Thứ sáu 06/11/2026 21:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cắt giảm nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đã quy định sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh; bãi bỏ 60 ngành, nghề thuộc 12 nhóm ngành, nghề do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý và 01 nhóm ngành, nghề chưa xác định điều kiện kinh doanh hoặc chưa xác định cơ quan quản lý.
Cắt giảm nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đánh giá cao tinh thần trách nhiệm và sự góp ý thẳng thắn, sâu sắc của các thành viên Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị quyết

Ngày 04/5/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì hội đồng thẩm định độc lập dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (dự thảo Nghị quyết). Đồng chủ trì có Thứ trưởng Bộ Tài chính Tạ Anh Tuấn. Tham dự phiên họp có đại diện Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo… cùng một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.

Tại phiên họp, đại diện Bộ Tài chính cho biết, dự thảo Nghị quyết gồm 06 điều và 02 phụ lục, dự kiến có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026 đến hết ngày 01/3/2027, với các quy định về việc cắt giảm, sửa đổi phạm vi của một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Phụ lục IV Luật Đầu tư và áp dụng đối với nhà đầu tư, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

Về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, dự thảo Nghị quyết quy định sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh; bãi bỏ 60 ngành, nghề thuộc 12 nhóm ngành, nghề do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý (Bộ Tư pháp; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Tài chính; Bộ Xây dựng; Bộ Công Thương; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Y tế; Bộ Nội vụ; Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) và 01 nhóm ngành, nghề chưa xác định điều kiện kinh doanh hoặc chưa xác định cơ quan quản lý.

Tại phiên họp, một số đại biểu nhấn mạnh, Bộ Tài chính cần thận trọng trong xác định nội dung bãi bỏ đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong dự thảo Nghị quyết vì việc gộp các thủ tục hành chính không đồng nghĩa với việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh. Bản chất mỗi ngành, lĩnh vực vẫn phải tuân thủ điều kiện đầu tư kinh doanh theo quy định pháp luật. Mặt khác, việc gộp thủ tục hành chính chỉ là thay đổi về hình thức thủ tục, không làm mất yêu cầu quản lý nhà nước. Nếu coi việc hợp nhất, gộp thủ tục như một hình thức cắt giảm hoặc bãi bỏ dễ dẫn tới sai lệch trong đánh giá bản chất cải cách. Vì vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo phải có cách tiếp cận tổng thể, thực chất hơn, trong đó phân định rõ giữa "bãi bỏ" và "đơn giản hóa, hợp nhất thủ tục"; đồng thời, việc cắt giảm cần hướng đến các ngành, nghề kinh doanh có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, thay vì chỉ tập trung vào các thủ tục mang tính kỹ thuật.

Đồng thời, có đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ việc sửa tên thủ tục hành chính có được tính là nội dung sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hay không. Bởi, theo quy định pháp luật, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là những lĩnh vực mà doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng các điều kiện nhất định để được hoạt động, vì vậy, việc thay đổi tên gọi thủ tục chưa chắc đã làm thay đổi bản chất điều kiện kinh doanh.

Cắt giảm nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Quang cảnh phiên họp

Bên cạnh đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần bổ sung tiêu chí đánh giá kết quả cải cách theo hướng đo lường thực chất tác động đối với doanh nghiệp như: Số lượng, điều kiện cụ thể được bãi bỏ; số lượng hồ sơ giấy phép, chứng chỉ, yêu cầu nhân sự, vốn, cơ sở vật chất được cắt giảm; thời gian xử lý thủ tục được rút ngắn; chi phí tuân thủ dự kiến giảm; mức độ chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Việc thống kê bãi bỏ ngành, nghề cần tách bạch với các trường hợp gộp tên, đổi tên, hợp nhất danh mục.

Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đánh giá cao tinh thần trách nhiệm và sự góp ý thẳng thắn, sâu sắc của các thành viên Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị quyết.

Về sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết, Thứ trưởng cho biết, hồ sơ dự thảo Nghị quyết mặc dù được trình bày công phu nhưng vẫn chưa làm nổi bật được vấn đề cốt lõi đặt ra từ thực tiễn, chưa chỉ ra được những bất cập mang tính bản chất để làm căn cứ thuyết phục cho việc ban hành chính sách. Do đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần tiếp tục rà soát, chỉnh sửa lại theo hướng ngắn gọn, trực diện và có trọng tâm, trọng điểm hơn.

Về nguyên tắc cắt giảm được quy định tại Điều 2 dự thảo Nghị quyết, Thứ trưởng nhận định, việc đưa ra tới 06 nội dung như trong dự thảo để xác định nguyên tắc cắt giảm là chưa thật sự phù hợp. Nếu quy định quá nhiều nội dung sẽ làm "loãng" và gây khó khăn trong quá trình áp dụng, theo dõi thực hiện. Trên cơ sở đó, Thứ trưởng đề nghị Bộ Tài chính tiếp tục rà soát, tinh gọn lại Điều 2 theo hướng khái quát, súc tích, bảo đảm mỗi nguyên tắc phải phản ánh được định hướng cốt lõi của chính sách cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Các nội dung mang tính giải thích, triển khai có thể cân nhắc đưa xuống phần quy định cụ thể hoặc thuyết minh, tránh đưa toàn bộ vào nguyên tắc. Thứ trưởng cũng lưu ý việc hoàn thiện quy định cần bảo đảm đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dự thảo Nghị quyết và tính khả thi khi tổ chức thực hiện trên thực tế.

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vấn đề lý luận về quyết định hành chính

Một số vấn đề lý luận về quyết định hành chính

Tóm tắt: Ban hành và thực thi quyết định hành chính là nội dung quan trọng trong áp dụng pháp luật. Nghiên cứu phân tích một số vấn đề lý luận về quyết định hành chính trong hoạt động quản lý nhà nước hiện nay. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò và các yêu cầu đối với quyết định hành chính, nghiên cứu khẳng định quyết định hành chính là công cụ quan trọng để cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều hành và tổ chức thi hành pháp luật.
Kinh nghiệm của một số quốc gia về luật Omnibus và kiến nghị hoàn thiện kỹ thuật “một luật sửa nhiều luật” tại Việt Nam

Kinh nghiệm của một số quốc gia về luật Omnibus và kiến nghị hoàn thiện kỹ thuật “một luật sửa nhiều luật” tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh Nghị quyết số 27-NQ/TWI đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, kịp thời, kỹ thuật “một luật sửa nhiều luật” ngày càng được áp dụng phổ biến nhưng chưa có khung lý luận và pháp lý tương xứng. Nghiên cứu phân tích một số vấn đề chung về kỹ thuật Omnibus, kinh nghiệm kiểm soát luật Omnibus tại Hoa Kỳ và Indonesia, đồng thời, đánh giá thực tiễn áp dụng kỹ thuật “một luật sửa nhiều luật” tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sửa đổi nhiều luật trong cùng một văn bản tại Việt Nam còn mang tính cơ học, thiếu nguyên tắc chung cho toàn bộ dự luật, trong khi quy trình đánh giá tác động của chính sách chưa được thực hiện đầy đủ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về kỹ thuật “một luật sửa nhiều luật”; cấu trúc luật sửa đổi, bổ sung nhiều luật bắt buộc phải có nguyên tắc chung; đồng thời, đổi mới quy trình đánh giá tác động của chính sách và cơ chế thẩm tra liên Ủy ban.
Bảo đảm tính tương xứng khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản và phong tỏa tài khoản theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Bảo đảm tính tương xứng khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản và phong tỏa tài khoản theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản là biện pháp cưỡng chế cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp này có thể hạn chế đối với quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức có liên quan. Vì vậy, tính tương xứng có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm sự cân bằng hợp lý giữa mục tiêu tố tụng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Nghiên cứu phân tích mức độ thể hiện của tính tương xứng trong quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kê biên tài sản và phong tỏa tài khoản, trên cơ sở đó, nhận diện một số hạn chế và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính tương xứng trong thực tiễn áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Tóm tắt: Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính là một trong những nội dung quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[I] và các văn bản quy định chi tiết. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính còn một số bất cập, gồm: thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật; thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay chưa được quy định đầy đủ; quy định về giao quyền xử phạt còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu phân tích những bất cập này, từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, thường gọi là “bỏ cọc”, đang được xử lý chủ yếu bằng cách tăng mức tiền đặt trước và áp dụng chế tài cấm tham gia đấu giá. Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của khoản tiền đặt trước; tiêu chí phân định tranh chấp dân sự và hành chính; căn cứ xem xét quyết định hủy quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá; yêu cầu kiểm soát tư pháp đối với quyết định cấm tham gia đấu giá và trách nhiệm tài sản của các bên. Trên cơ sở đánh giá dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (dự thảo Luật), nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án theo hướng chế tài được áp dụng thống nhất và chịu sự kiểm soát của Tòa án.
Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động luật sư và những vấn đề pháp lý đặt ra

Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động luật sư và những vấn đề pháp lý đặt ra

Tóm tắt: Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động luật sư là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi để phát triển thị trường dịch vụ pháp lý. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành và so sánh với dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi), nghiên cứu nhận diện 05 vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện gồm: cơ chế liên thông thủ tục gia nhập nghề, thành phần hồ sơ đăng ký hoạt động, phương thức công khai thông tin, nghĩa vụ cập nhật nội dung đăng ký và tính ổn định của các biện pháp cải cách; từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện nhằm góp phần phát triển thị trường dịch vụ pháp lý trong kỷ nguyên mới.
Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 lần đầu định danh hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất nhưng chưa thiết lập cơ chế điều chỉnh tương ứng. Nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của quan hệ này; từ đó, chỉ ra 04 hạn chế của pháp luật hiện hành: (i) quyền hợp tác chưa rõ ràng, minh bạch cho cá nhân sử dụng đất; (ii) chưa xác định rõ phạm vi quyền sử dụng đất được đưa vào hợp tác; (iii) chưa có điều kiện thực hiện riêng; (iv) chưa xác định đầy đủ hệ quả pháp lý. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã có một số điều chỉnh, nhưng chưa khắc phục triệt để những bất cập này. Nghiên cứu đề xuất ghi nhận hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất thành quyền độc lập kèm theo tiêu chí xác định quan hệ theo bản chất, xác định rõ nhóm người sử dụng đất được thực hiện quyền, bổ sung điều kiện thực hiện phù hợp với đặc điểm không làm chuyển dịch quyền sử dụng đất, thiết lập cơ chế đăng ký, công khai quan hệ hợp tác gắn với việc xác định hiệu lực đối với người thứ ba và nguyên tắc bảo vệ các quyền có liên quan.
Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Tóm tắt: Quyền bề mặt được Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận là quyền khác đối với tài sản, cho phép chủ thể khai thác mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của chủ thể khác. Đây là thiết chế có tiềm năng phân tách quyền khai thác không gian khỏi quyền sử dụng đất, huy động vốn đầu tư và phát triển bất động sản theo chiều cao, chiều sâu và đa công năng. Tuy nhiên, hiện, các quy định pháp luật chủ yếu dừng ở mức khái quát, chưa hình thành cơ chế pháp lý đồng bộ về xác lập, đăng ký, công khai hóa, hiệu lực đối kháng, giao dịch, thế chấp, định giá, bảo vệ quyền và xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt. Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng mới về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai, nhưng chưa trực tiếp thiết lập thủ tục đăng ký quyền bề mặt. Nghiên cứu phân tích bản chất và vai trò của quyền bề mặt, đánh giá những khoảng trống của pháp luật Việt Nam, tham chiếu kinh nghiệm của một số quốc gia và đề xuất mô hình hoàn thiện theo hướng: thừa nhận đầy đủ tính chất vật quyền; kiến nghị sửa đổi Điều 269 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng lấy đăng ký làm điều kiện đối kháng, kèm theo quy định chuyển tiếp; mô tả đối tượng theo không gian ba chiều; bảo đảm khả năng chuyển giao, thế chấp và tài trợ dự án; đồng thời, cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất, chủ thể quyền bề mặt, nhà đầu tư và người thứ ba.
Nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư trong tình hình mới

Nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư trong tình hình mới

Trong khuôn khổ chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, chiều ngày 02/11, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Luật sư (sửa đổi).
Luật sư tập sự: Mở rộng cơ hội thực hành, nâng cao chất lượng hành nghề

Luật sư tập sự: Mở rộng cơ hội thực hành, nâng cao chất lượng hành nghề

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI xem xét, cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp thứ 2 với nhiều nội dung đáng chú ý. Trong đó, dự thảo Luật đề xuất thay thế chế định "người tập sự hành nghề luật sư" bằng "luật sư tập sự", đồng thời bổ sung một số quyền nhằm tạo điều kiện cho người tập sự tham gia sâu hơn vào các hoạt động nghề nghiệp thực tiễn. Để làm rõ ý nghĩa của đề xuất này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Luật sư Huỳnh Phương Nam - Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tóm tắt: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn một số bất cập, chồng chéo giữa các đạo luật về thẩm quyền, thủ tục, khiếu nại và kỹ thuật lập pháp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật. Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Tóm tắt: Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật[1] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, trong đó, chú trọng xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, đánh giá tác động chính sách và bổ sung cơ chế đánh giá kết quả thực hiện sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích Chính sách 3 về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2], đánh giá khả năng điều chỉnh kịp thời các quy định pháp luật trước những thay đổi của thực tiễn và việc sử dụng kết quả thi hành pháp luật để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, cơ chế theo dõi, đánh giá và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn thi hành chưa được quy định đầy đủ; bên cạnh đó, một số quy định còn thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh, thuật ngữ và thẩm quyền. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng và đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung pháp luật được thực hiện kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn mà không làm gia tăng thủ tục.
Pháp luật về phòng vệ chính đáng của một số quốc gia và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Pháp luật về phòng vệ chính đáng của một số quốc gia và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tóm tắt: Phòng vệ chính đáng là chế định quan trọng của pháp luật hình sự, phản ánh sự cân bằng giữa quyền tự vệ của cá nhân và yêu cầu bảo đảm trật tự pháp luật. Nghiên cứu phân tích, so sánh quy định về phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự Trung Quốc, Đức, Hoa Kỳ, Việt Nam và chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật các quốc gia này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phòng vệ chính đáng theo hướng cụ thể, minh bạch và bảo đảm tốt hơn quyền con người, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Nâng cao hiệu quả tổ chức vận hành hệ thống phòng ngừa, giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính

Nâng cao hiệu quả tổ chức vận hành hệ thống phòng ngừa, giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính

Ngày 23/10/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 2322/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ rà soát pháp luật, cơ chế, chính sách và tổ chức vận hành hệ thống phòng ngừa, giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính (Kế hoạch).
Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: