Từ khóa: thẩm quyền; xử lý vi phạm hành chính; vi phạm hành chính; giao quyền xử phạt.
Nhận bài: 02/9/2026 Hoàn thành biên tập: 06/10/2026 Duyệt đăng: 12/10/2026
Improving the law on authority to handle administrative violations
Abstract: The authority to handle administrative violations is a key aspect of the 2012 Law on Handling of Administrative Violations and its accompanying detailed implementing documents. However, research indicates that the provisions governing this authority contain several shortcomings, including: a lack of consistency across the legal system regarding the sanctioning powers assigned to various official positions; incomplete regulations concerning the authority of aircraft commanders to detain individuals under administrative procedures; and significant limitations regarding the delegation of sanctioning authority. Consequently, this study analyzes these shortcomings and proposes recommendations to improve the legal framework, aiming to ensure the consistency, coherence, and feasibility of the provisions related to the authority to handle administrative violations.
Keywords: Authority; handling of administrative violations; administrative violation; delegation of sanctioning authority.
Article received: 02/9/2026 Editing completed: 06/10/2026 Approved for publication: 12/10/2026
Đặt vấn đề
Kết luận số 09-KL/TW[1] định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đồng thời, Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15[2] đặt ra yêu cầu tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là văn bản luật chủ đạo điều chỉnh hoạt động này. Đặc biệt, trong bối cảnh không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện, việc rà soát và phân định lại thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trở thành yêu cầu cấp thiết.
Ngày 25/6/2025, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Tuy nhiên, yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này đòi hỏi phải tiếp tục sửa đổi Luật theo hướng đồng bộ, toàn diện, đặc biệt là các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi)[3] (dự thảo Luật) được xây dựng, lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan[4]. Trên cơ sở dự thảo Luật, nghiên cứu tập trung phân tích những bất cập trong quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện.
1. Khái quát về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
Thẩm quyền là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật khi đề cập đến chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của một chủ thể[5]. Dưới góc độ ngôn ngữ, thẩm quyền được hiểu là quyền chính thức được quyết định về một vấn đề[6]. Dưới góc độ lý luận, thẩm quyền là hệ thống các yếu tố cấu thành gồm hai nhóm sau: (i) các quyền và nghĩa vụ chung để thực hiện các chức năng nhất định mà một chủ thể được trao để giải quyết những vấn đề phát sinh trong hoạt động của mình; (ii) các quyền hạn cụ thể để thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung đó[7]. Theo Từ điển Luật học, thẩm quyền là quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề. Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước, người nắm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ. Thẩm quyền của mỗi cơ quan và cá nhân được phân định theo lĩnh vực, khu vực hành chính, cấp hành chính[8]. Từ những cách tiếp cận trên, có thể hiểu, thẩm quyền là quyền xem xét, quyết định, gắn với quyền hạn, nhiệm vụ của một chủ thể nhất định.
Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính là chế định pháp lý gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các chức danh có thẩm quyền trong xử lý chủ thể vi phạm, gồm xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính[9]. Xuất phát từ tầm quan trọng đó, Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Điều 3 dự thảo Luật đều xác định nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính “phải được tiến hành đúng thẩm quyền”.
2. Một số bất cập trong quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của dự thảo Luật
Nghiên cứu các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong dự thảo Luật cho thấy một số hạn chế, bất cập sau:
2.1. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ được giao chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh từ Điều 38 đến Điều 51. Theo đó, Luật quy định 185 chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, trong đó, 176 chức danh thuộc cơ quan hành chính nhà nước (chiếm khoảng 95%) và 09 chức danh thuộc Tòa án (chiếm khoảng 5%). So với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung các năm 2007, 2008), Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã bổ sung 86 chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính[10]. Việc mở rộng các chức danh có thẩm quyền xử phạt nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng tồn đọng trong xử lý vi phạm, bảo đảm các hành vi vi phạm được phát hiện và xử lý kịp thời.
Năm 2020, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung theo hướng bãi bỏ thẩm quyền xử phạt của một số chức danh, đồng thời, bổ sung thẩm quyền cho các chức danh mới nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý. Sau lần sửa đổi này, số lượng chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính tăng lên 207. Đến năm 2025, Quốc hội tiếp tục sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, bãi bỏ thẩm quyền xử phạt của một số chức danh ở đơn vị hành chính cấp huyện, đồng thời, bổ sung thẩm quyền cho một số chức danh mới, trong đó có thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc điều chỉnh các chức danh có thẩm quyền xử phạt góp phần giảm tải công việc cho các lực lượng chuyên trách và nâng cao tính kịp thời, hiệu quả trong phát hiện, xử lý vi phạm hành chính.
Điểm mới quan trọng trong lần sửa đổi năm 2025 là bãi bỏ các quy định về thẩm quyền xử phạt của từng chức danh từ Điều 38 đến Điều 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Thay vào đó, Luật bổ sung Điều 37a, quy định các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định chi tiết thẩm quyền của từng chức danh. Theo điểm b khoản 1 Điều 37a, một trong các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ. Để cụ thể hóa quy định này, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP[11] liệt kê một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, gồm Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Cục trưởng Cục Hành chính tư pháp, Cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước… Tuy nhiên, sau khi liệt kê các chức danh cụ thể, khoản 3 Điều 6 tiếp tục quy định khái quát về thẩm quyền xử phạt của thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ. Quy định này về cơ bản lặp lại nội dung tại điểm b khoản 1 Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, nhưng chưa làm rõ phạm vi chủ thể được trao thẩm quyền và điều kiện áp dụng đối với những chức danh chưa được liệt kê cụ thể.
Trước yêu cầu của hoạt động quản lý nhà nước trong bối cảnh không còn các cơ quan thanh tra để thực hiện việc thanh tra chuyên ngành, ngày 05/8/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 217/2025/NĐ-CP quy định về hoạt động kiểm tra chuyên ngành. Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 217/2025/NĐ-CP quy định người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành đối với tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi được phân cấp, ủy quyền. Theo đó, khi được phân cấp, ủy quyền, người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành đối với tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý. Theo điểm b khoản 1 Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, những chủ thể này cũng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP chỉ liệt kê một số chức danh là người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành có quyền xử phạt vi phạm hành chính. Đối với những người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành nhưng chưa được quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP thì không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Nghiên cứu cho thấy, có ít nhất 30 chức danh thuộc 09 bộ là người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành nhưng chưa được quy định cụ thể về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính[12]. Thực trạng này dẫn đến trường hợp, khi phát hiện hành vi vi phạm trong quá trình kiểm tra chuyên ngành, cơ quan này phải chuyển hồ sơ sang cơ quan khác để xử lý, làm giảm tính kịp thời trong xử lý, chấn chỉnh hành vi vi phạm[13].
Nhằm khắc phục bất cập này, ngày 06/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 311/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP, trong đó, bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho một số chức danh là người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ. Tại Bộ Tư pháp, các chức danh được bổ sung gồm Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý; Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước; Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính. Tại Bộ Xây dựng, một số chức danh như Cục trưởng Cục Phát triển đô thị, Cục trưởng Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng… cũng được bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Việc tiếp tục bổ sung các chức danh theo phương thức liệt kê chưa giải quyết triệt để bất cập, nếu còn những chức danh có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành nhưng chưa được xác định rõ thẩm quyền xử phạt. Tuy nhiên, quy định về thẩm quyền xử phạt của Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ vẫn được duy trì tại khoản 3 Điều 6 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP, trong khi phạm vi áp dụng đối với những chức danh không được liệt kê cụ thể chưa được làm rõ. Chẳng hạn, đối với trường hợp Cục trưởng Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nếu được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành nhưng không thuộc các chức danh được quy định cụ thể tại Nghị định số 189/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 311/2026/NĐ-CP) thì không có quyền xử phạt vi phạm hành chính.
2.2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh chưa được quy định thống nhất giữa dự thảo Luật với Luật Thủ đô năm 2026[14] và Luật Phát triển đô thị năm 2026[15]
Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, việc liệt kê các chức danh này không mang tính liệt kê khép kín, bởi pháp luật đã dự liệu trường hợp phát sinh các cơ quan, lực lượng mới trong quá trình tổ chức bộ máy nhà nước. Trong bối cảnh đẩy mạnh sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy, việc thành lập mới hoặc tổ chức lại các cơ quan, lực lượng có thể đặt ra yêu cầu điều chỉnh tương ứng về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Để đáp ứng yêu cầu này, khoản 4 Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định trường hợp thành lập mới các cơ quan, lực lượng chưa được quy định tại Luật này, thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh thuộc các cơ quan, lực lượng được thành lập mới do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Quy định này vừa tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ quy định thẩm quyền xử phạt của các chức danh thuộc cơ quan, lực lượng mới, vừa thiết lập cơ chế kiểm soát thông qua sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và nghĩa vụ báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Kế thừa quy định trên, khoản 4 Điều 39 dự thảo Luật tiếp tục giao Chính phủ quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh thuộc cơ quan, lực lượng được thành lập mới sau khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý. Tuy nhiên, khác với khoản 4 Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, khoản 4 Điều 39 dự thảo Luật không quy định Chính phủ phải báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Việc bãi bỏ quy định này có thể xuất phát từ quan điểm cho rằng, khi Chính phủ xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thiết lập cơ chế kiểm soát đối với việc xác lập thẩm quyền xử phạt, qua đó giảm bớt thủ tục hành chính.
Bên cạnh đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và dự thảo Luật chưa quy định cho phép các chủ thể ngoài Chính phủ, như Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân…, ban hành văn bản pháp luật để bổ sung chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Trong khi đó, Luật Thủ đô năm 2026 và Luật Phát triển đô thị năm 2026 lại quy định theo hướng khác. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 14 Luật Thủ đô năm 2026, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội quy định chức danh, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khác với quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Tương tự, khoản 1 Điều 16 Luật Phát triển đô thị năm 2026 cho phép Hội đồng nhân dân thành phố tại các đô thị đặc biệt quy định về chức danh, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khác với quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Theo đó, các quy định này tạo cơ sở pháp lý để Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội và Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quy định về chức danh, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khác với Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và dự thảo Luật. Sự khác biệt này đặt ra yêu cầu rà soát, hoàn thiện dự thảo Luật để bảo đảm tính tương thích giữa các văn bản luật, đồng thời, duy trì tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
2.3. Thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay trong dự thảo Luật
Tạm giữ người theo thủ tục hành chính là một biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, được áp dụng trong những trường hợp luật định, trong đó, có hành vi gây rối trật tự, gây thương tích cho người khác. Đối với hoạt động hàng không dân dụng, những hành vi này tuy không phổ biến nhưng có thể đe dọa nghiêm trọng đến an ninh hàng không và an toàn bay. Theo số liệu của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), tỷ lệ các vụ hành khách gây rối trên tàu bay có xu hướng gia tăng trong những năm được thống kê. Dựa trên 53.538 báo cáo sự cố từ hơn 60 hãng hàng không trên toàn thế giới, năm 2024, ghi nhận trung bình một sự cố trên mỗi 395 chuyến bay so với 1/405 vào năm 2023 và 1/1.434 vào năm 2016[16]. Theo Báo cáo của Thanh tra Cục Hàng không Việt Nam trong giai đoạn 05 năm (2019 - 2023), các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã xử phạt 484 trường hợp vi phạm hành chính về an ninh hàng không, trong đó có 11 trường hợp gây rối trật tự, gây thương tích cho người khác trên tàu bay nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự (chiếm 2,27%)[17].
Nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm trên tàu bay, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định người chỉ huy tàu bay có thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính khi tàu bay đã rời khỏi sân bay. Trong trường hợp này, người chỉ huy tàu bay là cá nhân được Nhà nước trao quyền thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước. Mặc dù không phải là chủ thể quản lý nhà nước và không trực tiếp mang quyền lực nhà nước, người chỉ huy tàu bay vẫn được trao thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính, do tính chất đặc thù của hoạt động hàng không, trong đó, các hành vi vi phạm có thể xảy ra ở nơi hạn chế sự hiện diện và khả năng can thiệp kịp thời của người thi hành công vụ[18].
Qua các lần sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính vào các năm 2014, 2017, 2020, 2022, 2024, thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay khi tàu bay đã rời khỏi sân bay vẫn được duy trì. Tuy nhiên, tại lần sửa đổi năm 2025, quy định về thẩm quyền này đã bị bãi bỏ. Đồng thời, khoản 1 Điều 91 dự thảo Luật không quy định thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay. Trong khi đó, khoản 3 Điều 90 dự thảo Luật lại quy định: “đối với người bị tạm giữ trên tàu bay thì phải chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền khi tàu bay đến sân bay”. Quy định này đặt ra vấn đề về căn cứ pháp lý xác định chủ thể có thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính trên tàu bay khi tàu bay đã rời khỏi sân bay. Từ góc độ pháp lý, khi người gây rối trật tự, gây thương tích cho người khác trên tàu bay bị tạm giữ bằng quyết định của người có thẩm quyền thì mới có thể chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền khi tàu bay đến sân bay[19]. Tuy nhiên, dự thảo Luật không quy định cụ thể chủ thể có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ người trong trường hợp này.
2.4. Vấn đề giao quyền xử lý vi phạm hành chính
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 không quy định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính cho cấp phó trong cơ quan, đơn vị mà chỉ quy định thẩm quyền này đối với các chức danh trực tiếp thi hành công vụ và cấp trưởng. Tuy nhiên, do khối lượng công việc lớn, cấp trưởng có thể gặp khó khăn trong việc bố trí thời gian giải quyết kịp thời các vụ việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình, trong khi hoạt động xử lý vi phạm hành chính đòi hỏi phải được thực hiện kịp thời. Vì vậy, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cho phép cấp trưởng giao quyền xử lý vi phạm hành chính cho cấp phó. Cụ thể, Điều 54 quy định người có thẩm quyền xử phạt có thể giao cho cấp phó thực hiện quyền xử phạt vi phạm hành chính; Điều 87 quy định người có thẩm quyền cưỡng chế có thể giao quyền cho cấp phó; Điều 123 quy định người có thẩm quyền tạm giữ người có thể giao quyền cho cấp phó khi vắng mặt. Dự thảo Luật tiếp tục kế thừa cơ chế giao quyền này. Theo đó, việc giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định, trong đó, xác định rõ phạm vi, nội dung và thời hạn giao quyền.
Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP[20] quy định việc giao quyền xử lý vi phạm hành chính phải được thể hiện bằng văn bản dưới hình thức quyết định. Theo điểm d khoản 4 Điều 10 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP, quyết định giao quyền hết hiệu lực khi người giao quyền nghỉ hưu, thôi việc, được điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, cách chức, giáng chức hoặc tạm đình chỉ công tác theo quy định của pháp luật.
Việc quyết định giao quyền chấm dứt hiệu lực khi người giao quyền nghỉ hưu, thôi việc, được điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, cách chức về cơ bản là hợp lý, bởi những trường hợp này có thể làm thay đổi hoặc chấm dứt chức vụ, vị trí của người giao quyền. Tuy nhiên, quy định chấm dứt hiệu lực quyết định giao quyền khi người giao quyền bị tạm đình chỉ công tác cần được xem xét lại.
Theo khoản 13 Điều 5 Luật Cán bộ, công chức năm 2025, tạm đình chỉ công tác là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định việc cán bộ, công chức dừng thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao trong thời hạn nhất định. Điều 56 Nghị định số 170/2025/NĐ-CР[21] quy định thời hạn tạm đình chỉ công tác trong trường hợp cần thiết không quá 30 ngày làm việc, trường hợp phải gia hạn thì thời gian gia hạn tạm đình chỉ công tác tối đa không quá 30 ngày làm việc. Trong thời gian tạm đình chỉ công tác, cán bộ, công chức vẫn được hưởng lương theo quy định của pháp luật. Khi hết thời hạn tạm đình chỉ công tác, nếu không bị xử lý kỷ luật, cán bộ, công chức được tiếp tục bố trí làm việc ở vị trí cũ.
Như vậy, tạm đình chỉ công tác không đồng nghĩa với người giao quyền bị xử lý kỷ luật. Mặc dù không thể trực tiếp xử lý vi phạm hành chính trong thời gian này, người giao quyền vẫn giữ chức vụ cấp trưởng và không đương nhiên mất thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. Do đó, quyết định giao quyền trong trường hợp này cần được xem xét duy trì hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 10 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định quyết định giao quyền chấm dứt hiệu lực khi người giao quyền bị tạm đình chỉ công tác. Quy định này còn bất cập, bởi khi cấp trưởng bị tạm đình chỉ công tác, quyết định giao quyền cho cấp phó cũng chấm dứt hiệu lực, dẫn đến nguy cơ không có chủ thể thực hiện thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, nếu chưa có cơ chế thay thế kịp thời. Điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước và yêu cầu phát hiện, xử lý vi phạm hành chính nhanh chóng, kịp thời.
Bên cạnh đó, theo Điều 79 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), giáng chức là một trong những hình thức kỷ luật đối với công chức. Tuy nhiên, Luật Cán bộ, công chức năm 2025 đã bãi bỏ hình thức kỷ luật giáng chức. Vì vậy, việc tiếp tục quy định giáng chức là căn cứ chấm dứt hiệu lực quyết định giao quyền tại khoản 4 Điều 10 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP không còn tương thích với pháp luật về kỷ luật cán bộ, công chức.
3. Kiến nghị hoàn thiện thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong dự thảo Luật
Trên cơ sở phân tích những bất cập, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong dự thảo Luật như sau:
Thứ nhất, khôi phục quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo hướng khung và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Trong bối cảnh các quan hệ xã hội biến đổi nhanh chóng, việc ban hành luật khung là hướng tiếp cận có thể xem xét xử lý các quan hệ xã hội mới phát sinh nhằm bảo đảm tính ổn định của pháp luật. Thực tế, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các pháp lệnh về xử lý vi phạm hành chính trước đây khi quy định về các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đều mang tính chất khung. Cụ thể, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định phạt tiền theo mức cố định hoặc theo tỷ lệ phần trăm có khống chế mức trần xử phạt đối với các chức danh. Trên cơ sở đó, các văn bản quy định chi tiết xác định cụ thể thẩm quyền của từng chức danh nhưng không được vượt quá giới hạn do Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính linh hoạt trong quy định thẩm quyền xử phạt, vừa góp phần hạn chế nguy cơ tùy tiện, lạm quyền.
Tuy nhiên, trong lần sửa đổi năm 2025, Quốc hội đã bãi bỏ các quy định về thẩm quyền khung của các chức danh có thẩm quyền xử phạt, thay vào đó, chỉ liệt kê các chức danh có thẩm quyền. Việc không quy định khống chế mức trần xử phạt đối với các chức danh có thể làm phát sinh khó khăn trong công tác giám sát các văn bản dưới luật khi cụ thể hóa thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Vì vậy, nghiên cứu kiến nghị dự thảo Luật khôi phục cách quy định các chức danh có thẩm quyền xử phạt như Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Theo đó, dự thảo Luật cần quy định cụ thể các chức danh có thẩm quyền xử phạt và thẩm quyền phạt tiền theo mức cố định hoặc theo tỷ lệ phần trăm có khống chế mức trần xử phạt đối với từng chức danh. Trường hợp cần bổ sung chức danh có thẩm quyền xử phạt, Chính phủ có thể quyết định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định tại khoản 4 Điều 39 dự thảo Luật. Bên cạnh đó, dự thảo Luật cần quy định nguyên tắc cho phép Hội đồng nhân dân thành phố ở các đô thị đặc biệt có quyền quy định về chức danh, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khác với quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Quy định ngoại lệ này nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời, tạo sự tương thích giữa dự thảo Luật với Luật Thủ đô năm 2026 và Luật Phát triển đô thị năm 2026 khi quy định về chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Thứ hai, bổ sung thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay.
Điểm c khoản 3 Điều 90 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2025 quy định trong thời gian tàu bay đang bay, được áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với những người thực hiện các hành vi vi phạm trong tàu bay theo quy định. Quy định này đặt ra yêu cầu phải xác định cụ thể các biện pháp ngăn chặn mà người chỉ huy tàu bay được áp dụng trong thời gian tàu bay đang bay.
Do đó, để bảo đảm tính thống nhất giữa pháp luật hàng không dân dụng và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nghiên cứu kiến nghị khôi phục quy định cho phép người chỉ huy tàu bay được quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính khi tàu bay đã rời khỏi sân bay. Theo đó, khoản 1 Điều 91 dự thảo Luật cần bổ sung quy định về thẩm quyền này. Việc bổ sung sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để người chỉ huy tàu bay áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người có hành vi vi phạm trên tàu bay, đồng thời, góp phần bảo đảm an ninh hàng không và trật tự, an toàn bay.
Thứ ba, hoàn thiện quy định về giao quyền xử lý vi phạm hành chính.
Giao quyền xử lý vi phạm hành chính là một nội dung cần được quy định rõ trong pháp luật. Vì vậy, vấn đề này cần được quy định trực tiếp trong dự thảo Luật. Theo đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu luật hóa các trường hợp giao quyền xử lý vi phạm hành chính được quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP. Đồng thời, bãi bỏ quy định về việc chấm dứt hiệu lực của quyết định giao quyền khi “người giao quyền bị giáng chức hoặc bị tạm đình chỉ công tác theo quy định của pháp luật”. Việc bãi bỏ quy định này sẽ bảo đảm quyết định giao quyền tiếp tục có hiệu lực khi người giao quyền bị tạm đình chỉ công tác. Trường hợp người giao quyền bị kỷ luật bằng hình thức cách chức, dẫn đến không còn giữ chức vụ cấp trưởng, quyết định giao quyền cho cấp phó cần chấm dứt hiệu lực.
Kết luận
Tính thống nhất trong quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính không chỉ giúp hạn chế tình trạng chồng chéo, xung đột thẩm quyền, mà còn góp phần xác định rõ trách nhiệm, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động quản lý nhà nước. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, rà soát và hoàn thiện các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong dự thảo Luật là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của pháp luật. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho các chức danh có thẩm quyền thực thi nhiệm vụ, hạn chế sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật và giảm thiểu nguy cơ phát sinh khiếu nại, khởi kiện.
PGS. TS. Cao Vũ Minh
Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Ảnh: Internet
[I] Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2017, 2020, 2022, 2024, 2025.
[1]. Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[2]. Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 ngày 03/4/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
[3]. Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) ngày 18/6/2026, xem tại: https://phapluat.gov.vn/du-thao-vbqppl/2064.
[4]. Công văn số 3430/BCA-VO3 ngày 02/7/2026 của Bộ Công an về việc đề nghị thẩm định Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).
[5]. Phạm Hồng Thái (2009), Chức vụ và thẩm quyền chức vụ trong cơ quan hành chính nhà nước, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, số 25, tr.70.
[6]. Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1702.
[7]. Nguyễn Cửu Việt (2009), Một số vấn đề đổi mới pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1, tr.18.
[8]. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Nxb. Tư pháp, tr.701.
[9]. Nguyễn Cửu Việt (2005), Cải cách hành chính: về khái niệm thẩm quyền, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8, tr.42.
[10]. Cao Vũ Minh (2020), Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1, tr.18.
[11]. Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và Bồi thường nhà nước…
[12]. Bộ Tư pháp: Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý; Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm
[13]. Báo cáo số 312/BC-BTP ngày 06/4/2026 của Bộ Tư pháp về một số vướng mắc và thực tiễn về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến hoạt động kiểm tra.
[14]. Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
[15]. Luật Phát triển đô thị năm 2026 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 24/8/2026, có hiệu lực từ ngày 01/10/2026.
[16]. Quang Phong (2025), Báo động tình trạng hành khách gây rối trên máy bay, Tạp chí Hàng không, số 7, tr.31.
[17]. Nguyễn Tùng Bảo Thanh (2024), Giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo an ninh hàng không tại các cảng hàng không, sân bay, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 2, tr.22.
[18]. Nguyễn Cảnh Hợp, Cao Vũ Minh (2010), Bàn về cá nhân, tổ chức được nhà nước trao quyền trong đối tượng điều chỉnh của ngành luật hành chính, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5, tr.19.
[19]. Nguyễn Nhật Khanh, Cao Vũ Minh (2025), Hoàn thiện Dự thảo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, tr.19.
[20]. Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP ngày 18/3/2025 và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025.
[21]. Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 300/2026/NĐ-CP ngày 29/7/2026.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo số 312/BC-BTP ngày 06/4/2026 của Bộ Tư pháp về một số vướng mắc và thực tiễn về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến hoạt động kiểm tra.
2. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Nxb. Tư pháp.
3. Cao Vũ Minh (2020), Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1.
4. Công văn số 3430/BCA-VO3 ngày 02/7/2026 của Bộ Công an về việc đề nghị thẩm định Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).
5. Nguyễn Cảnh Hợp, Cao Vũ Minh (2010), Bàn về cá nhân, tổ chức được nhà nước trao quyền trong đối tượng điều chỉnh của ngành luật hành chính, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5.
6. Nguyễn Cửu Việt (2005), Cải cách hành chính: về khái niệm thẩm quyền, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8.
7. Nguyễn Cửu Việt (2009), Một số vấn đề đổi mới pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1.
8. Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
9. Nguyễn Nhật Khanh, Cao Vũ Minh (2025), Hoàn thiện Dự thảo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4.
10. Nguyễn Tùng Bảo Thanh (2024), Giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo an ninh hàng không tại các cảng hàng không, sân bay, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 2.
11. Phạm Hồng Thái (2009), Chức vụ và thẩm quyền chức vụ trong cơ quan hành chính nhà nước, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, số 25.
12. Quang Phong (2025), Báo động tình trạng hành khách gây rối trên máy bay, Tạp chí Hàng không, số 7.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (463) - tháng 10/2026)