Thứ sáu 15/05/2026 07:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới
Ảnh minh họa

Qua tổng kết việc thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025) cho thấy có nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước cũng như chấp hành, tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân tôn giáo, người đại diện, ban quản lý các cơ sở tín ngưỡng, đòi hỏi cần có những giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật. Cụ thể:

1. Những khó khăn, vướng mắc

Thứ nhất, trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật tuy được quan tâm nhưng chưa thường xuyên, sâu rộng.

Công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở một số địa phương chưa quyết liệt, còn để xảy ra nhiều vi phạm pháp luật, nhất là trong quản lý đất đai, xây dựng; công tác phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành ở một số địa phương còn thiếu nhịp nhàng trong công tác tham mưu quản lý nói chung, trong xử lý, giải quyết các vụ việc liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng.

Sự gắn kết trong thực hiện chính sách, pháp luật về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế… với thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở một số địa phương còn thiếu chặt chẽ, thống nhất, dẫn đến các tổ chức, đối tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo hoạt động sai phạm và kích động tín đồ chống đối chính quyền.

Một số địa phương thực hiện chế độ thông tin báo cáo về công tác tín ngưỡng, tôn giáo chưa kịp thời, đầy đủ; việc báo cáo tham mưu đề xuất cho cấp ủy, chính quyền trong giải quyết các vấn đề tôn giáo nổi lên và các vụ việc phức tạp còn thiếu quyết liệt, chưa kịp thời, có lúc, có nơi chưa đúng luật.

Đội ngũ công chức làm công tác tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo các cấp vừa thiếu về số lượng, vừa chưa bảo đảm về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng với nhiệm vụ được giao theo phân cấp, phân quyền trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật. Một bộ phận lớn công chức làm công tác tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo chưa được đào tạo bài bản, chuyên sâu dẫn đến chuyên môn, nghiệp vụ, chất lượng thực thi công vụ còn hạn chế.

Thứ hai, về việc chấp hành, tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân tôn giáo; người đại diện, ban quản lý các cơ sở tín ngưỡng.

Chức sắc, chức việc, nhà tu hành một số tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng tại nhiều địa phương chưa quan tâm đúng mức việc tìm hiểu và thực hiện đúng theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật (trong đó có các thủ tục hành chính khi thực hiện các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng). Một bộ phận chức sắc, chức việc tôn giáo bị thương mại hoá, sa sút đạo hạnh dẫn đến vi phạm giáo lý, giáo luật và hiến chương của tổ chức tôn giáo nhưng cơ chế tự giải quyết nội bộ của các tổ chức tôn giáo chưa đủ mạnh để ngăn ngừa, giải quyết hiệu quả.

Tại nhiều tỉnh, thành phố, một số tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc không thực hiện việc thông báo, đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về danh mục hoạt động tôn giáo; phong phẩm, suy cử chức sắc, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc; thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.

2. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc

Những khó khăn, vướng mắc nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Theo đó:

Về nguyên nhân khách quan, mỗi tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có giáo lý, giáo luật, cơ cấu tổ chức, phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử,… khác nhau. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các nghị định hướng dẫn Luật được ban hành trên cơ sở mẫu số chung, áp dụng cho tất cả các tổ chức tôn giáo. Vì vậy, khi áp dụng vào thực tiễn hoạt động của các tổ chức tôn giáo sẽ không tránh khỏi có một số quy định khó khăn, không phù hợp với một số tổ chức.

Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy làm công tác tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo thiếu ổn định, hay thay đổi theo chiều hướng ngày càng thu hẹp; đội ngũ công chức chưa được đào tạo bài bản, đúng chuyên ngành; điều kiện đáp ứng để thực hiện công việc còn hạn chế... dẫn đến công chức ít tâm huyết, gắn bó, không thu hút và giữ được những công chức có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Đồng thời, nguồn kinh phí dành cho công tác tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có kinh phí dành cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay tại các địa phương.

Về nguyên nhân chủ quan, nhiều địa phương và một số chức sắc, chức việc, nhà tu hành; người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng chưa nắm bắt, hiểu chưa hết, chưa điều chỉnh kịp thời, thích ứng về một số nội dung của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật dẫn đến lúng túng khi thực hiện. Một số chính quyền địa phương thực hiện theo thói quen kinh nghiệm từ trước dẫn đến chưa đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho tổ chức, cá nhân liên quan.

Một số cơ quan, tổ chức chưa quan tâm đúng mức đến việc triển khai và bảo đảm các điều kiện cần thiết thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Nhận thức thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cũng còn thiếu thống nhất trong một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là ở cấp cơ sở,… Một số người dân chưa nhận thức đầy đủ về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chưa biết hoặc chưa nắm rõ thủ tục, phạm vi, cách thức thực hiện quyền này, hoặc còn có tâm lý e ngại. Bên cạnh đó, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của một bộ phận người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Từ những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân nêu trên, để nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, đề nghị cần thực hiện một số giải pháp như sau:

Một là, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm túc quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, các văn bản quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phố biến pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho đội ngũ công chức làm công tác tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; cho chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tổ chức tôn giáo để nâng cao nhận thức, nắm bắt và thực hiện tốt các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo; kịp thời xử lý các vấn đề, vụ việc phát sinh về tín ngưỡng, tôn giáo, tài chính, đầu tư; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn giáo.

Hai là, các bộ, ngành, địa phương tăng cường nguồn nhân lực và kinh phí cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho các tổ chức tôn giáo, các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tuân thủ chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ba là, cần có quy định cụ thể về tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ổn định, lâu dài; có chính sách đặc thù cho đội ngũ công chức làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo để yên tâm công tác, gắn bó với nghề.

Bốn là, cần có quy định về cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo với các cơ quan có liên quan trong xử lý vụ việc phát sinh liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo.

Năm là, các cơ quan có thẩm quyền tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; xử lý cơ bản các vụ việc, đơn thư khiếu kiện và các hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ quản lý.

Sáu là, ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác tham mưu giải quyết việc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái pháp luật.

(Ảnh: Internet)

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Trong bối cảnh Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đang được sửa đổi, việc đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền trở nên cần thiết. Bài viết tiếp cận theo hướng dựa trên quyền con người, phân tích nội dung quyền theo Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và pháp luật hiện hành, đồng thời, đánh giá thực tiễn thi hành giai đoạn 2018 - 2025. Nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những tiến bộ, thành công, kết quả đạt được, còn tồn tại khoảng cách giữa ghi nhận và thụ hưởng quyền, thể hiện qua thủ tục hành chính, sự không đồng đều trong thực thi và khoảng trống pháp lý trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và đề xuất hoàn thiện theo hướng tăng cường tính minh bạch, giảm điều kiện hóa quyền và nâng cao cơ chế bảo vệ quyền.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu phải sửa đổi nhằm đáp ứng thực tiễn quản trị hiện đại. Nghiên cứu tập trung đánh giá các khoảng trống pháp lý trên không gian mạng, sự phức tạp trong thủ tục hành chính hiện hành; đồng thời, đi sâu phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc đối với mô hình quản lý tôn giáo trực tuyến và cơ chế hậu kiểm, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh luật học và phân tích chính sách, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các hướng hoàn thiện cụ thể: luật hóa trách nhiệm định danh trên môi trường số, thiết lập cơ chế quản trị nhiều bên và đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn liền với việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Những giải pháp đó nhằm kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần bảo đảm quyền tự do tôn giáo hài hòa với lợi ích an ninh quốc gia.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sáng ngày 14/4, tại Phiên họp thứ Nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý đối với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Xây dựng "môi trường số lành mạnh" cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo

Xây dựng "môi trường số lành mạnh" cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo

Chiều ngày 10/4, tại kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại hội trường về một số luật, trong đó có dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Dự thảo Luật nhận được sự quan tâm lớn của các đại biểu với nhiều ý kiến góp ý tập trung vào hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Đáng chú ý, một số ý kiến nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật không phải để thắt chặt hay hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, mà là để tạo ra một "môi trường số lành mạnh" cho cộng đồng tôn giáo.
Thiết lập cơ chế minh bạch trong quản lý tài chính tín ngưỡng, tôn giáo

Thiết lập cơ chế minh bạch trong quản lý tài chính tín ngưỡng, tôn giáo

Tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, thảo luận về dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) ở tổ ngày 08/4 và ở hội trường ngày 10/4, một nhóm vấn đề lớn được nhiều đại biểu quan tâm là quản lý tài chính, đặc biệt là tiền công đức, hoạt động từ thiện và các nguồn thu phát sinh trong bối cảnh kinh tế số.