Thứ năm 05/11/2026 18:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Tóm tắt: Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính là một trong những nội dung quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[I] và các văn bản quy định chi tiết. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính còn một số bất cập, gồm: thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật; thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay chưa được quy định đầy đủ; quy định về giao quyền xử phạt còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu phân tích những bất cập này, từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.

Từ khóa: thẩm quyền; xử lý vi phạm hành chính; vi phạm hành chính; giao quyền xử phạt.

Nhận bài: 02/9/2026 Hoàn thành biên tập: 06/10/2026 Duyệt đăng: 12/10/2026

Improving the law on authority to handle administrative violations

Abstract: The authority to handle administrative violations is a key aspect of the 2012 Law on Handling of Administrative Violations and its accompanying detailed implementing documents. However, research indicates that the provisions governing this authority contain several shortcomings, including: a lack of consistency across the legal system regarding the sanctioning powers assigned to various official positions; incomplete regulations concerning the authority of aircraft commanders to detain individuals under administrative procedures; and significant limitations regarding the delegation of sanctioning authority. Consequently, this study analyzes these shortcomings and proposes recommendations to improve the legal framework, aiming to ensure the consistency, coherence, and feasibility of the provisions related to the authority to handle administrative violations.

Keywords: Authority; handling of administrative violations; administrative violation; delegation of sanctioning authority.

Article received: 02/9/2026 Editing completed: 06/10/2026 Approved for publication: 12/10/2026

Đặt vấn đề

Kết luận số 09-KL/TW[1] định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đồng thời, Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15[2] đặt ra yêu cầu tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là văn bản luật chủ đạo điều chỉnh hoạt động này. Đặc biệt, trong bối cảnh không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện, việc rà soát và phân định lại thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trở thành yêu cầu cấp thiết.

Ngày 25/6/2025, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Tuy nhiên, yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này đòi hỏi phải tiếp tục sửa đổi Luật theo hướng đồng bộ, toàn diện, đặc biệt là các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi)[3] (dự thảo Luật) được xây dựng, lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan[4]. Trên cơ sở dự thảo Luật, nghiên cứu tập trung phân tích những bất cập trong quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện.

1. Khái quát về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Thẩm quyền là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật khi đề cập đến chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của một chủ thể[5]. Dưới góc độ ngôn ngữ, thẩm quyền được hiểu là quyền chính thức được quyết định về một vấn đề[6]. Dưới góc độ lý luận, thẩm quyền là hệ thống các yếu tố cấu thành gồm hai nhóm sau: (i) các quyền và nghĩa vụ chung để thực hiện các chức năng nhất định mà một chủ thể được trao để giải quyết những vấn đề phát sinh trong hoạt động của mình; (ii) các quyền hạn cụ thể để thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung đó[7]. Theo Từ điển Luật học, thẩm quyền là quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề. Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước, người nắm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ. Thẩm quyền của mỗi cơ quan và cá nhân được phân định theo lĩnh vực, khu vực hành chính, cấp hành chính[8]. Từ những cách tiếp cận trên, có thể hiểu, thẩm quyền là quyền xem xét, quyết định, gắn với quyền hạn, nhiệm vụ của một chủ thể nhất định.

Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính là chế định pháp lý gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các chức danh có thẩm quyền trong xử lý chủ thể vi phạm, gồm xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính[9]. Xuất phát từ tầm quan trọng đó, Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Điều 3 dự thảo Luật đều xác định nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính “phải được tiến hành đúng thẩm quyền”.

2. Một số bất cập trong quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của dự thảo Luật

Nghiên cứu các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong dự thảo Luật cho thấy một số hạn chế, bất cập sau:

2.1. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ được giao chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh từ Điều 38 đến Điều 51. Theo đó, Luật quy định 185 chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, trong đó, 176 chức danh thuộc cơ quan hành chính nhà nước (chiếm khoảng 95%) và 09 chức danh thuộc Tòa án (chiếm khoảng 5%). So với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung các năm 2007, 2008), Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã bổ sung 86 chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính[10]. Việc mở rộng các chức danh có thẩm quyền xử phạt nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng tồn đọng trong xử lý vi phạm, bảo đảm các hành vi vi phạm được phát hiện và xử lý kịp thời.

Năm 2020, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung theo hướng bãi bỏ thẩm quyền xử phạt của một số chức danh, đồng thời, bổ sung thẩm quyền cho các chức danh mới nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý. Sau lần sửa đổi này, số lượng chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính tăng lên 207. Đến năm 2025, Quốc hội tiếp tục sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, bãi bỏ thẩm quyền xử phạt của một số chức danh ở đơn vị hành chính cấp huyện, đồng thời, bổ sung thẩm quyền cho một số chức danh mới, trong đó có thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc điều chỉnh các chức danh có thẩm quyền xử phạt góp phần giảm tải công việc cho các lực lượng chuyên trách và nâng cao tính kịp thời, hiệu quả trong phát hiện, xử lý vi phạm hành chính.

Điểm mới quan trọng trong lần sửa đổi năm 2025 là bãi bỏ các quy định về thẩm quyền xử phạt của từng chức danh từ Điều 38 đến Điều 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Thay vào đó, Luật bổ sung Điều 37a, quy định các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định chi tiết thẩm quyền của từng chức danh. Theo điểm b khoản 1 Điều 37a, một trong các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ. Để cụ thể hóa quy định này, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP[11] liệt kê một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, gồm Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Cục trưởng Cục Hành chính tư pháp, Cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước… Tuy nhiên, sau khi liệt kê các chức danh cụ thể, khoản 3 Điều 6 tiếp tục quy định khái quát về thẩm quyền xử phạt của thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ. Quy định này về cơ bản lặp lại nội dung tại điểm b khoản 1 Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, nhưng chưa làm rõ phạm vi chủ thể được trao thẩm quyền và điều kiện áp dụng đối với những chức danh chưa được liệt kê cụ thể.

Trước yêu cầu của hoạt động quản lý nhà nước trong bối cảnh không còn các cơ quan thanh tra để thực hiện việc thanh tra chuyên ngành, ngày 05/8/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 217/2025/NĐ-CP quy định về hoạt động kiểm tra chuyên ngành. Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 217/2025/NĐ-CP quy định người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành đối với tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi được phân cấp, ủy quyền. Theo đó, khi được phân cấp, ủy quyền, người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành đối với tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý. Theo điểm b khoản 1 Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, những chủ thể này cũng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP chỉ liệt kê một số chức danh là người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành có quyền xử phạt vi phạm hành chính. Đối với những người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành nhưng chưa được quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP thì không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Nghiên cứu cho thấy, có ít nhất 30 chức danh thuộc 09 bộ là người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành nhưng chưa được quy định cụ thể về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính[12]. Thực trạng này dẫn đến trường hợp, khi phát hiện hành vi vi phạm trong quá trình kiểm tra chuyên ngành, cơ quan này phải chuyển hồ sơ sang cơ quan khác để xử lý, làm giảm tính kịp thời trong xử lý, chấn chỉnh hành vi vi phạm[13].

Nhằm khắc phục bất cập này, ngày 06/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 311/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 189/2025/NĐ-CP, trong đó, bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho một số chức danh là người đứng đầu đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ. Tại Bộ Tư pháp, các chức danh được bổ sung gồm Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý; Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước; Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính. Tại Bộ Xây dựng, một số chức danh như Cục trưởng Cục Phát triển đô thị, Cục trưởng Cục Kết cấu hạ tầng xây dựng… cũng được bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Việc tiếp tục bổ sung các chức danh theo phương thức liệt kê chưa giải quyết triệt để bất cập, nếu còn những chức danh có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành nhưng chưa được xác định rõ thẩm quyền xử phạt. Tuy nhiên, quy định về thẩm quyền xử phạt của Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ vẫn được duy trì tại khoản 3 Điều 6 Nghị định số 189/2025/NĐ-CP, trong khi phạm vi áp dụng đối với những chức danh không được liệt kê cụ thể chưa được làm rõ. Chẳng hạn, đối với trường hợp Cục trưởng Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nếu được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành nhưng không thuộc các chức danh được quy định cụ thể tại Nghị định số 189/2025/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 311/2026/NĐ-CP) thì không có quyền xử phạt vi phạm hành chính.

2.2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh chưa được quy định thống nhất giữa dự thảo Luật với Luật Thủ đô năm 2026[14] và Luật Phát triển đô thị năm 2026[15]

Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, việc liệt kê các chức danh này không mang tính liệt kê khép kín, bởi pháp luật đã dự liệu trường hợp phát sinh các cơ quan, lực lượng mới trong quá trình tổ chức bộ máy nhà nước. Trong bối cảnh đẩy mạnh sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy, việc thành lập mới hoặc tổ chức lại các cơ quan, lực lượng có thể đặt ra yêu cầu điều chỉnh tương ứng về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Để đáp ứng yêu cầu này, khoản 4 Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định trường hợp thành lập mới các cơ quan, lực lượng chưa được quy định tại Luật này, thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh thuộc các cơ quan, lực lượng được thành lập mới do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Quy định này vừa tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ quy định thẩm quyền xử phạt của các chức danh thuộc cơ quan, lực lượng mới, vừa thiết lập cơ chế kiểm soát thông qua sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và nghĩa vụ báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Kế thừa quy định trên, khoản 4 Điều 39 dự thảo Luật tiếp tục giao Chính phủ quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh thuộc cơ quan, lực lượng được thành lập mới sau khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý. Tuy nhiên, khác với khoản 4 Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, khoản 4 Điều 39 dự thảo Luật không quy định Chính phủ phải báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Việc bãi bỏ quy định này có thể xuất phát từ quan điểm cho rằng, khi Chính phủ xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thiết lập cơ chế kiểm soát đối với việc xác lập thẩm quyền xử phạt, qua đó giảm bớt thủ tục hành chính.

Bên cạnh đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và dự thảo Luật chưa quy định cho phép các chủ thể ngoài Chính phủ, như Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân…, ban hành văn bản pháp luật để bổ sung chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Trong khi đó, Luật Thủ đô năm 2026 và Luật Phát triển đô thị năm 2026 lại quy định theo hướng khác. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 14 Luật Thủ đô năm 2026, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội quy định chức danh, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khác với quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Tương tự, khoản 1 Điều 16 Luật Phát triển đô thị năm 2026 cho phép Hội đồng nhân dân thành phố tại các đô thị đặc biệt quy định về chức danh, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khác với quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Theo đó, các quy định này tạo cơ sở pháp lý để Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội và Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quy định về chức danh, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khác với Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và dự thảo Luật. Sự khác biệt này đặt ra yêu cầu rà soát, hoàn thiện dự thảo Luật để bảo đảm tính tương thích giữa các văn bản luật, đồng thời, duy trì tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

2.3. Thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay trong dự thảo Luật

Tạm giữ người theo thủ tục hành chính là một biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, được áp dụng trong những trường hợp luật định, trong đó, có hành vi gây rối trật tự, gây thương tích cho người khác. Đối với hoạt động hàng không dân dụng, những hành vi này tuy không phổ biến nhưng có thể đe dọa nghiêm trọng đến an ninh hàng không và an toàn bay. Theo số liệu của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), tỷ lệ các vụ hành khách gây rối trên tàu bay có xu hướng gia tăng trong những năm được thống kê. Dựa trên 53.538 báo cáo sự cố từ hơn 60 hãng hàng không trên toàn thế giới, năm 2024, ghi nhận trung bình một sự cố trên mỗi 395 chuyến bay so với 1/405 vào năm 2023 và 1/1.434 vào năm 2016[16]. Theo Báo cáo của Thanh tra Cục Hàng không Việt Nam trong giai đoạn 05 năm (2019 - 2023), các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã xử phạt 484 trường hợp vi phạm hành chính về an ninh hàng không, trong đó có 11 trường hợp gây rối trật tự, gây thương tích cho người khác trên tàu bay nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự (chiếm 2,27%)[17].

Nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm trên tàu bay, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định người chỉ huy tàu bay có thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính khi tàu bay đã rời khỏi sân bay. Trong trường hợp này, người chỉ huy tàu bay là cá nhân được Nhà nước trao quyền thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước. Mặc dù không phải là chủ thể quản lý nhà nước và không trực tiếp mang quyền lực nhà nước, người chỉ huy tàu bay vẫn được trao thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính, do tính chất đặc thù của hoạt động hàng không, trong đó, các hành vi vi phạm có thể xảy ra ở nơi hạn chế sự hiện diện và khả năng can thiệp kịp thời của người thi hành công vụ[18].

Qua các lần sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính vào các năm 2014, 2017, 2020, 2022, 2024, thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay khi tàu bay đã rời khỏi sân bay vẫn được duy trì. Tuy nhiên, tại lần sửa đổi năm 2025, quy định về thẩm quyền này đã bị bãi bỏ. Đồng thời, khoản 1 Điều 91 dự thảo Luật không quy định thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay. Trong khi đó, khoản 3 Điều 90 dự thảo Luật lại quy định: “đối với người bị tạm giữ trên tàu bay thì phải chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền khi tàu bay đến sân bay”. Quy định này đặt ra vấn đề về căn cứ pháp lý xác định chủ thể có thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính trên tàu bay khi tàu bay đã rời khỏi sân bay. Từ góc độ pháp lý, khi người gây rối trật tự, gây thương tích cho người khác trên tàu bay bị tạm giữ bằng quyết định của người có thẩm quyền thì mới có thể chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền khi tàu bay đến sân bay[19]. Tuy nhiên, dự thảo Luật không quy định cụ thể chủ thể có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ người trong trường hợp này.

2.4. Vấn đề giao quyền xử lý vi phạm hành chính

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 không quy định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính cho cấp phó trong cơ quan, đơn vị mà chỉ quy định thẩm quyền này đối với các chức danh trực tiếp thi hành công vụ và cấp trưởng. Tuy nhiên, do khối lượng công việc lớn, cấp trưởng có thể gặp khó khăn trong việc bố trí thời gian giải quyết kịp thời các vụ việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình, trong khi hoạt động xử lý vi phạm hành chính đòi hỏi phải được thực hiện kịp thời. Vì vậy, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cho phép cấp trưởng giao quyền xử lý vi phạm hành chính cho cấp phó. Cụ thể, Điều 54 quy định người có thẩm quyền xử phạt có thể giao cho cấp phó thực hiện quyền xử phạt vi phạm hành chính; Điều 87 quy định người có thẩm quyền cưỡng chế có thể giao quyền cho cấp phó; Điều 123 quy định người có thẩm quyền tạm giữ người có thể giao quyền cho cấp phó khi vắng mặt. Dự thảo Luật tiếp tục kế thừa cơ chế giao quyền này. Theo đó, việc giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định, trong đó, xác định rõ phạm vi, nội dung và thời hạn giao quyền.

Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP[20] quy định việc giao quyền xử lý vi phạm hành chính phải được thể hiện bằng văn bản dưới hình thức quyết định. Theo điểm d khoản 4 Điều 10 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP, quyết định giao quyền hết hiệu lực khi người giao quyền nghỉ hưu, thôi việc, được điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, cách chức, giáng chức hoặc tạm đình chỉ công tác theo quy định của pháp luật.

Việc quyết định giao quyền chấm dứt hiệu lực khi người giao quyền nghỉ hưu, thôi việc, được điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, cách chức về cơ bản là hợp lý, bởi những trường hợp này có thể làm thay đổi hoặc chấm dứt chức vụ, vị trí của người giao quyền. Tuy nhiên, quy định chấm dứt hiệu lực quyết định giao quyền khi người giao quyền bị tạm đình chỉ công tác cần được xem xét lại.

Theo khoản 13 Điều 5 Luật Cán bộ, công chức năm 2025, tạm đình chỉ công tác là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định việc cán bộ, công chức dừng thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao trong thời hạn nhất định. Điều 56 Nghị định số 170/2025/NĐ-CР[21] quy định thời hạn tạm đình chỉ công tác trong trường hợp cần thiết không quá 30 ngày làm việc, trường hợp phải gia hạn thì thời gian gia hạn tạm đình chỉ công tác tối đa không quá 30 ngày làm việc. Trong thời gian tạm đình chỉ công tác, cán bộ, công chức vẫn được hưởng lương theo quy định của pháp luật. Khi hết thời hạn tạm đình chỉ công tác, nếu không bị xử lý kỷ luật, cán bộ, công chức được tiếp tục bố trí làm việc ở vị trí cũ.

Như vậy, tạm đình chỉ công tác không đồng nghĩa với người giao quyền bị xử lý kỷ luật. Mặc dù không thể trực tiếp xử lý vi phạm hành chính trong thời gian này, người giao quyền vẫn giữ chức vụ cấp trưởng và không đương nhiên mất thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. Do đó, quyết định giao quyền trong trường hợp này cần được xem xét duy trì hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 10 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định quyết định giao quyền chấm dứt hiệu lực khi người giao quyền bị tạm đình chỉ công tác. Quy định này còn bất cập, bởi khi cấp trưởng bị tạm đình chỉ công tác, quyết định giao quyền cho cấp phó cũng chấm dứt hiệu lực, dẫn đến nguy cơ không có chủ thể thực hiện thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, nếu chưa có cơ chế thay thế kịp thời. Điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước và yêu cầu phát hiện, xử lý vi phạm hành chính nhanh chóng, kịp thời.

Bên cạnh đó, theo Điều 79 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), giáng chức là một trong những hình thức kỷ luật đối với công chức. Tuy nhiên, Luật Cán bộ, công chức năm 2025 đã bãi bỏ hình thức kỷ luật giáng chức. Vì vậy, việc tiếp tục quy định giáng chức là căn cứ chấm dứt hiệu lực quyết định giao quyền tại khoản 4 Điều 10 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP không còn tương thích với pháp luật về kỷ luật cán bộ, công chức.

3. Kiến nghị hoàn thiện thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong dự thảo Luật

Trên cơ sở phân tích những bất cập, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong dự thảo Luật như sau:

Thứ nhất, khôi phục quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo hướng khung và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Trong bối cảnh các quan hệ xã hội biến đổi nhanh chóng, việc ban hành luật khung là hướng tiếp cận có thể xem xét xử lý các quan hệ xã hội mới phát sinh nhằm bảo đảm tính ổn định của pháp luật. Thực tế, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các pháp lệnh về xử lý vi phạm hành chính trước đây khi quy định về các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đều mang tính chất khung. Cụ thể, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định phạt tiền theo mức cố định hoặc theo tỷ lệ phần trăm có khống chế mức trần xử phạt đối với các chức danh. Trên cơ sở đó, các văn bản quy định chi tiết xác định cụ thể thẩm quyền của từng chức danh nhưng không được vượt quá giới hạn do Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính linh hoạt trong quy định thẩm quyền xử phạt, vừa góp phần hạn chế nguy cơ tùy tiện, lạm quyền.

Tuy nhiên, trong lần sửa đổi năm 2025, Quốc hội đã bãi bỏ các quy định về thẩm quyền khung của các chức danh có thẩm quyền xử phạt, thay vào đó, chỉ liệt kê các chức danh có thẩm quyền. Việc không quy định khống chế mức trần xử phạt đối với các chức danh có thể làm phát sinh khó khăn trong công tác giám sát các văn bản dưới luật khi cụ thể hóa thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Vì vậy, nghiên cứu kiến nghị dự thảo Luật khôi phục cách quy định các chức danh có thẩm quyền xử phạt như Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Theo đó, dự thảo Luật cần quy định cụ thể các chức danh có thẩm quyền xử phạt và thẩm quyền phạt tiền theo mức cố định hoặc theo tỷ lệ phần trăm có khống chế mức trần xử phạt đối với từng chức danh. Trường hợp cần bổ sung chức danh có thẩm quyền xử phạt, Chính phủ có thể quyết định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định tại khoản 4 Điều 39 dự thảo Luật. Bên cạnh đó, dự thảo Luật cần quy định nguyên tắc cho phép Hội đồng nhân dân thành phố ở các đô thị đặc biệt có quyền quy định về chức danh, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khác với quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Quy định ngoại lệ này nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời, tạo sự tương thích giữa dự thảo Luật với Luật Thủ đô năm 2026 và Luật Phát triển đô thị năm 2026 khi quy định về chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ hai, bổ sung thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay.

Điểm c khoản 3 Điều 90 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2025 quy định trong thời gian tàu bay đang bay, được áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với những người thực hiện các hành vi vi phạm trong tàu bay theo quy định. Quy định này đặt ra yêu cầu phải xác định cụ thể các biện pháp ngăn chặn mà người chỉ huy tàu bay được áp dụng trong thời gian tàu bay đang bay.

Do đó, để bảo đảm tính thống nhất giữa pháp luật hàng không dân dụng và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nghiên cứu kiến nghị khôi phục quy định cho phép người chỉ huy tàu bay được quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính khi tàu bay đã rời khỏi sân bay. Theo đó, khoản 1 Điều 91 dự thảo Luật cần bổ sung quy định về thẩm quyền này. Việc bổ sung sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để người chỉ huy tàu bay áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người có hành vi vi phạm trên tàu bay, đồng thời, góp phần bảo đảm an ninh hàng không và trật tự, an toàn bay.

Thứ ba, hoàn thiện quy định về giao quyền xử lý vi phạm hành chính.

Giao quyền xử lý vi phạm hành chính là một nội dung cần được quy định rõ trong pháp luật. Vì vậy, vấn đề này cần được quy định trực tiếp trong dự thảo Luật. Theo đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu luật hóa các trường hợp giao quyền xử lý vi phạm hành chính được quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP. Đồng thời, bãi bỏ quy định về việc chấm dứt hiệu lực của quyết định giao quyền khi “người giao quyền bị giáng chức hoặc bị tạm đình chỉ công tác theo quy định của pháp luật”. Việc bãi bỏ quy định này sẽ bảo đảm quyết định giao quyền tiếp tục có hiệu lực khi người giao quyền bị tạm đình chỉ công tác. Trường hợp người giao quyền bị kỷ luật bằng hình thức cách chức, dẫn đến không còn giữ chức vụ cấp trưởng, quyết định giao quyền cho cấp phó cần chấm dứt hiệu lực.

Kết luận

Tính thống nhất trong quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính không chỉ giúp hạn chế tình trạng chồng chéo, xung đột thẩm quyền, mà còn góp phần xác định rõ trách nhiệm, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động quản lý nhà nước. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, rà soát và hoàn thiện các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong dự thảo Luật là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của pháp luật. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho các chức danh có thẩm quyền thực thi nhiệm vụ, hạn chế sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật và giảm thiểu nguy cơ phát sinh khiếu nại, khởi kiện.

PGS. TS. Cao Vũ Minh

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Ảnh: Internet

[I] Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2017, 2020, 2022, 2024, 2025.

[1]. Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[2]. Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 ngày 03/4/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

[3]. Dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) ngày 18/6/2026, xem tại: https://phapluat.gov.vn/du-thao-vbqppl/2064.

[4]. Công văn số 3430/BCA-VO3 ngày 02/7/2026 của Bộ Công an về việc đề nghị thẩm định Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).

[5]. Phạm Hồng Thái (2009), Chức vụ và thẩm quyền chức vụ trong cơ quan hành chính nhà nước, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, số 25, tr.70.

[6]. Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1702.

[7]. Nguyễn Cửu Việt (2009), Một số vấn đề đổi mới pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1, tr.18.

[8]. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Nxb. Tư pháp, tr.701.

[9]. Nguyễn Cửu Việt (2005), Cải cách hành chính: về khái niệm thẩm quyền, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8, tr.42.

[10]. Cao Vũ Minh (2020), Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1, tr.18.

[11]. Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và Bồi thường nhà nước…

[12]. Bộ Tư pháp: Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý; Cục trưởng Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm

[13]. Báo cáo số 312/BC-BTP ngày 06/4/2026 của Bộ Tư pháp về một số vướng mắc và thực tiễn về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến hoạt động kiểm tra.

[14]. Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

[15]. Luật Phát triển đô thị năm 2026 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 24/8/2026, có hiệu lực từ ngày 01/10/2026.

[16]. Quang Phong (2025), Báo động tình trạng hành khách gây rối trên máy bay, Tạp chí Hàng không, số 7, tr.31.

[17]. Nguyễn Tùng Bảo Thanh (2024), Giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo an ninh hàng không tại các cảng hàng không, sân bay, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 2, tr.22.

[18]. Nguyễn Cảnh Hợp, Cao Vũ Minh (2010), Bàn về cá nhân, tổ chức được nhà nước trao quyền trong đối tượng điều chỉnh của ngành luật hành chính, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5, tr.19.

[19]. Nguyễn Nhật Khanh, Cao Vũ Minh (2025), Hoàn thiện Dự thảo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, tr.19.

[20]. Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP ngày 18/3/2025 và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025.

[21]. Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 300/2026/NĐ-CP ngày 29/7/2026.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo số 312/BC-BTP ngày 06/4/2026 của Bộ Tư pháp về một số vướng mắc và thực tiễn về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến hoạt động kiểm tra.

2. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Nxb. Tư pháp.

3. Cao Vũ Minh (2020), Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1.

4. Công văn số 3430/BCA-VO3 ngày 02/7/2026 của Bộ Công an về việc đề nghị thẩm định Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi).

5. Nguyễn Cảnh Hợp, Cao Vũ Minh (2010), Bàn về cá nhân, tổ chức được nhà nước trao quyền trong đối tượng điều chỉnh của ngành luật hành chính, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5.

6. Nguyễn Cửu Việt (2005), Cải cách hành chính: về khái niệm thẩm quyền, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8.

7. Nguyễn Cửu Việt (2009), Một số vấn đề đổi mới pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1.

8. Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

9. Nguyễn Nhật Khanh, Cao Vũ Minh (2025), Hoàn thiện Dự thảo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4.

10. Nguyễn Tùng Bảo Thanh (2024), Giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo an ninh hàng không tại các cảng hàng không, sân bay, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 2.

11. Phạm Hồng Thái (2009), Chức vụ và thẩm quyền chức vụ trong cơ quan hành chính nhà nước, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, số 25.

12. Quang Phong (2025), Báo động tình trạng hành khách gây rối trên máy bay, Tạp chí Hàng không, số 7.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (463) - tháng 10/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, thường gọi là “bỏ cọc”, đang được xử lý chủ yếu bằng cách tăng mức tiền đặt trước và áp dụng chế tài cấm tham gia đấu giá. Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của khoản tiền đặt trước; tiêu chí phân định tranh chấp dân sự và hành chính; căn cứ xem xét quyết định hủy quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá; yêu cầu kiểm soát tư pháp đối với quyết định cấm tham gia đấu giá và trách nhiệm tài sản của các bên. Trên cơ sở đánh giá dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (dự thảo Luật), nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án theo hướng chế tài được áp dụng thống nhất và chịu sự kiểm soát của Tòa án.
Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 lần đầu định danh hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất nhưng chưa thiết lập cơ chế điều chỉnh tương ứng. Nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của quan hệ này; từ đó, chỉ ra 04 hạn chế của pháp luật hiện hành: (i) quyền hợp tác chưa rõ ràng, minh bạch cho cá nhân sử dụng đất; (ii) chưa xác định rõ phạm vi quyền sử dụng đất được đưa vào hợp tác; (iii) chưa có điều kiện thực hiện riêng; (iv) chưa xác định đầy đủ hệ quả pháp lý. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã có một số điều chỉnh, nhưng chưa khắc phục triệt để những bất cập này. Nghiên cứu đề xuất ghi nhận hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất thành quyền độc lập kèm theo tiêu chí xác định quan hệ theo bản chất, xác định rõ nhóm người sử dụng đất được thực hiện quyền, bổ sung điều kiện thực hiện phù hợp với đặc điểm không làm chuyển dịch quyền sử dụng đất, thiết lập cơ chế đăng ký, công khai quan hệ hợp tác gắn với việc xác định hiệu lực đối với người thứ ba và nguyên tắc bảo vệ các quyền có liên quan.
Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Tóm tắt: Quyền bề mặt được Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận là quyền khác đối với tài sản, cho phép chủ thể khai thác mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của chủ thể khác. Đây là thiết chế có tiềm năng phân tách quyền khai thác không gian khỏi quyền sử dụng đất, huy động vốn đầu tư và phát triển bất động sản theo chiều cao, chiều sâu và đa công năng. Tuy nhiên, hiện, các quy định pháp luật chủ yếu dừng ở mức khái quát, chưa hình thành cơ chế pháp lý đồng bộ về xác lập, đăng ký, công khai hóa, hiệu lực đối kháng, giao dịch, thế chấp, định giá, bảo vệ quyền và xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt. Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng mới về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai, nhưng chưa trực tiếp thiết lập thủ tục đăng ký quyền bề mặt. Nghiên cứu phân tích bản chất và vai trò của quyền bề mặt, đánh giá những khoảng trống của pháp luật Việt Nam, tham chiếu kinh nghiệm của một số quốc gia và đề xuất mô hình hoàn thiện theo hướng: thừa nhận đầy đủ tính chất vật quyền; kiến nghị sửa đổi Điều 269 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng lấy đăng ký làm điều kiện đối kháng, kèm theo quy định chuyển tiếp; mô tả đối tượng theo không gian ba chiều; bảo đảm khả năng chuyển giao, thế chấp và tài trợ dự án; đồng thời, cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất, chủ thể quyền bề mặt, nhà đầu tư và người thứ ba.
Luật sư tập sự: Mở rộng cơ hội thực hành, nâng cao chất lượng hành nghề

Luật sư tập sự: Mở rộng cơ hội thực hành, nâng cao chất lượng hành nghề

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI xem xét, cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp thứ 2 với nhiều nội dung đáng chú ý. Trong đó, dự thảo Luật đề xuất thay thế chế định "người tập sự hành nghề luật sư" bằng "luật sư tập sự", đồng thời bổ sung một số quyền nhằm tạo điều kiện cho người tập sự tham gia sâu hơn vào các hoạt động nghề nghiệp thực tiễn. Để làm rõ ý nghĩa của đề xuất này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Luật sư Huỳnh Phương Nam - Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tóm tắt: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn một số bất cập, chồng chéo giữa các đạo luật về thẩm quyền, thủ tục, khiếu nại và kỹ thuật lập pháp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật. Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Tóm tắt: Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật[1] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, trong đó, chú trọng xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, đánh giá tác động chính sách và bổ sung cơ chế đánh giá kết quả thực hiện sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích Chính sách 3 về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2], đánh giá khả năng điều chỉnh kịp thời các quy định pháp luật trước những thay đổi của thực tiễn và việc sử dụng kết quả thi hành pháp luật để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, cơ chế theo dõi, đánh giá và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn thi hành chưa được quy định đầy đủ; bên cạnh đó, một số quy định còn thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh, thuật ngữ và thẩm quyền. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng và đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung pháp luật được thực hiện kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn mà không làm gia tăng thủ tục.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 10/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 10/2026

Trong tháng 10/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Bàn về Điều luật “Quan lại nhận tiền của” trong Hoàng Việt luật lệ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng hiện nay, việc nghiên cứu di sản lập pháp truyền thống mang ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu phân tích Điều luật[I] “Quan lại nhận tiền của” thuộc Chương IX (Nhận hối lộ) trong Hoàng Việt luật lệ[II] nhằm làm rõ tư duy lập pháp và giá trị lịch sử của Điều luật. Phạm vi nghiên cứu tập trung phân tích Điều luật “Quan lại nhận tiền của”, đồng thời, so sánh với Quốc triều Hình luật, Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Bộ luật Hình sự năm 2015[III]. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sử liệu học để thu thập tư liệu cổ luật; các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ các yếu tố cấu thành, giá trị, giới hạn lịch sử, đồng thời, so sánh Điều luật này với các quy định có liên quan. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của chủ thể tham gia đấu giá tài sản trực tuyến ở Việt Nam[I]

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của chủ thể tham gia đấu giá tài sản trực tuyến ở Việt Nam[I]

Tóm tắt: Đấu giá tài sản trực tuyến đặt ra yêu cầu xác định trách nhiệm khi nghiệp vụ đấu giá và vận hành kỹ thuật do các chủ thể khác nhau thực hiện. Bằng phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu làm rõ quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của các chủ thể trong cuộc đấu giá tài sản trực tuyến do tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện, đồng thời, so sánh tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Các vấn đề trọng tâm gồm phân định trách nhiệm, bảo mật và cung cấp dữ liệu điện tử, xử lý sự cố và bồi thường thiệt hại. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đánh giá các quy định liên quan trong dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)[II] (dự thảo Luật) và dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Đấu giá tài sản (dự thảo Nghị định)[III]. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cần cụ thể hóa cơ chế phối hợp, tiếp cận dữ liệu và xác minh sự cố trong văn bản quy định chi tiết để thực hiện trách nhiệm theo đúng căn cứ pháp luật.
Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Đấu giá tài sản là phương thức quan trọng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch trong chuyển dịch tài sản, khai thác hiệu quả các nguồn lực và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Sau gần 10 năm thi hành, một số nội dung của Luật Đấu giá tài sản năm 2016[I], phát sinh bất cập như không còn phù hợp với thực tiễn, mâu thuẫn, chồng chéo với một số quy định trong các luật mới được ban hành gần đây. Trên cơ sở phân tích chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện và đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi, chi phí tuân thủ thấp, phát huy hiệu quả nguồn lực tài sản và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.

Theo dõi chúng tôi trên: