![]() |
| Ảnh minh họa |
Qua tổng kết việc thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025) cho thấy có nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước cũng như chấp hành, tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân tôn giáo, người đại diện, ban quản lý các cơ sở tín ngưỡng, đòi hỏi cần có những giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật. Cụ thể:
1. Những khó khăn, vướng mắc
Thứ nhất, trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật tuy được quan tâm nhưng chưa thường xuyên, sâu rộng.
Công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở một số địa phương chưa quyết liệt, còn để xảy ra nhiều vi phạm pháp luật, nhất là trong quản lý đất đai, xây dựng; công tác phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành ở một số địa phương còn thiếu nhịp nhàng trong công tác tham mưu quản lý nói chung, trong xử lý, giải quyết các vụ việc liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng.
Sự gắn kết trong thực hiện chính sách, pháp luật về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế… với thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở một số địa phương còn thiếu chặt chẽ, thống nhất, dẫn đến các tổ chức, đối tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo hoạt động sai phạm và kích động tín đồ chống đối chính quyền.
Một số địa phương thực hiện chế độ thông tin báo cáo về công tác tín ngưỡng, tôn giáo chưa kịp thời, đầy đủ; việc báo cáo tham mưu đề xuất cho cấp ủy, chính quyền trong giải quyết các vấn đề tôn giáo nổi lên và các vụ việc phức tạp còn thiếu quyết liệt, chưa kịp thời, có lúc, có nơi chưa đúng luật.
Đội ngũ công chức làm công tác tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo các cấp vừa thiếu về số lượng, vừa chưa bảo đảm về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng với nhiệm vụ được giao theo phân cấp, phân quyền trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật. Một bộ phận lớn công chức làm công tác tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo chưa được đào tạo bài bản, chuyên sâu dẫn đến chuyên môn, nghiệp vụ, chất lượng thực thi công vụ còn hạn chế.
Thứ hai, về việc chấp hành, tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân tôn giáo; người đại diện, ban quản lý các cơ sở tín ngưỡng.
Chức sắc, chức việc, nhà tu hành một số tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng tại nhiều địa phương chưa quan tâm đúng mức việc tìm hiểu và thực hiện đúng theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật (trong đó có các thủ tục hành chính khi thực hiện các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng). Một bộ phận chức sắc, chức việc tôn giáo bị thương mại hoá, sa sút đạo hạnh dẫn đến vi phạm giáo lý, giáo luật và hiến chương của tổ chức tôn giáo nhưng cơ chế tự giải quyết nội bộ của các tổ chức tôn giáo chưa đủ mạnh để ngăn ngừa, giải quyết hiệu quả.
Tại nhiều tỉnh, thành phố, một số tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc không thực hiện việc thông báo, đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về danh mục hoạt động tôn giáo; phong phẩm, suy cử chức sắc, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc; thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
2. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc
Những khó khăn, vướng mắc nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Theo đó:
Về nguyên nhân khách quan, mỗi tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có giáo lý, giáo luật, cơ cấu tổ chức, phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử,… khác nhau. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các nghị định hướng dẫn Luật được ban hành trên cơ sở mẫu số chung, áp dụng cho tất cả các tổ chức tôn giáo. Vì vậy, khi áp dụng vào thực tiễn hoạt động của các tổ chức tôn giáo sẽ không tránh khỏi có một số quy định khó khăn, không phù hợp với một số tổ chức.
Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy làm công tác tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo thiếu ổn định, hay thay đổi theo chiều hướng ngày càng thu hẹp; đội ngũ công chức chưa được đào tạo bài bản, đúng chuyên ngành; điều kiện đáp ứng để thực hiện công việc còn hạn chế... dẫn đến công chức ít tâm huyết, gắn bó, không thu hút và giữ được những công chức có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Đồng thời, nguồn kinh phí dành cho công tác tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có kinh phí dành cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay tại các địa phương.
Về nguyên nhân chủ quan, nhiều địa phương và một số chức sắc, chức việc, nhà tu hành; người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng chưa nắm bắt, hiểu chưa hết, chưa điều chỉnh kịp thời, thích ứng về một số nội dung của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật dẫn đến lúng túng khi thực hiện. Một số chính quyền địa phương thực hiện theo thói quen kinh nghiệm từ trước dẫn đến chưa đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho tổ chức, cá nhân liên quan.
Một số cơ quan, tổ chức chưa quan tâm đúng mức đến việc triển khai và bảo đảm các điều kiện cần thiết thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Nhận thức thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cũng còn thiếu thống nhất trong một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là ở cấp cơ sở,… Một số người dân chưa nhận thức đầy đủ về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chưa biết hoặc chưa nắm rõ thủ tục, phạm vi, cách thức thực hiện quyền này, hoặc còn có tâm lý e ngại. Bên cạnh đó, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của một bộ phận người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
Từ những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân nêu trên, để nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, đề nghị cần thực hiện một số giải pháp như sau:
Một là, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm túc quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, các văn bản quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phố biến pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho đội ngũ công chức làm công tác tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; cho chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tổ chức tôn giáo để nâng cao nhận thức, nắm bắt và thực hiện tốt các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo; kịp thời xử lý các vấn đề, vụ việc phát sinh về tín ngưỡng, tôn giáo, tài chính, đầu tư; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn giáo.
Hai là, các bộ, ngành, địa phương tăng cường nguồn nhân lực và kinh phí cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cho các tổ chức tôn giáo, các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc tuân thủ chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Ba là, cần có quy định cụ thể về tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ổn định, lâu dài; có chính sách đặc thù cho đội ngũ công chức làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo để yên tâm công tác, gắn bó với nghề.
Bốn là, cần có quy định về cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo với các cơ quan có liên quan trong xử lý vụ việc phát sinh liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo.
Năm là, các cơ quan có thẩm quyền tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; xử lý cơ bản các vụ việc, đơn thư khiếu kiện và các hành vi vi phạm pháp luật thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ quản lý.
Sáu là, ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác tham mưu giải quyết việc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái pháp luật.
(Ảnh: Internet)