Thứ sáu 09/01/2026 00:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Từ khóa: tài sản số; quyền sở hữu tài sản số; dữ liệu số…

Abstract: The article studies and analyzes the characteristic identification signs of digital assets, the difficulties and shortcomings of the lack of a legal framework for digital assets and digital asset ownership, the experience of the United States and reference values for Vietnam. From there, it proposes a number of solutions to establish a solid legal framework to help Vietnam have the opportunity to develop strongly in the technology field, protect the rights of digital asset owners, maximize the potential of digital assets and continue to firmly step on the path of digital economic development.

Keywords: Digital assets; digital asset ownership; digital data…

Đặt vấn đề

“Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” hay “Cách mạng công nghiệp 4.0” hay “Cuộc cách mạng công nghệ” là những tên gọi khác nhau của việc thay đổi cách thức sản xuất, chế tạo theo hướng hợp nhất, không có ranh giới giữa các lĩnh vực công nghệ, vật lý, kỹ thuật số và sinh học; là sự kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, Internet vạn vật (IoT) và hệ điều hành IoS. Cuộc cách mạng này đã và đang ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, bên cạnh việc thúc đẩy năng lực, năng suất làm ra các sản phẩm truyền thống phục vụ đời sống xã hội, còn tạo ra những tài sản mới, trong đó có tài sản số. Việc nghiên cứu hệ thống lý thuyết, các quy định pháp luật, hướng hoàn thiện pháp luật về tài sản số và sở hữu tài sản số trước những yêu cầu của nền kinh tế số là yêu cầu cần thiết để thúc đẩy phát triển nền kinh tế số.

1. Nhận diện chung về tài sản số

Tài sản số bắt nguồn từ thuật ngữ “digital asset”, có nội hàm rất rộng, gồm nhiều loại hình như tệp số (digital file), bản ghi số (digital record), tài khoản thư điện tử (email account), tên miền (domain name), tài sản số trong trò chơi điện tử (in-game digital asset), tín chỉ carbon số (digital carbon credit), mã thông báo[1]. Khác với tài sản vật lý truyền thống, tài sản số không có hình dạng cụ thể mà được thể hiện dưới dạng mã hóa kỹ thuật số. Các loại tài sản này có thể gồm dữ liệu cá nhân, tiền mã hóa, tài sản ảo trong môi trường trực tuyến, quyền tài sản đối với nội dung số và các đối tượng số hóa khác.

Về mặt công nghệ, tài sản số được tạo ra, lưu trữ và trao đổi qua các hệ thống kỹ thuật số như cơ sở dữ liệu tập trung, nền tảng công nghệ chuỗi khối (blockchain), điện toán đám mây hoặc các hệ thống mã hóa thông tin. Một số tài sản số có tính chất động, thay đổi theo thời gian và có giá trị kinh tế như tiền mã hóa hay token kỹ thuật số, trong khi một số tài sản khác có tính cố định như dữ liệu cá nhân, nội dung số hoặc phần mềm. Tài sản số có thể chia thành hai nhóm chính: (i) nhóm tài sản có giá trị kinh tế có thể trao đổi, mua bán hoặc sử dụng làm phương tiện thanh toán (như tiền mã hóa, token kỹ thuật số); (ii) nhóm tài sản mặc dù không trực tiếp tham gia vào giao dịch kinh tế nhưng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động số hóa như dữ liệu, phần mềm, tài liệu kỹ thuật số… Điểm khác biệt lớn giữa tài sản số và tài sản truyền thống là tính phi vật chất, khả năng sao chép nhanh chóng và khả năng tiếp cận toàn cầu. Nhờ vào các công nghệ số, tài sản số có thể được chuyển giao gần như ngay lập tức giữa các cá nhân và tổ chức mà không cần đến các cơ chế giao dịch vật lý, giúp gia tăng hiệu quả và giảm chi phí trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Tuy chưa có định nghĩa thống nhất về tài sản số nhưng có thể hiểu, tài sản số là tài sản được số hóa từ tài sản vật thể hoặc được hình thành trên không gian mạng, trong môi trường phức hợp được hình thành bởi sự tương tác của người sử dụng, phần mềm và dịch vụ trên internet thông qua các thiết bị kỹ thuật và mạng lưới được kết nối. Tài sản số gồm các loại tiền kỹ thuật số như tiền mã hóa, tài sản ảo cũng như các tài sản vật thể đã được số hóa như tranh, ảnh, sách, bản nhạc và tác phẩm nghệ thuật. Theo khái niệm thông thường, tài sản số hay tài sản kỹ thuật số có phạm vi rất rộng, gồm tiền kỹ thuật số (tiền ảo, tiền điện tử, tiền mã hóa…), tài sản vô hình (tài sản trong trò chơi điện tử, tài sản trí tuệ, video, tranh ảnh kỹ thuật số…) và tài sản vật chất được số hóa (tranh ảnh vật lý, tài sản tài chính như chứng khoán).

2. Thực tiễn thực hiện các giao dịch về tài sản số ở Việt Nam

Trong những năm qua, kinh tế số Việt Nam đã phát triển nhanh cả về nền tảng hạ tầng và thị trường kinh doanh được đánh giá là một trong những thị trường tiềm năng phát triển doanh nghiệp công nghệ số[2].

Theo Hiệp hội Blockchain, Việt Nam hiện đứng thứ 2 thế giới về tỷ lệ người sở hữu tài sản số, với khoảng 20 triệu người sở hữu và mỗi năm, có khoảng 120 tỷ USD tiền mã hóa được chuyển vào Việt Nam[3].

Trong giai đoạn 2023 - 2024, Việt Nam đón nhận hơn 105 tỷ USD dòng vốn từ thị trường blockchain với lợi nhuận thu về gần 1,2 tỷ USD vào năm 2023[4].

Theo Triple-A (cổng thanh toán tiền mã hóa được cấp phép bởi cơ quan tiền tệ Singapore), năm 2024, Việt Nam có hơn 17 triệu người sở hữu tài sản mã hóa, xếp hạng 07 trên toàn cầu, trong đó có hơn 85% người hành nghề tự do sở hữu tài sản mã hóa nằm trong nhóm 1 toàn cầu và 34% người hành nghề tự do chấp nhận thanh toán bằng tiền mã hóa[5].

Theo Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ), năm 2024, tổng doanh thu công nghiệp công nghệ số của Việt Nam ước đạt 152 tỷ USD, tăng 35,7% so với năm 2019; giá trị Việt Nam trong tổng doanh thu công nghiệp công nghệ số đạt 31,8%, tăng từ 21,35% vào năm 2019; tổng số nhân lực đạt 1,67 triệu người, tăng 67% so với năm 2019; toàn ngành có 54.500 doanh nghiệp đang hoạt động[6].

Năm 2023, Việt Nam có 05 sản phẩm công nghiệp công nghệ số được xếp hạng nhóm đầu thế giới; đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu điện thoại di động thông minh; đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu linh kiện máy tính; đứng thứ 6 thế giới về xuất khẩu thiết bị máy tính; đứng thứ 8 thế giới về xuất khẩu thiết bị linh kiện điện tử; đứng thứ 7 thế giới về gia công phần mềm[7].

Theo một khảo sát được tiến hành năm 2021, có khoảng 61,3 triệu điện thoại thông minh đang được sử dụng tại Việt Nam và Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia có số lượng điện thoại thông minh cao nhất[8]. Số lượng người dùng điện thoại lớn và công nghệ phát triển giúp nâng cao khả năng tiếp cận thị trường tài sản kỹ thuật số của người dân Việt Nam. Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế, thị trường tài sản kỹ thuật số đang thiếu các nền tảng thực sự hiểu và đáp ứng được nhu cầu đặc thù của người dùng; nguyên nhân là do chưa có khung pháp lý rõ ràng và đầy đủ để dẫn dắt, quản lý và khai thác tài sản số có hiệu quả, từ đó, làm phát sinh các bất cập[9], như: làm thế nào để thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản số mà công dân Việt Nam đang nắm giữ. Thực tế, nếu phát sinh hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản số thì các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu tài sản số sẽ được thực hiện như thế nào…

3. Quan điểm của Đảng và pháp luật về tài sản số

Việt Nam đã có nhiều chủ trương, định hướng phát triển khung pháp lý về tài sản số như:

- Xây dựng khung pháp luật cho phát triển kinh tế số, xã hội số, Chính phủ số; ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, các chính sách thí điểm, đặc thù cho các hoạt động phát triển, thử nghiệm và áp dụng các sản phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ số và nền tảng số[10].

- Xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với môi trường kinh doanh số, tạo thuận lợi cho đổi mới sáng tạo; “sớm ban hành khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới hình thành từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quy định rõ phạm vi không gian và thời gian thử nghiệm”[11].

- Luật số 71/2025/QH15 (Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025) được Quốc hội ban hành ngày 14/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, lần đầu tiên quy định khung pháp lý toàn diện về phát triển công nghiệp công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn và tài sản số. Điều 46 Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 quy định về tài sản số và xác định đây là tài sản theo Bộ luật Dân sự năm 2015, tồn tại dưới dạng dữ liệu số được tạo lập, lưu trữ, chuyển giao và xác thực qua công nghệ trên môi trường điện tử. Điều 47 Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 phân loại tài sản số theo mục đích sử dụng, công nghệ hoặc tiêu chí khác, gồm tài sản ảo để trao đổi, đầu tư (không bao gồm chứng khoán, tiền pháp định, tài sản tài chính), tài sản mã hóa dựa trên công nghệ mã hóa hoặc tương đương và các loại tài sản số khác.

Đồng thời, Điều 48 Luật này đặt ra các quy định về quyền sở hữu, quyền và nghĩa vụ các bên, biện pháp bảo đảm an toàn, phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, điều kiện kinh doanh dịch vụ tài sản mã hóa và hoạt động thanh tra, xử lý vi phạm, đồng thời, giao Chính phủ quy định chi tiết để đáp ứng yêu cầu quản lý thực tiễn trong từng lĩnh vực. Mặc dù, Điều 46 Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã định nghĩa “tài sản số” nhưng còn nhiều hạn chế về nội dung và kỹ thuật lập pháp. Cụ thể:

Thứ nhất, khái niệm này chưa xác lập được tiêu chí rõ ràng để phân biệt giữa tài sản số và dữ liệu thông thường, khi chỉ mô tả tài sản số là một dạng tài sản thể hiện dưới dữ liệu số mà không làm rõ yếu tố giá trị kinh tế, khả năng chiếm hữu hay định đoạt - những tiêu chí cốt lõi của tài sản theo Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 chưa làm rõ chủ thể có quyền sở hữu tài sản số, đặc biệt, trong các trường hợp phát sinh từ dữ liệu công, dữ liệu do AI tạo ra hoặc tài sản số chưa định danh, dễ dẫn đến “khoảng trống” pháp lý trong thực tiễn.

Thứ ba, khái niệm này chưa phân biệt đầy đủ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, truy cập hoặc kiểm soát dữ liệu số - điều đặc biệt quan trọng trong bối cảnh dữ liệu có thể bị khai thác mà không cần sở hữu pháp lý. Do đó, Việt Nam rất cần các công trình nghiên cứu chuyên sâu về nội dung này.

Để Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 sớm đi vào cuộc sống, cần khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, cụ thể hóa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, chính sách ưu đãi đầu tư, phương thức xác lập quyền sở hữu tài sản số, tạo thuận lợi và động lực đủ mạnh để phát triển ngành công nghiệp công nghệ số thành ngành nền tảng, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

4. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ trong xây dựng khung pháp lý về tài sản số, quyền sở hữu tài sản số và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Bộ luật Thương mại Thống nhất (Uniform Commercial Code - UCC) của Hoa Kỳ là hệ thống luật thương mại chuẩn được xây dựng nhằm tạo sự thống nhất trong các giao dịch thương mại trên toàn Hoa Kỳ. UCC được phát triển bởi Ủy ban Luật Thống nhất (Uniform Law Commission - ULC) phối hợp với Viện Luật Hoa Kỳ (ALI), đã được các tiểu bang lần lượt điều chỉnh, ban hành để phù hợp với thực tiễn kinh doanh. Nhằm bắt kịp sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và sự phổ biến của tài sản kỹ thuật số như tiền điện tử và token không thể thay thế (NFT), năm 2022, UCC đã được sửa đổi, trong đó thay đổi nổi bật nhất là bổ sung Điều 12 (Quyển số 12) - một phần hoàn toàn mới trong UCC. Điều 12 UCC thiết lập khung pháp lý rõ ràng cho các bản ghi điện tử có thể kiểm soát (Controllable Electronic Records - CER), đại diện cho tài sản số mà người sở hữu có thể sử dụng, ngăn người khác sử dụng hoặc chuyển nhượng.

Trước đây, tài sản số thường bị xếp vào nhóm “tài sản vô hình chung” (general intangible), gây ra nhiều tranh cãi về quyền sở hữu và chuyển nhượng. Điều 12 UCC giúp giải quyết mâu thuẫn này bằng cách định nghĩa rõ quyền sở hữu, cách chuyển nhượng tài sản số và cách bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bên mua. Tại Minnesota, các sửa đổi UCC năm 2022, gồm Điều 12, có hiệu lực từ ngày 01/8/2024, với thời gian chuyển tiếp đến hết ngày 01/8/2025, để doanh nghiệp cập nhật tài liệu pháp lý và quy trình giao dịch phù hợp. Những thay đổi này mang lại sự rõ ràng và bảo vệ pháp lý cho các doanh nghiệp sử dụng tài sản kỹ thuật số, đồng thời, cho phép sử dụng chúng làm tài sản bảo đảm trong các giao dịch tài chính - điều mà trước đây còn nhiều hạn chế do thiếu khung pháp lý[12]. Nghiên cứu nội dung được bổ sung mới của UCC cho thấy, dựa trên nguyên tắc xác định, ghi nhận tài sản khi có 03 dấu hiệu cơ bản: (i) đối tượng đó phải có giá trị; (ii) có tính xác định - con người có thể nhận biết, phân biệt được với các đối tượng khác, lưu trữ, kiểm soát được (bảo đảm được tính loại trừ chủ thể khác tác động vào tài sản); (iii) có thể chuyển giao trong các giao dịch dân sự. Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Hoa Kỳ về tài sản số được ghi nhận trong Quyển số 12 UCC như sau:

Thứ nhất, về khái niệm tài sản số.

UCC của Hoa Kỳ sử dụng thuật ngữ “bản ghi điện tử có thể kiểm soát” để mô tả các loại tài sản số hội tụ 03 đặc tính chính: (i) có giá trị sử dụng trong thực tế; (ii) có tính xác định và loại trừ (người này sở hữu thì người khác không thể sử dụng được cùng lúc); (iii) có khả năng chuyển giao trong các giao dịch dân sự. Việc đưa ra khái niệm bản ghi điện tử có thể kiểm soát nhằm bao quát rộng rãi mọi loại tài sản tồn tại dưới dạng bản ghi điện tử, từ tiền điện tử, NFT cho đến các tài sản số khác có thể kiểm soát được. Các nhà lập pháp và học giả nghiên cứu pháp lý của Hoa Kỳ cho rằng, chỉ khi người sở hữu có khả năng kiểm soát trực tiếp tài sản số (gồm quyền sử dụng, chuyển nhượng và ngăn người khác truy cập) thì quyền sở hữu mới được bảo đảm an toàn và có thể thực thi theo pháp luật. Đặc biệt, khái niệm này không giới hạn tài sản số là những đối tượng được tạo lập và vận hành trên nền tảng chuỗi khối (blockchain)[13] mà còn mở rộng đến bất kỳ công nghệ nào khác, miễn là tài sản đó thỏa mãn các đặc trưng về khả năng kiểm soát, xác định chủ sở hữu và tính chuyển nhượng.

Công nghệ luôn biến đổi từng ngày, sản phẩm của công nghệ chỉ nên xem là tài sản số khi thỏa mãn các điều kiện nhất định. Pháp luật Việt Nam không nên ghi nhận quy phạm định nghĩa tài sản số bằng phương thức liệt kê. Văn bản hướng dẫn thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 có thể cân nhắc xây dựng khái niệm “tài sản số có thể kiểm soát” tương ứng với khái niệm “bản ghi điện tử có thể kiểm soát” quy định tại Điều 12 UCC của Hoa Kỳ. Theo đó, tài sản số có thể kiểm soát là tài sản kỹ thuật số mà chủ thể sở hữu có thể thực hiện quyền kiểm soát một cách rõ ràng, gồm quyền sử dụng (như bán, chuyển nhượng, trao đổi), quyền ngăn cản người khác sử dụng và quyền chuyển giao tài sản đó cho chủ thể khác. Để tài sản số được công nhận là có thể kiểm soát, chủ sở hữu cần được xác định danh tính thông qua các phương thức như tên, khóa mật mã hoặc định danh kỹ thuật số khác, đồng thời, phải có quyền kiểm soát duy nhất đối với tài sản đó. Việc xây dựng và công nhận khái niệm này sẽ tạo nền tảng pháp lý cho giao dịch và bảo hộ quyền sở hữu đối với tài sản số trong môi trường số hóa, đồng thời, tiệm cận các chuẩn mực pháp lý quốc tế[14].

Thứ hai, về các loại tài sản số được ghi nhận.

UCC không công nhận mọi đối tượng kỹ thuật số là tài sản số theo Điều 12, mà chỉ ghi nhận các bản ghi điện tử có thể kiểm soát. Theo quy định này, chỉ những tài sản số có thể xác định được chủ thể kiểm soát và cho phép chủ thể đó thực hiện quyền sử dụng, chuyển nhượng, cũng như ngăn người khác truy cập mới đủ điều kiện được xem là bản ghi điện tử có thể kiểm soát. Các ví dụ điển hình về tài sản số đủ điều kiện là bản ghi điện tử có thể kiểm soát gồm: tiền mã hóa như bitcoin và các loại tiền ảo phi pháp định khác, NFT và các tài sản số khác có gắn quyền nhận thanh toán (ví dụ: tài sản số đại diện cho quyền yêu cầu thanh toán). Đối với các tài sản số không đáp ứng định nghĩa bản ghi điện tử có thể kiểm soát, chúng vẫn có thể được xếp loại là “tài sản vô hình chung” và được điều chỉnh bởi các điều khoản khác trong UCC, như Điều 9. Vì vậy, Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ để xây dựng, hoàn thiện pháp luật, trong đó, xác định rõ phạm vi, tiêu chí để một tài sản số được công nhận là “có thể kiểm soát” nhằm bảo đảm tính minh bạch, khả năng thực thi và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Đồng thời, cần quy định các tiêu chí phân loại tài sản số dựa trên: (i) mục đích sử dụng; (ii) tính năng; (iii) công nghệ và tiêu chí khác và được thực hiện theo quy định của Chính phủ phù hợp với điều kiện thực tiễn. Việc phân loại tài sản số là cần thiết nhằm góp phần làm rõ phạm vi điều chỉnh và cơ chế bảo hộ, chuyển nhượng, định giá; giúp định hình rõ trách nhiệm, nghĩa vụ thuế, bảo mật và pháp lý với từng loại tài sản, làm cơ sở xây dựng quy định về kế toán[15].

Thứ ba, về xác lập và thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản số.

Tài sản số, trọng tâm là dữ liệu số, tài sản mã hóa và các đối tượng điện tử khác với nhiều đặc tính kỹ thuật, đòi hỏi khung pháp lý về quyền sở hữu có tính đặc trưng hơn nhiều so với tài sản truyền thống. Dưới góc nhìn của nhà làm luật, sự thận trọng trong việc công nhận tài sản số, như dữ liệu số là một loại tài sản pháp lý là điều dễ hiểu, bởi tài sản số có thể dễ dàng sao chép, phân phối, cho phép nhiều người sử dụng cùng một lúc mà không làm mất đi bản gốc[16]. Khác với tài sản hữu hình - nơi quyền sở hữu gắn liền với tính loại trừ vật lý, tài sản số không bị giới hạn bởi không gian, thời gian hay số lượng người truy cập, từ đó, đặt ra những vấn đề pháp lý mới về quyền kiểm soát, quyền sở hữu và quyền khai thác. Hơn nữa, tài sản số dễ bị ảnh hưởng bởi yếu tố công nghệ bên ngoài như lỗi hệ thống, vi phạm bảo mật, thay đổi nền tảng hoặc sự can thiệp không hợp pháp, làm gia tăng mức độ rủi ro trong quá trình sử dụng và giao dịch. Vì vậy, việc xây dựng khung pháp lý về xác lập, thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản số cần chú trọng đến những đặc tính kỹ thuật của đối tượng này. Trong Quyển số 12 UCC, Hoa Kỳ đã xây dựng nguyên tắc kiểm soát (control hay controllable) là yếu tố cốt lõi xác định phương thức thực hiện quyền của chủ sở hữu tài sản số. Ngay trong định nghĩa của bản ghi điện tử có thể kiểm soát, thuật ngữ “controllable” cũng đóng vai trò then chốt. Đặc biệt, trong bối cảnh nhiều chủ thể cùng tham gia tạo lập, vận hành và khai thác tài sản số thì quyền kiểm soát của chủ sở hữu tài sản số cần được xây dựng mang tính chất bao trùm các quyền mà chủ sở hữu thực hiện. Kiểm soát tài sản số được thực hiện thông qua việc chủ sở hữu, chủ thể quyền nắm giữ khóa bí mật truy cập tài sản số, hệ thống ghi nhận quyền được phản hồi các thông tin về tài sản số; trao độc quyền cho chủ sở hữu (bảo đảm tính loại trừ) ngăn cản bất kỳ ai tác động vào tài sản số; chủ sở hữu cũng được trao quyền chuyển giao quyền kiểm soát đối với tài sản số cho chủ thể khác (trao quyền thông qua việc trao công cụ kiểm soát). Quyền kiểm soát cần được xây dựng với vai trò là công cụ nhận diện tư cách chủ thể quyền đối với tài sản số, quyền này được ghi nhận thông qua việc xác lập tài khoản, định danh chủ sở hữu tài khoản (dựa vào dữ liệu cư dân), từ đó, có thể kiểm soát được tài sản số.

Theo đó, văn bản hướng dẫn Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 cần làm rõ các nội dung liên quan đến quản lý việc xác lập, thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản số, như: quản lý việc tạo lập, sử dụng, trao đổi, cung ứng tài sản số, nghĩa vụ thuế đối với hoạt động có liên quan đến tài sản số, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nâng cao nhận thức về tài sản số, biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tài sản số… Từ đó, xây dựng khung pháp lý về quản lý việc tạo lập, sử dụng, trao đổi, cung ứng tài sản số, nghĩa vụ thuế đối với hoạt động có liên quan đến tài sản số, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nâng cao nhận thức về tài sản số, biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tài sản số… Thực tế cho thấy, rất nhiều ý kiến đóng góp đã đề xuất giao Chính phủ quy định thẩm quyền, quản lý đối với tài sản số trong lĩnh vực chuyên ngành phù hợp với điều kiện thực tiễn[17]. Tài sản số là vấn đề mới, phức tạp, đang phát triển và thay đổi nhanh chóng, hiện, trên thế giới, chưa có khung pháp lý quy định đầy đủ về vấn đề này và còn nhiều quan điểm khác nhau[18]. Do vậy, nhằm bảo đảm tính khả thi, linh hoạt và ổn định của hệ thống pháp luật, việc giao Chính phủ quy định chi tiết phù hợp với lĩnh vực chuyên ngành và điều kiện thực tiễn là thực sự cần thiết khi hoàn thiện pháp luật về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số.

Kết luận

Trước tác động của nền kinh tế số tại Việt Nam, yêu cầu điều chỉnh, bổ sung toàn diện quy định liên quan đến nhận diện, quản lý, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản số là nhiệm vụ cấp thiết. Khuôn khổ pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số được hoàn thiện sẽ thúc đẩy nền kinh tế số. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện và kịp thời nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc và cung cấp các giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức người tiêu dùng và đào tạo nguồn nhân lực về tài sản số, quyền sở hữu tài sản số là yếu tố quan trọng để bảo đảm các quy định pháp luật được thực thi hiệu quả./.

NCS. Nguyễn Thị Long

Giảng viên chính, Khoa Pháp luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

ThS. Hà Trọng Bắc

Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp

[1]. Digital Assets: Final Report, Law Commission Reforming the Law, Law Com No 412 (2023), tr. 1.

[2]. Giang Thanh Long, Đất nước 100 triệu dân, https://vnpa.moh.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/dat-nuoc-100-trieu-dan, truy cập ngày 06/7/2025.

[3]. Vũ Lê Minh, Xây dựng khung pháp lý tài sản số: Những chế định cốt lõi, kinh nghiệm các nước và gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí điện tử Pháp lý, https://phaply.net.vn/xay-dung-khung-phap-ly-tai-san-so-nhung-che-dinh-cot-loi-kinh-nghiem-cac-nuoc-va-goi-mo-cho-viet-nam-a259198.html, truy cập ngày 10/02/2025.

[4]. Vũ Lê Minh, tlđd.

[5]. Vũ Lê Minh, tlđd.

[6]. Vũ Lê Minh, tlđd.

[7]. Vũ Lê Minh, tlđd.

[8]. Kiến An, Lượng người dùng smartphone ở Việt Nam đứng trong top 10 toàn cầu, https://vov.vn/congnghe/sanh-dieu/luong-nguoi-dung-smartphone-o-viet-nam-dung-trong-top-10-toan-cau-, truy cập ngày 10/5/2025.

[9]. Vũ Lê Minh, tlđd.

[10]. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

[11]. Khoản 3 mục III Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

[12]. Kimberly Lowe, Understanding Article 12 of the UCC: Digital Assets, Controllable Electronic Records, and What It All Means, https://www.avisenlegal.com/understanding-article-12-of-the-ucc-digital-assetscontrollable-electronic-records-and-what-it-all-means/, truy cập ngày 15/5/2025.

[13]. Mục 105 Điều 12 UCC không ghi nhận cụ thể công nghệ tạo lập tài sản số là công nghệ chuỗi khối (blockchain).

[14]. Trên cơ sở ý kiến góp ý của Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã đề xuất đưa ra khái niệm tài sản số với nội hàm là một loại sản phẩm công nghệ số và dự kiến giao một số bộ, ngành liên quan xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định quản lý liên quan đến tài sản số trong ngành, lĩnh vực của mình phụ trách (xem: Báo cáo giải trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, https://vibonline.com.vn/du_thao/du-thao-lua%CC%A3t-cong-nghiep-cong-nghe, truy cập ngày 10/5/2025).

[15]. Minh Quân, Cần làm rõ khái niệm và phân loại tài sản số để quản lý hiệu quả, Tạp chí điện tử Luật Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/can-lam-ro-khai-niem-va-phan-loai-tai-san-so-de-quan-ly-hieu-qua-a157504.html, truy cập ngày 12/5/2025.

[16]. Đào Trọng Khôi, Tài sản hóa dữ liệu tại Việt Nam: Tại sao mãi dùng dằng?, Tạp chí Kinh tế Sài Gòn online, https://thesaigontimes.vn/tai-san-hoa-du-lieu-tai-viet-nam-tai-sao-mai-dung-dang/, truy cập ngày 11/5/2025.

[17]. Mục 4.8 Tờ trình 10/TTr-BTP ngày 12/4/2022 của Bộ Tư pháp về nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện khung pháp luật về hợp đồng, tài sản, quyền sở hữu…

[18]. Tại Hungary, tài sản ảo (Virtual Asset) là một đại diện kỹ thuật số của giá trị có thể được giao dịch, chuyển giao hoặc sử dụng dưới dạng công cụ trao đổi, thanh toán hoặc cho mục đích đầu tư. Tài sản ảo gồm các token ảo và bất kỳ đại diện kỹ thuật số nào khác của giá trị được Cơ quan Quản lý Tài sản Ảo Dubai (VARA) xác định. Tại Hoa Kỳ, tài sản số (Digital Asset) là các tài sản được phát hành và chuyển giao bằng cách sử dụng công nghệ sổ cái phân tán hoặc blockchain. Chúng thường được gọi là tài sản tiền mã hóa, tiền điện tử hoặc token kỹ thuật số, cùng với các thuật ngữ khác.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Digital Assets: Final Report, Law Commission Reforming the Law, Law Com No 412 (2023).

2. Đào Trọng Khôi, Tài sản hóa dữ liệu tại Việt Nam: Tại sao mãi dùng dằng?, Tạp chí Kinh tế Sài Gòn online, https://thesaigontimes.vn/tai-san-hoa-du-lieu-tai-vietnam-tai-sao-mai-dung-dang/, truy cập ngày 11/5/2025.

3. Kiến An, Lượng người dùng smartphone ở Việt Nam đứng trong top 10 toàn cầu, https://vov.vn/cong-nghe/sanh-dieu/luong-nguoi-dung-smartphone-o-viet-nam-dung-trong-top-10-toan-cau-, truy cập ngày 10/5/2025.

4. Kimberly Lowe, Understanding Article 12 of the UCC: Digital Assets, Controllable Electronic Records, and What It All Means, Avisen Boutique Business Law, https://www.avisenlegal.com/understanding-article-12-of-the-ucc-digital-assets-controllable-electronic-records-and-what-it-all-means/, truy cập ngày 15/5/2025.

5. Minh Quân, Cần làm rõ khái niệm và phân loại tài sản số để quản lý hiệu quả, Tạp chí điện tử Luật Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/can-lam-ro-khai-niem-va-phan-loai-tai-san-so-de-quan-ly-hieu-qua-a157504.html, truy cập ngày 12/5/2025.

6. Vũ Lê Minh, Xây dựng khung pháp lý tài sản số: Những chế định cốt lõi, kinh nghiệm các nước và gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí điện tử Pháp lý, https://phaply.net.vn/xay-dung-khung-phap-ly-tai-san-so-nhung-che-dinh-cot-loi-kinh-nghiem-cac-nuoc-va-goi-mo-cho-viet-nam-a259198.html, truy cập ngày 10/02/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (435) tháng 8/2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cổng Pháp luật quốc gia với mục tiêu hình thành nền tảng số quốc gia thống nhất, dùng chung

Cổng Pháp luật quốc gia với mục tiêu hình thành nền tảng số quốc gia thống nhất, dùng chung

Đề án tập trung xây dựng Cổng Pháp luật quốc gia với mục tiêu hình thành nền tảng số quốc gia thống nhất, dùng chung; bảo đảm dữ liệu pháp luật đáp ứng yêu cầu "đúng, đủ, sạch, sống".
Đẩy mạnh phân cấp, “số hóa” thủ tục công chứng

Đẩy mạnh phân cấp, “số hóa” thủ tục công chứng

Chiều 30/12, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú đã chủ trì Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
​Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị và khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật

​Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị và khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật

Ngày 30/12, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu đã chủ trì Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị định số 52/2015/NĐ-CP ngày 28/5/2015 về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (CSDLQGPL).
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Tóm tắt: Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các rủi ro về xâm phạm dữ liệu cá nhân của các chủ thể, đặc biệt khi tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, bảo vệ dữ liệu cá nhân đang trở thành vấn đề cấp thiết trong kỷ nguyên số. Bài viết phân tích quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử, trọng tâm là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, chỉ ra những tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật với mục tiêu bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển thương mại điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể trong môi trường số.
Tổng kết 10 năm xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật

Tổng kết 10 năm xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật

Sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị định số 52/2015/NĐ-CP ngày 28/5/2015 của Chính phủ về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (Nghị định số 52/2015/NĐ-CP), công tác xây dựng, quản lý, cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia pháp luật đã đạt nhiều kết quả toàn diện, tạo chuyển biến rõ rệt về hiệu quả quản lý nhà nước, công khai, minh bạch và ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống pháp luật.
Đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng thẩm định pháp luật

Đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng thẩm định pháp luật

Chiều 29/12, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú đã chủ trì Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế.
Bảo đảm tiến độ xây dựng các cơ sở dữ liệu tại Bộ Tư pháp

Bảo đảm tiến độ xây dựng các cơ sở dữ liệu tại Bộ Tư pháp

Công tác xây dựng các cơ sở dữ liệu do các đơn vị có liên quan thực hiện cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, bảo đảm “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung”.
Bảo đảm các điều kiện cần thiết để Cổng Pháp luật quốc gia hoạt động ổn định

Bảo đảm các điều kiện cần thiết để Cổng Pháp luật quốc gia hoạt động ổn định

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh nhấn mạnh yêu cầu tăng cường công tác quản lý, kiểm soát nội dung tin, bài đăng tải trên Cổng Pháp luật quốc gia. Trong đó, các đơn vị chủ trì cần chịu trách nhiệm về các nội dung tuyên truyền thuộc lĩnh vực được phân công bảo đảm chính xác, kịp thời và thống nhất.
Hoàn thiện dự thảo Báo cáo tổng rà soát thủ tục hành chính ở 03 cấp chính quyền

Hoàn thiện dự thảo Báo cáo tổng rà soát thủ tục hành chính ở 03 cấp chính quyền

Chiều ngày 15/12/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh chủ trì cuộc họp Tổ Công tác liên ngành, Tổ Giúp việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính về dự thảo Báo cáo tổng rà soát thủ tục hành chính 03 cấp chính quyền. Tham dự cuộc họp có đồng chí Nguyễn Thanh Tịnh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp; đồng chí Ngô Hải Phan, Cục trưởng Cục chuyển đổi số - Cơ yếu, Văn phòng Trung ương Đảng; các thành viên của Tổ Giúp việc là đại diện của các cơ quan có liên quan; đại diện Tập đoàn VNPT, Mobifone, FPT và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Ban Chỉ đạo 57 Bộ Tư pháp phấn đấu hoàn thành dứt điểm các nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2025

Ban Chỉ đạo 57 Bộ Tư pháp phấn đấu hoàn thành dứt điểm các nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2025

Ngày 12/12/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh, Trưởng Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 chủ trì phiên họp giao ban tuần của Ban Chỉ đạo. Tham dự phiên họp giao ban có các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo và đại diện Công ty Cổ phần FPT.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Mô hình sandbox thúc đẩy đổi mới công nghệ trong khuôn khổ pháp luật về sở hữu trí tuệ - kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam

Mô hình sandbox thúc đẩy đổi mới công nghệ trong khuôn khổ pháp luật về sở hữu trí tuệ - kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) ngày càng được quan tâm như một công cụ chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ. Tuy nhiên, việc áp dụng sandbox tại Việt Nam đặt ra nhiều thách thức pháp lý, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sáng chế, bí mật kinh doanh và các tài sản trí tuệ phát sinh trong giai đoạn thử nghiệm. Bài viết nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và so sánh luật học để: (i) làm rõ khái niệm và đặc trưng của mô hình sandbox; (ii) đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến cơ chế này trong mối quan hệ với pháp luật sở hữu trí tuệ; (iii) đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn triển khai tại Vương quốc Anh, Singapore, Kenya và Hàn Quốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù sandbox mang lại nhiều cơ hội cho đổi mới sáng tạo, tuy nhiên, hiện, pháp luật Việt Nam còn thiếu quy định cụ thể để bảo vệ đầy đủ quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường thử nghiệm. Điều này tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp và xung đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất xây dựng khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho sandbox, trong đó bảo đảm sự cân bằng giữa khuyến khích đổi mới và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan, qua đó, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho phát triển công nghệ bền vững tại Việt Nam.
Rủi ro trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào công tác xây dựng pháp luật - kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam

Rủi ro trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào công tác xây dựng pháp luật - kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam

Tóm tắt: Ứng dụng trí tuệ nhân tạo mang lại những lợi ích to lớn, trở thành xu thế tất yếu của nhiều quốc gia, các ngành, lĩnh vực, trong đó có công tác xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, ứng dụng trí tuệ nhân tạo cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro phát sinh. Bài viết phân tích các rủi ro và các hệ quả pháp lý có thể phát sinh khi ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xây dựng pháp luật. Trên cơ sở làm rõ mối quan hệ giữa quản trị rủi ro và trách nhiệm pháp lý, tham chiếu kinh nghiệm của Liên minh châu Âu, Hàn Quốc, bài viết đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam để thiết lập cơ chế kiểm soát, phòng ngừa rủi ro và xác lập cơ chế trách nhiệm rõ ràng giữa các chủ thể khi ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xây dựng pháp luật bảo đảm an toàn, minh bạch, có trách nhiệm.
Điều chỉnh pháp luật về trí tuệ nhân tạo - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở cho Việt Nam từ sự xuất hiện của ChatGPT

Điều chỉnh pháp luật về trí tuệ nhân tạo - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở cho Việt Nam từ sự xuất hiện của ChatGPT

Tóm tắt: Sự xuất hiện của ChatGPT như một hiện tượng công nghệ gắn liền với sự phát triển của kinh tế dữ liệu và kinh tế tư nhân. Bài viết nghiên cứu, đánh giá và dự báo những nguy cơ mà ChatGPT có thể gây ra đối với Việt Nam, đặc biệt liên quan đến quản lý dữ liệu, an ninh mạng, phát triển nhân lực số và vận hành hạ tầng công nghệ. Đồng thời, bài viết tham khảo kinh nghiệm pháp luật và quản trị ChatGPT tại một số quốc gia như Cộng hòa Liên bang Đức và Hoa Kỳ, từ đó, đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm xây dựng khuôn khổ quản lý phù hợp cho Việt Nam, vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn và phát triển bền vững.
Quốc hội thông qua Luật Thương mại điện tử: Tạo cơ chế quản lý chặt chẽ các hoạt động thương mại điện tử

Quốc hội thông qua Luật Thương mại điện tử: Tạo cơ chế quản lý chặt chẽ các hoạt động thương mại điện tử

Theo chương trình làm việc tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, sáng ngày 10/12, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Thương mại điện tử.

Theo dõi chúng tôi trên: