nhận thức hạn chế hoặc tư tưởng cực đoan để lôi kéo tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; gây mất đoàn kết trong nội bộ tôn giáo, chia rẽ tôn giáo với chính quyền. Bên cạnh đó, lợi dụng sự phát triển của công nghệ số, các thế lực thù địch thường xuyên tung ra những video, bài viết, hình ảnh cắt ghép, bóp méo sự thật, vu cáo chính quyền “can thiệp thô bạo vào tôn giáo”, “xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Chúng muốn lợi dụng tôn giáo như “lá chắn” để che đậy hành vi chống phá, đồng thời tranh thủ sự hậu thuẫn của các thế lực chống đối ở bên ngoài[2].
Trước những diễn biến phức tạp của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, các quy định pháp luật hiện nay về quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng nói riêng còn nhiều bất cập. Mặc dù, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các nghị định hướng dẫn thi hành[3], Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật An ninh mạng năm 2018[4]… đã đem lại hiệu quả quan trọng trong việc quản lý hoạt động tôn giáo, tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện nay còn thiếu các quy định về nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng không chỉ là vấn đề mới mà còn là thực tế tất yếu của kỷ nguyên số, đặt ra yêu cầu cần thiết phải quy định đầy đủ, toàn diện về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
2. Quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng tại dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) so với Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã bổ sung 01 khoản giải thích từ ngữ về “hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng” và 01 điều luật (Điều 8 dự thảo Luật) về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng với nội dung chính:
Thứ nhất, về khái niệm “hoạt động tín ngưỡng trên không gian mạng”, là việc tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật này sử dụng môi trường được hình thành bởi hệ thống mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu để hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ hai, về chủ thể và điều kiện để chủ thể được thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng: “Tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 3 Điều 15 của Luật này; chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung khi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng phải thực hiện thông báo, đăng ký hoặc đề nghị hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật này”.
Thứ ba, về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng: (i) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; (ii) Tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật có liên quan; (iii) Tổ chức, doanh nghiệp có nền tảng truyền thông số có trách nhiệm triển khai các giải pháp kỹ thuật, phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền gỡ bỏ, ngăn chặn các nội dung vi phạm; (iv) Tổ chức, doanh nghiệp có mạng viễn thông có trách nhiệm ngăn chặn truy cập các nội dung vi phạm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai các quy định của Luật, đặc biệt tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện dự thảo Luật, theo đó cân nhắc bổ sung quy định các cá nhân, tổ chức khi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng cần phải thực hiện việc định danh xác thực tài khoản tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này giúp công tác quản lý nhà nước được chặt chẽ; giúp các tín đồ phân biệt được các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo chân chính, từ đó đặt niềm tin đúng chỗ, tránh bị các thế lực “núp bóng tín ngưỡng, tôn giáo” trục lợi hoặc tuyên truyền mê tín dị đoan, chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết dân tộc của Nhân dân ta.
Hai là, cần nghiên cứu ban hành các văn bản hướng dẫn liên quan đến một số hoạt động tôn giáo như: sử dụng AI, robot giảng đạo, giảng pháp trực tuyến, tổ chức lễ nghi trực tuyến, quyên góp trực tuyến, lập các fanpage/kênh chính thức…; đồng thời rà soát, đồng bộ giữa các luật để tạo hành lang pháp lý thống nhất trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
Ba là, có văn bản hướng dẫn việc xây dựng quy chế phối hợp nhằm tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc vận động quần chúng nhân dân nâng cao tinh thần cảnh giác khi sử dụng không gian mạng, không tham gia các hội/nhóm tín ngưỡng, tôn giáo chưa được đăng ký chính thức; các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái pháp luật trên không gian mạng.
Bốn là, tăng cường vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong việc phổ biến, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Đa dạng hóa các hình thức truyền thông, ưu tiên sử dụng các hình thức truyền thông mới như: sản xuất video ngắn, infographic, podcast, livestream, diễn đàn, đối thoại trực tuyến với chuyên gia,… với nội dung hấp dẫn đề cập chuyên sâu về chủ trương, chính sách, pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta giúp người dân nắm bắt được nguồn thông tin chính thống. Đặc biệt là những đối tượng thực hành tín ngưỡng như: người đại diện, thành viên ban quản lý các cơ sở tín ngưỡng, người chuyên hoạt động tín ngưỡng (thầy cúng, thầy mo…) hiểu và thực hiện đúng chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Năm là, cần xây dựng các quy định, quy chế đăng tải các nội dung về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng tại văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Thường xuyên kiểm duyệt, kiểm tra, giám sát các nội dung trên mạng để ngăn chặn các hành vi phát tán thông tin sai lệnh, kích động, gây mất ổn định xã hội. Nâng cấp trung tâm giám sát an toàn không gian mạng quốc gia, ứng dụng AI vào phân tích dữ liệu lớn giúp nhận diện, xử lý, ngăn chặn những nội dung vi phạm về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
Như vậy, việc dự thảo Luật mở rộng phạm vi bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng không chỉ tạo hành lang pháp lý bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thuần túy có thể hoạt động thuận lợi, đúng pháp luật, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, mà còn góp phần ngăn chặn các hành vi lợi dụng, mượn danh nghĩa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, tuyên truyền mê tín, dị đoan, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức tôn giáo, của tổ chức, cá nhân và lợi ích của Nhà nước. Điều này đồng thời mạng lại những thuận lợi và cơ hội phát triển cho các tổ chức tôn giáo, đáp ứng xu hướng số hóa hiện nay trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội./.
Phạm Thanh Hằng, Nhận diện và đấu tranh với những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng bất hợp pháp trên không gian mạng, Tạp chí Triết học, số 10 (406), năm 2025.
Nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước Việt Nam, https://hvannd.edu.vn/bv/ct/6106/nhan-dien-hoat-dong-loi-dung-van-de-ton-giao-chong-dang-nha-nuoc-viet-nam.
Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
Luật An ninh mạng năm 2025 đã được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, tuy nhiên đến ngày 01/7/2026 Luật mới có hiệu lực thi hành.