Chủ nhật 19/04/2026 07:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…

Từ khóa: tôn giáo; tín ngưỡng; tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; quyền và nghĩa vụ; quản lý nhà nước; pháp luật tôn giáo.

Đặt vấn đề

Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016) có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc thể chế hóa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, được ghi nhận tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013). Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số, đổi mới và thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, cũng như nhiều vấn đề mới, vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thời gian qua cho thấy, việc sửa đổi, bổ sung Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời, bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật), các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là chủ thể trung tâm của đời sống tôn giáo. Việc phân tích, đánh giá các quy định này không chỉ giúp làm rõ xu hướng chính sách, mà còn góp phần đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

1. Quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật so với Luật năm 2016

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật mang tính cơ bản, nguyên tắc được quy định trực tiếp tại Điều 11 (quyền), Điều 13 (nghĩa vụ) của Chương II (Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo) và được cụ thể hóa, điều kiện hóa, quy định gián tiếp thông qua hệ thống các khoản, điều, mục của các chương khác của dự thảo Luật, như: Chương IV (Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo), Chương V (Quy định về tổ chức tôn giáo, gồm: công nhận tổ chức; thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc; Phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành; Cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo), Chương VI (Hoạt động tôn giáo; hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo của tổ chức tôn giáo), Chương VII (Tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo), Điều 59 Chương VIII về khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về tín ngưỡng, tôn giáo, Điều 61 Chương VIII về điều khoản chuyển tiếp.

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong Luật năm 2016 mang tính cơ bản, nguyên tắc được quy định trực tiếp tại Điều 7 (quyền), Điều 9 (nghĩa vụ) của Chương II (Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo) và cũng được cụ thể hóa, điều kiện hóa, quy định gián tiếp thông qua hệ thống thủ tục hành chính tại các điều, khoản, mục của các chương khác của Luật năm 2016.

Riêng Điều 12 dự thảo Luật và Điều 20 Luật năm 2016 là quy định về quyền của tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Đây là tổ chức chưa được công nhận là tổ chức tôn giáo (phải đáp ứng thêm một số điều kiện quy định trong Luật sau khi được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo thì mới trở thành tổ chức tôn giáo), nên quyền cũng hạn chế hơn tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và những quyền của tổ chức này, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc đều có.

Nghiên cứu các quy định trên cho thấy:

- Đối với quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được quy định tại Điều 11 dự thảo Luật không thay đổi so với Luật năm 2016. Cụ thể: hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và văn bản có nội dung tương tự; tổ chức sinh hoạt tôn giáo; xuất bản kinh sách, xuất bản phẩm khác về tôn giáo; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo; cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở tôn giáo; nhận tài sản hợp pháp do tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài tự nguyện tặng, cho; các quyền khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Đối với nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được quy định tại Điều 13 dự thảo Luật quy định cụ thể, rõ ràng hơn, không chung chung như Luật năm 2016, qua đó, tạo thuận lợi cho tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc thực hiện, cũng như cơ quan quản lý có thẩm quyền dễ theo dõi, kiểm soát hơn, mà vẫn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tổ chức, cá nhân có theo tôn giáo và của mọi người. Ngoài nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và quy định khác của pháp luật có liên quan như quy định tại Luật năm 2016, dự thảo Luật còn quy định phải: (i) không vi phạm quy định tại Điều 7 dự thảo Luật (Điều này quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm, như: phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; trái với đạo đức xã hội…); (ii) bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; (iii) bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tiết kiệm, bảo vệ môi trường.

- Đối với việc cụ thể hóa, điều kiện hóa, cũng như quy định gián tiếp về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc thông qua hệ thống các khoản, điều, mục trong các chương, so sánh giữa dự thảo Luật và Luật năm 2016 cho thấy:

Thứ nhất, dự thảo Luật thể hiện rõ xu hướng mở rộng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hướng thực chất hơn, không chỉ dừng ở ghi nhận, mà còn tạo điều kiện thực hiện, đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số. Nếu Luật năm 2016 chủ yếu dừng ở ghi nhận quyền với nhiều điều kiện kèm theo, thì dự thảo Luật đã từng bước tháo gỡ các rào cản hành chính, chuyển từ cơ chế “xin phép” sang “đăng ký” hoặc “thông báo” đối với nhiều hoạt động tôn giáo. Sự thay đổi này không chỉ phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, mà còn tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, trong đó, nhấn mạnh tính tự do và tự chủ của các chủ thể tôn giáo.

Thứ hai, dự thảo Luật có sự chuyển đổi rõ rệt từ mô hình quản lý hành chính “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm bớt, cắt bỏ, bãi bỏ các thủ tục xin phép, tăng cường phân cấp cho địa phương và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin cho thấy cách tiếp cận quản lý linh hoạt hơn, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong quá trình hoạt động. Nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật: (i) đã cắt giảm, đơn giản hóa, bãi bỏ 47/103 thủ tục hành chính không còn phù hợp; sửa đổi, bổ sung 07 thủ tục hành chính, trong đó có 02 thủ tục đăng ký có bổ sung về chủ thể và địa bàn hoạt động, 01 thủ tục đăng ký từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm (tại khoản 5 Điều 31 về đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc) và 04 thủ tục theo hướng cho đăng ký thay vì đề nghị; trong 03 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung theo hướng chuyển từ quy định phải “đăng ký” thành “thông báo”, có 01 thủ tục hành chính liên quan đến tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc (thủ tục đăng ký mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo cho người chuyên hoạt động tôn giáo quy định tại khoản 1 Điều 37 dự thảo Luật); bãi bỏ các quy định có liên quan đến cắt giảm thành phần hồ sơ (phiếu lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam, bỏ các quy định về thành phần hồ sơ, thời hạn thực hiện các thủ tục trong Luật theo hướng giao Chính phủ quy định chi tiết và phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp)[1]; (ii) Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận 05/08 thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện (trước đây)[2], gồm: tiếp nhận thông báo mở lớp bồi dưỡng tôn giáo cho người không chuyên hoạt động tôn giáo; tiếp nhận thông báo tổ chức hội nghị thường niên của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một xã; chấp thuận tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở một xã; chấp thuận tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, ngoài địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức trong một xã; chấp thuận việc giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, ngoài cơ sở tôn giáo, ngoài địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức trong một xã.

Thứ ba, dự thảo Luật đã quy định các vấn đề mới phát sinh, điều chỉnh các hoạt động tôn giáo trong bối cảnh chuyển đổi số như hoạt động tôn giáo trên không gian mạng (Khoản 17 Điều 2, Điều 8 dự thảo Luật), một nội dung mà Luật năm 2016 chưa điều chỉnh. Đây là vấn đề tất yếu trong bối cảnh hiện nay khi các hoạt động truyền bá, sinh hoạt tôn giáo ngày càng mở rộng trên nền tảng số, trong đó có nhiều hoạt động mê tín dị đoan, gây hệ lụy tiêu cực đến sức khỏe, nhân phẩm của nhiều người, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự. Việc bổ sung này không chỉ góp phần hoàn thiện khung pháp lý, mà còn giúp nâng cao hiệu quả quản lý, phòng ngừa các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Thứ tư, một số điều luật quy định về quyền trong lĩnh vực xuất bản, giáo dụng, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo (Điều 50 và Điều 51 dự thảo Luật) đã rõ ràng, cụ thể về chủ thể được thực hiện, được tham gia là tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, cũng như nâng quyền từ mức độ tham gia lên mức độ được thực hiện đối với hoạt động bảo trợ, từ thiện, nhân đạo (Điều 54 và Điều 55 Luật năm 2016 chưa quy định rõ, cụ thể chủ thể, đầu mỗi điều luật chỉ ghi “Được thực hiện…”, “Được tham gia…”; đối với hoạt động bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo quy định ở mức độ được thực hiện). Qua đó, khắc phục được thực trạng có nhiều cách hiểu, áp dụng, xử lý khác nhau về vấn đề này khi thực hiện Luật năm 2016; góp phần khích lệ và làm căn cứ để các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc yên tâm, đóng góp nhiều hơn nữa nguồn lực của mình cho xã hội, phù hợp với chủ trương của Đảng được quy định trong Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 10/01/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo trong tình hình mới, cũng như trong các văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ XIII, XIV.

Từ những phân tích trên cho thấy, dự thảo Luật đã thế chế hóa được chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực tôn giáo, khắc phục được những bất cập của Luật năm 2016 liên quan đến quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Đặc biệt, dự thảo Luật đã có những chuyển biến quan trọng trong tư duy lập pháp liên quan đến quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.

2. Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc

Mặc dù, dự thảo Luật có nhiều điều chỉnh liên quan về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, song còn một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục được nghiên cứu. Những vấn đề này không chỉ liên quan đến mức độ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn gắn với yêu cầu hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước trong bối cảnh mới; việc nhận diện các nội dung còn vướng mắc hoặc chưa được quy định rõ ràng sẽ là cơ sở quan trọng để hoàn thiện dự thảo Luật, nhất là ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành (sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua) theo hướng vừa bảo đảm quyền, vừa nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn.

Một là, ranh giới giữa quyền tự chủ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và thẩm quyền quản lý của Nhà nước chưa được xác định rõ, cụ thể trong một số quy định, có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn. Trong một số trường hợp, ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép” chưa thực sự được phân định rõ ràng, khi cơ quan quản lý vẫn có quyền xem xét, chấp thuận hoặc không chấp thuận trên cơ sở các tiêu chí chưa được quy định đầy đủ, cụ thể.

Hai là, các quy định về quyền quản lý t ài sản, tài chính của tổ chức tôn giáo tuy đã được đề cập, mang tính khái quát, nhưng mới chỉ dừng ở công nhận quyền sở hữu tài sản hợp pháp và yêu cầu sử dụng đúng mục đích, chưa thiết lập được cơ chế minh bạch và trách nhiệm giải trình; chưa đưa ra được quy định cụ thể về công khai tài chính, kiểm toán hay cơ chế giám sát xã hội. Đây là khoảng trống pháp lý có thể ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước và uy tín của các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề rất khó, vì liên quan đến lịch sử, tổ chức, đặc thù của từng tôn giáo… cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi đưa vào luật. Thực tế cho thấy, nhiều vấn đề, vụ việc trong thực tế đã xảy ra, nhưng không giải quyết được dứt điểm hoặc chưa có hướng giải quyết liên quan đến vấn đề lịch sử để lại, tính đặc thù của tôn giáo, như:

- Trong Phật giáo, ở miền Bắc có rất nhiều cơ sở thờ tự làng, xã xây dựng từ lâu, tổ chức, tăng, ni Phật giáo chỉ là người đến sau quản lý, cũng như nhiều cơ sở thờ tự không có tăng, ni quản lý. Ở miền Nam, do lịch sử để lại, nhiều cơ sở thờ tự do dòng họ, dòng tộc xây dựng, nhưng không hiến tặng lại cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hay nhiều cơ sở thờ tự không gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam… Do vậy, vấn đề đặt ra, Giáo hội Phật giáo Việt Nam có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm như thế nào đối với các cơ sở Phật giáo này khi có tranh chấp xảy ra.

- Vấn đề tiền dâng hiến cho tập thể, tổ chức tôn giáo, nhưng để trong tài khoản cá nhân tôn giáo, khi cá nhân chết có thể dẫn đến tranh chấp giữa tổ chức tôn giáo với người thừa kế của cá nhân tôn giáo đã chết.

- Nghĩa vụ đóng thuế của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc…

Ba là, một số nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được quy định theo hướng nguyên tắc, mang tính khái quát, chưa cụ thể, chưa xác định rõ tiêu chí, giới hạn và phương thức kiểm soát, khó định lượng, có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất, gây khó khăn trong quá trình áp dụng, như cụm từ “trái đạo đức xã hội” (điểm b khoản 4 Điều 7 Dự thảo Luật)…

Bốn là, mặc dù dự thảo Luật định hướng chuyển mạnh từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Về lý luận, hậu kiểm được xem là phương thức quản lý tiến bộ hơn so với tiền kiểm, vì giảm thiểu sự can thiệp trước của Nhà nước vào việc thực hiện quyền của tổ chức tôn giáo, song tính khả thi của cơ chế này trong điều kiện hiện nay còn đặt ra nhiều vấn đề cần được xem xét một cách thận trọng. Trên thực tế, hiệu quả của hậu kiểm phụ thuộc rất lớn vào năng lực, trình độ và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ thực thi. Trong khi, lĩnh vực tôn giáo có tính nhạy cảm cao, gắn với quyền con người và có tính đặc thù, mọi sự can thiệp của Nhà nước đều phải đặt trong khuôn khổ chặt chẽ của pháp luật và phải đáp ứng các tiêu chí về tính cần thiết, tính hợp lý và tính tương xứng. Đặc biệt, trong bối cảnh hoạt động tôn giáo ngày càng mở rộng sang không gian mạng, yêu cầu đối với cán bộ quản lý còn cao hơn, gồm cả năng lực công nghệ và khả năng nhận diện các hành vi vi phạm mới. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, đội ngũ c án bộ làm công tác tôn giáo còn mỏng, kiêm nhiệm, trình độ chưa đồng đều, chưa bảo đảm năng lực, trình độ, chất lượng thực thi công vụ còn hạn chế[3]. Từ góc độ chính sách cho thấy, việc chuyển đổi sang cơ chế hậu kiểm không chỉ là vấn đề sửa đổi quy định pháp luật, mà còn là vấn đề về năng lực thể chế và tổ chức thực thi. Vì thế, nếu không giải quyết đồng bộ, nguy cơ hậu kiểm hình thức hay tăng cường can thiệp hành chính mang tính chủ quan khi thực hiện hậu kiểm, buông lỏng tiền kiểm là hoàn toàn có thể xảy ra hoặc có thể dẫn đến tình trạng “quản không được thì lại siết lại”, áp dụng pháp luật thiếu thống nhất giữa các địa phương… Từ đó, làm giảm ý nghĩa cải cách của dự thảo Luật, có thể ảnh hưởng, làm suy giảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tổ chức tôn giáo.

Năm là, thực tế cho thấy, lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở cấp xã hiện nay tương đối mỏng (mỗi xã, phường có 01 biên chế không chỉ phụ trách lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, mà còn phụ trách nhiều lĩnh vực khác), nhiều công chức mới phụ trách lĩnh vực này, chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa am hiểu nhiều về tôn giáo. Do đó, việc phân cấp cần bảo đảm tính khả thi, phù hợp giữa vị trí việc làm, số lượng biên chế công chức trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo với khối lượng công việc; phù hợp với khả năng, điều kiện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp, nhất là ở cấp xã… Nếu không kịp thời giải quyết nhu cầu chính đáng của các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, có thể dẫn đến không đáp ứng đúng, đủ quyền của tổ chức theo luật định và có thể vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Vì vậy, những vấn đề này cần được quy định, làm rõ trong các nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật (sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua).

3. Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và so sánh với pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và yêu cầu bảo đảm quyền con người theo các cam kết quốc tế, việc đánh giá các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc của dự thảo Luật không thể tách rời với các chuẩn mực pháp lý quốc tế, đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR). Đồng thời, việc nghiên cứu, so sánh với pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý tôn giáo khác nhau cũng giúp làm rõ vị trí và đặc điểm của pháp luật Việt Nam.

3.1. Tính tương thích với các điều ước quốc tế liên quan

Nghiên cứu cho thấy, có 06 điều ước quốc tế liên quan đến dự thảo Luật, gồm: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (International Convention on the Elimination of All Forms of Racial Discrimination - CERD) năm 1965; Công ước ICCPR năm 1966; Công ước về quyền trẻ em năm 1989; Công ước về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ (ICRMW) năm 1990; Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007; Hiến chương ASEAN năm 2008.

Qua so sánh cho thấy, hầu hết không có điều ước quốc tế nào quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc như quy định trực tiếp tại Điều 11 và Điều 13, cũng như được cụ thể hóa, điều kiện hóa, quy định gián tiếp thông qua hệ thống các khoản, điều, mục của các chương dự thảo Luật. Chỉ có khoản 1 Điều 13 dự thảo Luật khi quy định về nghĩa vụ có dẫn chiếu Điều 3 và Điều 3 tiếp tục dẫn chiếu Điều 7 là có liên quan đến: khoản 3 Điều 18 và các khoản 2, 3 Điều 19 Công ước ICCPR[4]; khoản 3 Điều 14 Công ước về quyền trẻ em năm 1989[5]; khoản 3 Điều 12 Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ năm 1990 (ICRMW)[6] và nội dung quy định tại Điều 7 không trái với các điều ước quốc tế này. Khoản 3 Điều 18 Công ước ICCPR quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Điều 19 Công ước ICCPR quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ” (khoản 2); “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội” (khoản 3).

Khoản 3 Điều 14 Công ước về quyền trẻ em năm 1989 quy định: “Việc tự do thể hiện tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật nếu cần thiết để bảo vệ an ninh công cộng, trật tự, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hay quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Khoản 3 Điều 12 Công ước ICRMW năm 1990 quy định: “Quyền tự do thể hiện tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ bị hạn chế trong trường hợp được pháp luật quy định và là cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe hay đạo đức của cộng đồng hoặc đạo đức hoặc quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Có thể thấy, các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật phù hợp, không trái với điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, bảo đảm phù hợp với chuẩn mực quốc tế khi công nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và cho phép Nhà nước đặt ra các hạn chế bằng luật. Việc dự thảo Luật vẫn quy định cơ chế thực hiện quyền mang tính tiền kiểm, thông qua hệ thống các thủ tục đăng ký, thông báo và chấp thuận, điều kiện hóa việc thực hiện quyền và mở rộng nghĩa vụ hành chính đối với các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là do nhiều yếu tố khách quan và không trái với các quy định của pháp luật quốc tế về quyền con người.

3.2. Pháp luật một số quốc gia

Trên cơ sở khảo cứu một số bài viết, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý về chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tôn giáo của một số nước trên thế giới[7], có thể tổng hợp khái quát pháp luật của một số quốc gia để so sánh với Việt Nam, như:

- Pháp luật của Hoa Kỳ: Hoa Kỳ là quốc gia có nhiều tôn giáo, như: đạo Tin Lành (với số lượng tín đồ đông nhất, khoảng 60% dân số), Công giáo (số lượng tín đồ khoảng 24% dân số), còn lại là Phật giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo... Hiến pháp, Tuyên ngôn Nhân quyền của Hoa Kỳ năm 1789 quy định: “Nghị viện không ban hành một đạo luật nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tôn giáo”. Do đó, Hoa Kỳ không có luật tôn giáo riêng, với nguyên tắc phân tách giữa Nhà nước và tôn giáo, hạn chế tối đa sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động nội bộ, việc sinh hoạt tôn giáo thuần túy của cá nhân, tổ chức tôn giáo được tự do. Tuy nhiên, tất cả tôn giáo chịu sự điều tiết của luật pháp giống như mọi tổ chức đoàn thể khác và việc công nhận tổ chức tôn giáo rất nghiêm nghặt, đưa ra nhiều điều kiện cần và đủ, như: phải có đất đai (Nhà nước không cấp), trong xây dựng cơ sở thờ tự phải có chỗ đậu xe của số tín đồ đã đăng ký là thành viên của tổ chức tôn giáo…

- Pháp luật của Pháp: là quốc gia điển hình về sự đa dạng tôn giáo, ngoài Công giáo chiếm đa số (khoảng trên 80%), Pháp còn có nhiều tôn giáo khác như: đạo Tin Lành, Hồi giáo, Do Thái giáo, Phật giáo… Pháp là một trong những quốc gia sớm ban hành Hiến pháp có nội dung liên quan đến tôn giáo, có Luật Đoàn thể tôn giáo năm 1901, Luật Tách rời giáo hội và Nhà nước (Luật phân ly) năm 1905 xác định pháp nhân đoàn thể tôn giáo và Nhà nước quản lý tôn giáo; tồn tại cơ chế đăng ký để xác lập tư cách pháp nhân, nhưng việc đăng ký không phải là điều kiện bắt buộc để thực hành tôn giáo và Nhà nước ít khi can thiệp vào tổ chức nội bộ của các cộng đồng tôn giáo.

- Pháp luật của Indonesia (nước có đa số người theo Hồi giáo) và Thái Lan (có đa số người theo Phật giáo) đều công nhận tôn giáo, nhưng việc can thiệp vào nội bộ tổ chức ở mức độ và ít thủ tục hành chính hơn. Mặc dù Hiến pháp Thái Lan không quy định Phật giáo là quốc đạo, nhưng luật pháp và chính sách tôn giáo của Thái Lan dành nhiều ưu tiên, ưu đãi cho tôn giáo này, như: Hiến pháp quy định phải thúc đẩy việc phát triển và bảo vệ Phật giáo nguyên thủy; nghiêm cấm phỉ báng hoặc xúc phạm đến Phật giáo và các vị sư; được thụ hưởng chính sách miễn thuế, trợ cấp xây dựng chùa, tổ chức các sự kiện lễ hội; các vị sư được trợ cấp hàng năm…

- Pháp luật của Trung Quốc thể hiện mô hình quản lý tôn giáo mang tính kiểm soát cao, với yêu cầu đăng ký bắt buộc và sự can thiệp sâu của Nhà nước vào nhân sự, tổ chức và hoạt động tôn giáo; chỉ công nhận Phật giáo, Đạo giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, còn các tôn giáo khác đều bị hạn chế hoạt động.

Qua phân tích cho thấy, pháp luật Việt Nam hiện đang vận hành theo mô hình trung gian giữa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và duy trì cơ chế quản lý hành chính; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật; vẫn duy trì cơ chế tiền kiểm thông qua các thủ tục đăng ký và chấp thuận; đang dần chuyển sang mô hình quản trị hiện đại, nhưng chưa hoàn tất quá trình chuyển đổi do nhiều yếu tố khách quan.

4. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

Có thể khẳng định, dự thảo Luật đã có những bước tiến quan trọng trong hoàn thiện thể chế về tôn giáo ở Việt Nam, khung pháp lý về tôn giáo. Các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc cơ bản đã đưa ra được những điều, khoản cụ thể áp dụng chung cho tất cả tôn giáo ở Việt Nam (trong bối cảnh Việt Nam là nước đa tôn giáo, mỗi tôn giáo, mỗi tổ chức tôn giáo có những đặc thù, đặc điểm riêng biệt, có thể quy định này phù hợp với tôn giáo, tổ chức tôn giáo này, nhưng không phù hợp với tôn giáo, tổ chức tôn giáo khác); thiết kế theo hướng cân bằng hợp lý giữa bảo đảm quyền tự do tôn giáo và yêu cầu quản lý nhà nước… Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả trong thực tiễn ở mức độ cao nhất, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện dự thảo Luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật (sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua) như sau:

Thứ nhất, cần rà soát các quy định về quyền, nghĩa vụ trong dự thảo Luật theo hướng định lượng, minh bạch và có tiêu chí rõ ràng, tránh quy định chung chung, khó áp dụng trong thực tiễn, như: cụm từ “trái đạo đức xã hội” (điểm b khoản 4 Điều 7) khi quy định về nghĩa vụ mặc dù được nhiều bộ luật, luật khác cũng quy định. Vì thế, sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua, các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành cần quy định rõ, cụ thể vấn đề này.

Thứ hai, vấn đề tài sản, tài chính của tổ chức tôn giáo là vấn đề khó, nhạy cảm, khó có quy định chung cho tất cả tôn giáo, tổ chức tôn giáo, vì mỗi tổ chức có đặc thù riêng biệt, việc quy định như trong dự thảo Luật phù hợp với điều kiện hiện nay. Tuy nhiên, cần nghiên cứu thiết lập cơ chế pháp lý phù hợp hơn về vấn đề tài sản, tính minh bạch tài chính của tổ chức tôn giáo, như: yêu cầu công khai thông tin tài chính ở mức độ phù hợp, đồng thời, bảo đảm không xâm phạm quyền tự chủ và đặc thù của tổ chức tôn giáo; nghiên cứu, bổ sung quy định để bảo đảm tính minh bạch, công khai về các khoản thu, nguồn tài trợ và quản lý tài chính đối với cơ sở tôn giáo, nhất là nguồn tài trợ từ nước ngoài; bổ sung quy định về nguyên tắc kế thừa nghĩa vụ và quyền lợi tài sản trong quá trình chia, tách, sáp nhập tổ chức tôn giáo… Qua đó, tạo sự minh bạch, bình đẳng xã hội, tránh việc lợi dụng tôn giáo để trục lợi, chống phá Nhà nước, tránh các tranh chấp dân sự phát sinh trong cộng đồng tôn giáo… Trước mắt, giao cho cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo ở trung ương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng đề án nghiên cứu về vấn đề này trước khi thiết lập cơ chế pháp lý phù hợp.

Thứ ba, để bảo đảm tính khả thi của cơ chế hậu kiểm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, cần nghiên cứu hoàn thiện các quy định sau:

- Quy định về nâng cao năng lực và chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, coi đây là điều kiện bảo đảm thực thi pháp luật, không chỉ là giải pháp hành chính.

- Thiết lập cơ chế hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất từ trung ương đến địa phương, hạn chế tình trạng áp dụng pháp luật khác nhau.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tôn giáo, đặc biệt, trong theo dõi, tiếp nhận thông tin và xử lý vi phạm trên không gian mạng.

- Xác định rõ các trường hợp Nhà nước được quyền can thiệp; giới hạn phạm vi và mức độ can thiệp; thiết lập cơ chế giám sát...

- Quy định rõ trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý khi thực hiện hậu kiểm, nhằm tránh lạm quyền hoặc can thiệp không cần thiết.

- Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tôn giáo trong cơ chế hậu kiểm. Trong cơ chế hậu kiểm, tổ chức tôn giáo cần: (i) tuân thủ pháp luật; (ii) minh bạch hoạt động (đặc biệt, trong lĩnh vực tài chính, tài sản và tổ chức nhân sự; đây không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà còn là cơ sở để xây dựng niềm tin giữa tổ chức tôn giáo với Nhà nước và xã hội. Việc công khai thông tin ở mức độ phù hợp sẽ giúp các bên có liên quan, tin tưởng vào chính sách, pháp luật và quản lý của nhà nước, giảm áp lực kiểm tra từ phía cơ quan quản lý); (iii) tăng cường tự quản nội bộ hiệu quả (quy trình kiểm tra, giám sát nội bộ, quy định rõ trách nhiệm của chức sắc, chức việc, cơ chế xử lý vi phạm trong nội bộ. Đây là yếu tố quan trọng giúp phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm, tránh để phát sinh vi phạm nghiêm trọng phải xử lý từ phía Nhà nước); (iv) phối hợp với cơ quan nhà nước (sự hợp tác, cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ không chỉ giúp hoạt động kiểm tra diễn ra thuận lợi, mà còn góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức tôn giáo). Thực tiễn Việt Nam cho thấy, nhiều tổ chức tôn giáo đã thực hiện tốt các nội dung này, góp phần giảm áp lực quản lý, như trong lĩnh vực hoạt động xã hội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo… đã tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo, giáo dục, y tế, với quy mô ngày càng mở rộng. Các hoạt động này cơ bản được triển khai trên cơ sở tự giác tuân thủ pháp luật, phối hợp với chính quyền địa phương, qua đó, giảm đáng kể nhu cầu kiểm tra, can thiệp từ phía cơ quan quản lý…

Khi bảo đảm được các điều kiện trên, cơ chế hậu kiểm mới thực sự trở thành công cụ hỗ trợ thực hiện quyền tự do tôn giáo, thay vì trở thành hình thức kiểm soát mới mang tính ẩn hóa; việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm trong lĩnh vực tôn giáo sẽ khó đạt được hiệu quả như kỳ vọng, thậm chí có thể phát sinh những bất cập mới trong thực tiễn quản lý nếu chưa thực hiện các giải pháp trên.

Thứ tư, nghiên cứu, cân nhắc giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân cấp hoặc ủy quyền việc thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo đối với Ủy ban nhân dân cấp xã. Chính phủ, các địa phương tiếp tục có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ làm công tác tín ngưỡng, tôn giáo, nhất là ở cơ sở. Qua đó, góp phần bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ngay từ cơ sở, ngay từ đầu.

Thứ năm, nghiên cứu ban hành quy định cụ thể về xử lý vi phạm hành chính trong sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, như: việc giảng đạo ở ngoài cơ sở thờ tự; hoạt động của cơ sở đào tạo chức sắc, mở lớp bồi dưỡng chức sắc; tổ chức đại hội, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc… (riêng vi phạm trong vấn đề đất đai, xây dựng, xuất bản… đã có luật chuyên ngành điều chỉnh); vi phạm của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ, như làm sai lệch hồ sơ, sách nhiễu… Qua đó, góp phần để hoạt động tôn giáo luôn đúng theo quy định của pháp luật, tránh việc cá nhân, tổ chức lợi dụng, cố tình chỉ đòi quyền mà không thực hiện nghĩa vụ của mình, bảo đảm tính răn đe…

Kết luận

Trong bối cảnh hiện nay, việc sửa đổi Luật năm 2016 không chỉ là yêu cầu kỹ thuật lập pháp, mà còn là bước đi quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế về quyền con người, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những thay đổi trong dự thảo Luật liên quan đến quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc cho thấy xu hướng tích cực trong việc mở rộng không gian thực hiện quyền, giảm thiểu can thiệp hành chính và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều sửa đổi mang tính cải cách mới theo đúng chủ trương, định hướng của Đảng, khắc phục được những bất cập của Luật năm 2016, phù hợp với bối cảnh mới của đất nước hiện nay. Tuy nhiên, một số quy định trong dự thảo Luật còn chung chung, chưa cụ thể, vì vậy, để dự thảo Luật thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua, cần sớm ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành để thiết lập cơ chế pháp lý phù hợp, quy định cụ thể, rõ ràng, chi tiết theo hướng minh bạch hóa quy định pháp luật, cụ thể hóa cơ chế hậu kiểm, nâng cao năng lực thực thi và kiểm soát chặt chẽ quyền lực quản lý nhà nước.

ThS. Lê Minh Khánh

Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc và Tôn giáo, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

ThS. Lê Thị Anh

Giảng viên chính Khoa Lý luận chính trị, Học viện Ngân hàng

Ảnh: Internet

[1]. Báo cáo số 1838/BC-UBVHXH15 ngày 18/3/2026 của Ủy ban Văn hóa - Xã hội, Quốc hội khóa XV về thẩm tra sơ bộ dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (Báo cáo số 1838/BC-UBVHXH15).

[2]. Báo cáo số 1838/BC-UBVHXH15.

[3]. Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo về Tổng kết thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025) và một số Báo cáo Đề án tổng kết, sơ kết một số Kết luận của Ban Bí thư liên quan đến lĩnh vực tôn giáo do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì.

[4]. Xem tại: https://moj.gov.vn/Pages/home.aspx?requestUrl=https://moj.gov.vn/tttp/tintuc/Lists/CongUocQuocTe/Attachments/10/1.%20Cong%20%20uoc%20ICCPR%20-%20VN.pdf.

[5]. Xem tại: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Cong-uoc-cua-Lien-hop-quoc-ve-quyen-tre-em-233659.aspx.

[6]. Xem tại: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Cong-uoc-quoc-te-bao-ve-quyen-cua-nguoi-lao-dong-di-tru-va-gia-dinh-ho-1990-275806.aspx.

[7]. PGS.TS. Nguyễn Thanh Xuân, TS. Nguyễn Quỳnh Trâm, Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở một số nước trên thế giới, Nxb. Tôn giáo; TS. Nguyễn Văn Dũng, Tôn giáo với đời sống chính trị - xã hội ở một số nước trên thế giới, Nxb. Chính trị Quốc gia; Phạm Thanh Hằng, Những vấn đề cơ bản trong luật pháp tôn giáo của Mỹ, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8/2020, tr.57-67; TS. Nguyễn Công Trí, Chính sách tôn giáo của Cộng hòa Pháp và giá trị tham khảo đối với Việt Nam, https://khoahocchinhtri.hcma.vn/content/chinh-sach-ton-giao-cua-cong-hoa-phap-va-gia-tri-tham-khao-doi-voi-viet-nam-14528; Bùi Minh Hà (2021), Những vấn đề cơ bản trong chính sách tôn giáo của Đức hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 6 (210), tr.114-131; ThS. Dương Văn Chăm, Chính sách tôn giáo ở một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 347 (12/2024), tr.117-121; TS. Đỗ Thị Thanh Hương, Chính sách, pháp luật về tôn giáo của In-đô-nê-xi-a từ năm 1945 đến nay, Tạp chí Lý luận chính trị, số 556 (6 - 2024); PGS. TS. Đỗ Lan Hiền (2019), An ninh tôn giáo ở Thái Lan hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 4 (184), tr.1120-124; PGS.TS. Lưu Bành, Luật pháp tôn giáo ở Trung Quốc: Tiến trình lịch sử và những phát triển gần đây, Tham luận Hội nghị tôn giáo và pháp quyền ở Đông Nam Á tổ chức tại Hà Nội, ngày 08 - 09/2006, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 03 (2007), tr.53-60

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2025), Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025).

2. Bộ Dân tộc và Tôn giáo (2026), Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).

3. Bùi Minh Hà (2021), Những vấn đề cơ bản trong chính sách tôn giáo của Đức hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 6 (210).

4. PGS.TS. Đỗ Lan Hiền (2019), An ninh tôn giáo ở Thái Lan hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 4 (184).

5. PGS.TS. Lưu Bành, Luật pháp tôn giáo ở Trung Quốc: Tiến trình lịch sử và những phát triển gần đây, Tham luận Hội nghị tôn giáo và pháp quyền ở Đông Nam Á tổ chức tại Hà Nội, ngày 08 - 09/2006, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 03 (2007).

6. PGS.TS. Nguyễn Thanh Xuân, TS. Nguyễn Quỳnh Trâm, Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở một số nước trên thế giới, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.

7. Phạm Thanh Hằng, Những vấn đề cơ bản trong luật pháp tôn giáo của Mỹ, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8/2020.

8. ThS. Dương Văn Chăm, Chính sách tôn giáo ở một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 347 (12/2024).

9. TS. Đỗ Thị Thanh Hương, Chính sách, pháp luật về tôn giáo của In-đô-nê-xi-a từ năm 1945 đến nay, Tạp chí Lý luận chính trị, số 556 (6 - 2024);

10. TS. Nguyễn Công Trí, Chính sách tôn giáo của Cộng hòa Pháp và giá trị tham khảo đối với Việt Nam, https://khoahocchinhtri.hcma.vn/content/chinh-sach-ton-giao-cua-cong-hoa-phap-va-gia-tri-tham-khao-doi-voi-viet-nam-14528.

11. TS. Nguyễn Văn Dũng, Tôn giáo với đời sống chính trị - xã hội ở một số nước trên thế giới, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

12. Ủy ban Văn hóa - Xã hội Quốc hội, Báo cáo số 1838/BC-UBVHXH15 ngày 18/3/2026 về thẩm tra sơ bộ dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).

(Nguồn: Ấn phẩm chuyên đề “Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Trong bối cảnh Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đang được sửa đổi, việc đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền trở nên cần thiết. Bài viết tiếp cận theo hướng dựa trên quyền con người, phân tích nội dung quyền theo Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và pháp luật hiện hành, đồng thời, đánh giá thực tiễn thi hành giai đoạn 2018 - 2025. Nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những tiến bộ, thành công, kết quả đạt được, còn tồn tại khoảng cách giữa ghi nhận và thụ hưởng quyền, thể hiện qua thủ tục hành chính, sự không đồng đều trong thực thi và khoảng trống pháp lý trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và đề xuất hoàn thiện theo hướng tăng cường tính minh bạch, giảm điều kiện hóa quyền và nâng cao cơ chế bảo vệ quyền.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghip ln thtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, s nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu phải sửa đổi nhằm đáp ứng thực tiễn quản trị hiện đại. Nghiên cứu tập trung đánh giá các khoảng trống pháp lý trên không gian mạng, sự phức tạp trong thủ tục hành chính hiện hành; đồng thời, đi sâu phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc đối với mô hình quản lý tôn giáo trực tuyến và cơ chế hậu kiểm, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh luật học và phân tích chính sách, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các hướng hoàn thiện cụ thể: luật hóa trách nhiệm định danh trên môi trường số, thiết lập cơ chế quản trị nhiều bên và đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn liền với việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Những giải pháp đó nhằm kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần bảo đảm quyền tự do tôn giáo hài hòa với lợi ích an ninh quốc gia.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sáng ngày 14/4, tại Phiên họp thứ Nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý đối với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh.
Hoàn thiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi): củng cố khối đại đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc

Hoàn thiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi): củng cố khối đại đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc

Chiều ngày 10/4, tại phiên thảo luận trên hội trường Quốc hội về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang đã có phần giải trình, làm rõ nhiều nội dung quan trọng, theo đó khẳng định việc sửa đổi Luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; qua đó củng cố khối đại đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Dự thảo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi): Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi): Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) gồm 09 chương, 61 điều, giảm 07 điều so với Luật hiện hành, tập trung điều chỉnh các nội dung liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tổ chức, hoạt động của các tổ chức tôn giáo; cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan.
Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân

Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân

Trong bối cảnh mới, việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm bớt số lượng giấy tờ, rút ngắn thời gian xử lý và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết. Theo đó, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã hoàn thiện một số quy định về thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính về tín ngưỡng, tôn giáo.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI

Sáng ngày 06/4/2026, Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội khóa XV Trần Thanh Mẫn. Trong Chương trình của Kỳ họp, về công tác lập pháp, Quốc hội sẽ tiến hành xem xét thông qua 08 dự án luật và 01 nghị quyết, trong đó có dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.