Thứ sáu 23/10/2026 13:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.

Từ khóa: quyền tác giả; kỷ nguyên số; thách thức; giải pháp.

Abstract: The digital age has created many opportunities to access works more and more easily with many different methods. However, the digital age also poses many challenges in copyright protection such as the emergence of new types of works, the birth of works created by artificial intelligence (AI), the rapid increase of infringement with the effective support of the internet and new technologies... The article analyzes the challenges of copyright protection in the digital age, and at the same time proposes some solutions for Vietnam on this issue.

Keywords: Copyright; digital age; challenge; solution.

Đặt vấn đề

Kỷ nguyên số hay thời đại kỹ thuật số (Digital Age) là khái niệm đề cập đến một giai đoạn phát triển lên tầm cao mới của xã hội, bắt đầu với sự xuất hiện của máy tính cá nhân từ cuối những năm 1970, internet vào đầu những năm 1990 và điện thoại thông minh vào những năm 2010. Với khả năng lưu trữ khối lượng thông tin khổng lồ dưới dạng số hóa mà không cần đến không gian vật chất quy mô lớn, công nghệ số giúp con người có thể tiếp cận và trao đổi thông tin tự do, cởi mở, nhanh chóng và thuận tiện hơn[1]. Công nghệ số tác động sâu rộng đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quyền tác giả. Việc tiếp cận các tác phẩm văn học, nghệ thuật cũng dần thay đổi theo xu hướng số. Trước đây, công chúng chỉ có thể đọc sách thông qua sách in truyền thống thì ngày nay, điều này trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn với sách điện tử, thiết bị và phần mềm hỗ trợ đọc sách. Đối với lĩnh vực giải trí, trước đây, con người gần như chỉ có thể xem phim, nghe nhạc tại các rạp chiếu phim, các khán phòng hoặc trên các kênh của đài truyền hình, đài phát thanh địa phương hoặc quốc gia thì ngày nay, các tác phẩm nghe nhìn hiện có sẵn ở khắp mọi nơi nhờ phát sóng (đặc biệt, thông qua vệ tinh), phát lại, webcasting, pay-per-view, video theo yêu cầu, phát trực tuyến (streaming), nền tảng video trên internet, dịch vụ video theo yêu cầu (VoD) và vô số các kênh khác[2]. Tuy nhiên, kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức cho việc bảo hộ quyền tác giả, đòi hỏi phải có sự nhìn nhận nghiêm túc nhằm tìm ra những giải pháp pháp lý phù hợp để thích ứng.

1. Những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số

1.1. Sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới

Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019 và 2022 (Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005) liệt kê các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ quyền tác giả, gồm: tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác, tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (gọi chung là tác phẩm điện ảnh); tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm kiến trúc; bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu. Ngoài tác phẩm gốc, quyền tác giả cũng bảo hộ các tác phẩm phái sinh, tức là tác phẩm được sáng tạo trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã có (gồm tác phẩm dịch, phóng tác, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, cải biên và chuyển thể).

Tuy nhiên, trong kỷ nguyên số, sự phát triển mạnh mẽ của internet cùng công nghệ số đã làm nảy sinh nhiều loại hình tác phẩm mới mà Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 chưa dự liệu và bao quát hết, trong đó có các tác phẩm đa phương tiện (multimedia works)[3], các trang thông tin điện tử (website).

Tác phẩm đa phương tiện là loại hình tác phẩm có sự kết hợp của nhiều yếu tố như hình ảnh, âm thanh, video, âm nhạc, văn bản và các kỹ thuật tương tác kỹ thuật số. Sự đa dạng trong các hình thức, phương tiện thể hiện là lý do tác phẩm được gọi là đa phương tiện. Loại hình tác phẩm này được đặc trưng bởi sự kết hợp các loại hình truyền thống và tiên tiến thông qua một phần mềm máy tính có tính tương tác cao[4]. Điển hình như, tác phẩm đa phương tiện “Bjork Digital” của Bjork - một ca sĩ và nhạc sĩ người Iceland. “Bjork Digital” là tác phẩm nghệ thuật đa phương tiện có sự kết hợp âm nhạc, video nghệ thuật, thực tế ảo và các yếu tố tương tác kỹ thuật số. Tác phẩm được trình bày dưới dạng các video thực tế ảo và hệ thống tương tác số, trong đó, khán giả có thể trải nghiệm trực tiếp thông qua các thiết bị VR[5]. Trường hợp của “Bjork Digital” cho thấy, tác phẩm đa phương tiện nếu đáp ứng các điều kiện về tính nguyên gốc, thể hiện dưới hình thức vật chất và nội dung không vi phạm chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ thì cần phải được ghi nhận bảo hộ quyền tác giả.

Trang thông tin điện tử là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin, ứng dụng (application) trên internet được trình bày dưới dạng ký hiệu, số, chữ viết, hình ảnh, âm thanh và các dạng thông tin khác phục vụ cho việc cung cấp, sử dụng nội dung, dịch vụ khác nhau trên internet[6]. Tính nguyên gốc của trang thông tin điện tử được thể hiện qua cấu trúc, sự sáng tạo trong cách trình bày kết hợp của các yếu tố dưới dạng đồ họa, hình ảnh, âm thanh, văn bản và các liên kết siêu văn bản. Một trang web hoàn toàn có thể được coi là một tác phẩm nếu có tính nguyên gốc.

1.2. Tác phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra

Thuật ngữ “trí tuệ nhân tạo” (Artificial Intelligence - AI) được đưa ra bởi John McCarthy tại hội thảo đầu tiên về chủ đề này vào năm 1956. Trí tuệ nhân tạo hay còn được gọi là trí tuệ máy móc, là một dạng trí tuệ được thực hiện bởi máy móc, trái với trí tuệ tự nhiên được thể hiện bởi con người. Trong những năm gần đây, AI phát triển không ngừng và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, mang lại nhiều lợi ích đáng kể nhưng đồng thời đặt ra không ít thách thức trong nhiều lĩnh vực, trong đó có quyền tác giả.

Về khả năng sáng tạo tác phẩm, AI hoàn toàn có thể sáng tác một bài thơ, vẽ một bức tranh hay soạn một vở nhạc. Một công ty khởi nghiệp tại Luxembourg đã phát triển thuật toán “AIVA” (Artificial Intelligence Virtual Artist) với khả năng sáng tác các tác phẩm âm nhạc từ kho dữ liệu hơn 15.000 tác phẩm của các nhà soạn nhạc lừng danh như Bach, Mozart, Beethoven… Chương trình máy tính “Benjamin” đã viết một kịch bản phim bằng cách phân tích và lấy cảm hứng từ các kịch bản khác nhau của các bộ phim nổi tiếng. Họa sĩ robot E-David (David for Drawing Apparatus for Vivid Image Display) được trang bị cánh tay robot có thể vẽ những bức tranh sơn dầu tương tự những bức tranh do bàn tay con người tạo ra. “The Next Rembrandt” là một bức vẽ được phát triển bởi một thuật toán nhận diện khuôn mặt đã quét qua 346 bức tranh bởi một hoạ sĩ người Hà Lan. Đặc biệt, hệ thống AI này đã học được phong cách của họa sĩ Rembrandt để vẽ một bức chân dung hoàn chỉnh, thay vì chỉ đơn thuần ghép nối các yếu tố từ những tác phẩm có sẵn của họa sĩ này. Một ví dụ khác cho thấy khả năng sáng tạo của AI, đó là bài hát “Daddy’s Car” được công bố vào năm 2016, được sáng tác bởi phần mềm AI “Flow Machines” phát triển bởi Phòng thí nghiệm khoa học máy tính của Sony. Sau đó, việc sắp xếp nhạc và lời được thêm vào giai điệu ban đầu bởi con người. Tháng 8/2022, bức tranh có tên “Théâtre D’opéra Spatial” do phần mềm AI Midjourney[7] vẽ đã giành giải nhất tại Hội chợ triển lãm bang Colorado[8]. Trong bối cảnh phát triển công nghệ, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều ví dụ mà AI có sự độc lập lớn trong việc sáng tạo tác phẩm[9].

Sự phát triển bùng nổ của AI và khả năng sáng tạo tác phẩm đã đặt ra thách thức về việc bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm do AI tạo ra. Pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam không thừa nhận bảo hộ quyền tác giả cho các tác phẩm này. Lý do xuất phát từ quy định pháp luật chỉ thừa nhận tư cách tác giả cho con người. Theo khoản 1 Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tác giả là “người” trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Vì AI không phải là con người nên AI không thể trở thành tác giả của tác phẩm. Bên cạnh đó, AI cũng không thể là chủ sở hữu quyền tác giả, bởi chủ sở hữu quyền tác giả phải là các tổ chức, cá nhân[10]. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện theo hướng không công nhận bảo hộ các tác phẩm không phải do con người tạo ra. Hệ quả là tác phẩm thuộc về “miền công cộng” và bất cứ ai cũng có thể tự do sử dụng, vì chúng không được bảo hộ. Điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động đầu tư của các chủ sở hữu AI. Ví dụ: trường hợp nhà đầu tư bỏ ra hàng triệu đô la cho một hệ thống tạo nhạc cho các trò chơi điện tử, rồi nhận ra các bản nhạc này không được pháp luật bảo hộ và bất kỳ ai cũng có thể sử dụng mà không cần phải trả tiền[11]. Lĩnh vực AI cần sự đầu tư rất lớn về tài chính, công nghệ và nguồn nhân lực. Như vậy, liệu các nhà đầu tư có mong muốn bỏ ra số tiền lớn để xây dựng một hệ thống máy tính có khả năng học hỏi và tạo ra tác phẩm, nhưng lại không rõ về khả năng bảo hộ của các tác phẩm này[12].

1.3. Sự gia tăng các hành vi xâm phạm quyền tác giả trên môi trường số

Trong kỷ nguyên số, sự phát triển của internet và công nghệ số làm gia tăng các hành vi xâm phạm quyền tác giả. Hành vi vi phạm có xu hướng chuyển dịch từ phương thức truyền thống sang hình thức điện tử thông qua các website, các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, Tiktok… và các sàn thương mại điện tử như Shopee, Lazada, Tiki… Khoảng 80% vi phạm bản quyền đang diễn ra trên các nền tảng số, gây thiệt hại 348 triệu USD năm 2022, tương đương 7.000 tỷ đồng[13]. Tình trạng xâm phạm quyền tác giả đối với các tác phẩm được bảo hộ diễn ra phổ biến trên môi trường số, bởi trên môi trường này, các tác phẩm có thể dễ dàng bị sao chép, truyền đạt và phân phối trái phép mà không bị hạn chế về thời gian hay địa điểm. Ngày càng có nhiều sản phẩm được bảo hộ quyền tác giả, như các tác phẩm văn học, hội họa, nhiếp ảnh, phần mềm máy tính… bị sao chép, truyền đạt và phân phối trái phép trên các trang thông tin điện tử, các sàn thương mại điện tử, các trang mạng xã hội… gây thiệt hại cho các chủ thể quyền. Trước thời điểm ngày 01/7/2025, hàng năm, lực lượng thanh tra chuyên ngành văn hóa, thể thao và du lịch của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xử lý gần 1 triệu tác phẩm xâm phạm; hàng nghìn đầu sách; hàng chục nghìn phần mềm, website, các bộ phim đăng tải trên mạng internet; xử phạt hành chính lên đến hơn 10 tỷ đồng, tuy nhiên, con số này chưa có dấu hiệu suy giảm[14]. Năm 2019, có trên 2.000 link vi phạm quyền tác giả âm nhạc bị tháo gỡ. Một vi phạm nổi tiếng là vụ việc của Công ty Cổ phần Sky Music, khi vi phạm quyền tác giả trên 90% tác phẩm của gần 700 tác giả âm nhạc trong nước và quốc tế do Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam bảo hộ quyền[15]. Năm 2020, “kỳ lân” công nghệ của Việt Nam là Công ty cổ phần tập đoàn VNG (VNG) gây xôn xao khi khởi kiện nền tảng TikTok và yêu cầu bồi thường 9,5 triệu USD (khoảng hơn 200 tỷ đồng), vì cho rằng người dùng TikTok xâm phạm bản quyền âm nhạc của trang Zing MP3 (thuộc sở hữu của VNG)[16]. Theo số liệu từ SimilarWeb, Việt Nam có hơn 200 trang web phát phim không có bản quyền thu hút khoảng 120 triệu lượt xem/tháng, riêng 10 trang web chiếu phim không có bản quyền lớn nhất có hơn 66 triệu lượt xem/tháng[17]. Có thể thấy, tình trạng xâm phạm quyền tác giả trên môi trường internet và kỹ thuật số diễn ra ở mức đáng báo động và trở thành thách thức lớn cho Việt Nam.

Môi trường internet và kỹ thuật số cung cấp những công cụ, phương tiện trợ giúp đắc lực cho hành vi xâm phạm quyền tác giả. Chẳng hạn, công nghệ peer-two-peer (P2P)[18] gây ra nguy cơ xâm phạm quyền tác giả lớn hơn, bởi các công cụ truyền thống thường chỉ cho phép người dùng nghe, xem, đọc các tác phẩm trực tiếp trên mạng và hạn chế việc tiếp tục chia sẻ rộng rãi, thì với công nghệ P2P, việc truyền đạt tác phẩm giữa các máy tính cá nhân được tiến hành dễ dàng mà không cần thông qua máy chủ[19]. Mỗi người dùng internet đều có thể truyền đạt tác phẩm đến người khác một cách không giới hạn nhờ vào công cụ P2P. Ngày nay, P2P là một cách thức phổ biến để trao đổi, chia sẻ các tác phẩm âm nhạc, điện ảnh và phần mềm qua internet, nhưng việc trao đổi này không tránh khỏi hành vi xâm phạm quyền tác giả. Thực tế với kỹ thuật P2P đã có rất nhiều ứng dụng như Emule, BitTorrent, MTorrent… thường được sử dụng với mục đích chia sẻ bất hợp pháp các bộ phim hay các album âm nhạc[20].

2. Một số giải pháp cho Việt Nam nhằm tăng cường bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số

2.1. Ghi nhận bảo hộ các loại hình tác phẩm mới

Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được bảo hộ quyền tác giả theo phương pháp liệt kê. Việc liệt kê giúp quy định rõ ràng, cụ thể nhưng thiếu bao quát nên có thể dẫn đến thiếu sót. Trong kỷ nguyên số với sự phát triển không ngừng của internet và công nghệ, có nhiều loại hình tác phẩm mới ra đời nhưng không được công nhận là đối tượng quyền tác giả, dù mang bản chất sáng tạo tương tự như những loại hình đã được liệt kê tại khoản 1 Điều 14 Luật này.

Như đã phân tích, tác phẩm đa phương tiện, trang thông tin điện tử là những loại hình tác phẩm mới, ra đời trong thời đại kỹ thuật số. Điều này có thể dẫn đến hệ thống pháp lý chưa theo kịp với những thay đổi về công nghệ. Các quy định pháp luật có thể chưa bao quát đầy đủ việc bảo hộ quyền tác giả cho các loại hình tác phẩm mới, gây khó khăn trong việc bảo hộ cho các tác phẩm này. Do đó, cần quy định mở rộng đối tượng bảo hộ quyền tác giả bằng cách bổ sung những loại hình tác phẩm mới, như tác phẩm đa phương tiện, trang thông tin điện tử.

Tham khảo pháp luật Hoa Kỳ, Điều 102 Luật Bản quyền Hoa Kỳ (U.S Copyright Act) quy định tác phẩm nghe nhìn (audiovisual works) là một trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ bản quyền. Tác phẩm nghe nhìn có nội hàm rộng, gồm tác phẩm điện ảnh, tác phẩm đa phương tiện, video thể nghiệm (experimental video works), trò chơi điện tử (video games), chương trình truyền hình (TV shows)… Tương tự, Điều L112-2 Bộ luật Sở hữu trí tuệ của Pháp (Code de la propriété intellectuelle) cũng sử dụng thuật ngữ “tác phẩm nghe nhìn” khi liệt kê các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả[21]. Trong khi đó, Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 của Việt Nam chỉ đề cập đến “tác phẩm điện ảnh” - một khái niệm hẹp hơn “tác phẩm nghe nhìn”, nên dễ bỏ sót các loại hình tác phẩm nghe nhìn khác, trong đó có tác phẩm đa phương tiện. Trên cơ sở đó, kiến nghị sửa đổi điểm e khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 thành “tác phẩm điện ảnh và các tác phẩm khác, gồm các chuỗi hình ảnh động, có hoặc không có âm thanh (sau đây gọi chung là tác phẩm nghe nhìn)”.

Đối với trang thông tin điện tử, kiến nghị bổ sung điểm n vào khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005: “n) Trang thông tin điện tử, gồm toàn bộ nội dung, bố cục, giao diện, mã nguồn và các thành phần hợp thành khác của trang”. Đồng thời, trong văn bản hướng dẫn Luật cần xác định đối tượng này là loại tác phẩm hợp thành, được bảo hộ gián tiếp thông qua việc bảo hộ từng thành phần. Từng thành phần trong trang thông tin điện tử được bảo hộ theo các loại hình tương ứng. Cụ thể, các video và chuỗi hình ảnh động thuộc tác phẩm nghe nhìn, mã nguồn thuộc chương trình máy tính, bố cục/giao diện web thuộc tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, văn bản thuộc tác phẩm văn học, hình ảnh tĩnh thuộc tác phẩm nhiếp ảnh hoặc mỹ thuật…

2.2. Ghi nhận bảo hộ tác phẩm do AI tạo ra

Trong bối cảnh AI ngày càng phát triển mạnh mẽ và có khả năng sáng tạo tác phẩm, việc ban hành quy định làm cơ sở pháp lý điều chỉnh quyền tác giả đối với tác phẩm do AI tạo ra là điều cần thiết.

Chấp nhận hay từ chối bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm do AI tạo ra là vấn đề pháp lý được bàn luận nhiều trong quá trình hoàn thiện pháp luật. Nghiên cứu cho thấy, cần bảo hộ quyền tác giả cho tác phẩm do AI tạo ra, xuất phát từ nhiều lý do: (i) thúc đẩy hoạt động đầu tư, bởi nếu các tác phẩm do AI tạo ra được bảo hộ, các tổ chức và cá nhân sẽ có động lực đầu tư vào công nghệ AI để tạo ra những sản phẩm mới; (ii) thích ứng với sự phát triển của công nghệ khi trong kỷ nguyên số hiện nay và tương lai không thể phủ nhận khả năng sáng tạo ngày càng cao của AI, do đó, việc điều chỉnh pháp luật sở hữu trí tuệ để bảo hộ tác phẩm do AI tạo ra sẽ giúp pháp luật theo kịp thực tế; (iii) bảo vệ quyền lợi của người lập trình, đào tạo và vận hành AI - những chủ thể đã đầu tư nhiều công sức, trí tuệ để AI tạo ra tác phẩm. Vậy, trong trường hợp chấp nhận bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm do AI tạo ra thì ai sẽ là chủ thể quyền tác giả. AI không thể được trao tư cách tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, bởi nếu trao quyền tác giả cho AI thì vô hình trung đã thừa nhận AI có quyền sở hữu tài sản và các quyền nhân thân, quyền tài sản như các cá nhân, tổ chức. Hơn nữa, AI cũng không thể tự chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp tác phẩm do AI tạo ra xâm phạm quyền tác giả. Vì vậy, nếu bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm do AI tạo ra thì chỉ nên trao quyền tác giả cho chủ thể khác mà không phải là AI.

Về tư cách tác giả đối với tác phẩm do AI tạo ra, thay vì loại trừ khả năng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm do AI tạo ra thì pháp luật Việt Nam nên theo hướng ghi nhận bảo hộ nếu tác phẩm do AI tạo ra có sự can thiệp của con người vào quá trình sáng tạo đủ để tác phẩm được tạo ra mang dấu ấn cá nhân. Trong trường hợp hệ thống AI hoàn toàn tự động và người dùng chỉ sử dụng AI thụ động, không đóng góp sáng tạo vào tác phẩm được tạo ra thì người dùng không thể được công nhận tư cách tác giả. Nói cách khác, sự can thiệp của con người là yếu tố cần thiết để một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Trong một vụ việc năm 2024, Văn phòng Bản quyền Hoa Kỳ (USCO) đã công nhận quyền tác giả cho Elisa Shupe (một tác giả người Mỹ) đối với cuốn tiểu thuyết “AI Machinations: Tangled Webs and Typed Words” được viết bằng phần mềm AI ChatGPT, vì cho rằng tác phẩm có sự can thiệp sáng tạo của Elisa thông qua “việc lựa chọn, phối hợp và sắp xếp văn bản do AI tạo ra” (selection, coordination, and arrangement of text generated by AI). Tuy nhiên, USCO không mở rộng bảo hộ bản quyền cho từng câu và đoạn văn cụ thể của cuốn tiểu thuyết, vì chúng do AI tạo ra[22]. Nói cách khác, sự công nhận tư cách tác giả của Elisa đối với cuốn tiểu thuyết trên cũng tương tự như sự công nhận bảo hộ dành cho tác giả của một tác phẩm biên soạn hay tuyển chọn. Quyết định này của USCO được coi là bước đi đầu tiên hướng tới việc công nhận bảo hộ quyền tác giả cho các tác phẩm được tạo ra bởi AI.

Tại Anh, khoản 3 Điều 9 Luật Bản quyền, Sáng chế và Kiểu dáng (Copyright, Designs and Patents Act) quy định: “Trong trường hợp một tác phẩm văn học, kịch, âm nhạc hoặc nghệ thuật do máy tính tạo ra, tác giả có thể được xác định là người thực hiện những sự sắp xếp cần thiết cho việc sáng tạo ra tác phẩm”. Điều 178 Luật này cũng định nghĩa một tác phẩm được tạo ra bởi máy tính (generated computer works) là “được tạo ra bởi máy tính trong trường hợp không có tác giả là con người”[23]. Quy định này đã xem tác phẩm được tạo ra bởi AI như kết quả sáng tạo của người lập trình hoặc người vận hành, sử dụng, do họ là người thực hiện những sự sắp xếp cần thiết cho việc sáng tạo ra tác phẩm.

Tại Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025, pháp luật thương mại điện tử có mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau, cùng nhau tạo nền tảng pháp lý để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ và bảo vệ tài sản trí tuệ. Trong đó, với vai trò là luật chuyên ngành điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình sáng tạo, sử dụng, định đoạt, bảo vệ và quản lý các đối tượng sở hữu trí tuệ, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cần giải quyết những vấn đề pháp lý liên quan đến tác phẩm do AI tạo ra (tư cách tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đối tượng bảo hộ, thời hạn bảo hộ, hành vi xâm phạm…). Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và các luật khác chưa quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm được tạo ra bởi AI. Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 là văn bản luật đầu tiên có phạm vi điều chỉnh gồm AI nhằm thiết lập khung pháp lý quan trọng cho sự phát triển của lĩnh vực này[24]. Tuy dành một chương để quy định các vấn đề pháp lý liên quan đến AI nhưng Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 chưa quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm được tạo ra bởi AI. Bên cạnh đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và dự thảo Luật Trí tuệ nhân tạo được Bộ Khoa học và Công nghệ trình Chính phủ trong năm 2025 cũng không đề cập đến vấn đề này[25]. Vì vậy, cần bổ sung quy định nhằm xác định tác giả đối với tác phẩm được tạo ra bởi AI trong Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi) hoặc quy định trong nghị định hướng dẫn hoặc trong văn bản hướng dẫn thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo (nhằm quy định cụ thể và hướng dẫn thi hành những vấn đề pháp lý liên quan đến AI, trong đó có quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm do AI tạo ra). Cụ thể, cần bổ sung quy định: “Trong trường hợp tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo, tác giả được xác định là người thực hiện sự sắp xếp cần thiết cho việc sáng tạo tác phẩm”. “Người thực hiện những sự sắp xếp cần thiết cho việc sáng tạo tác phẩm là người quyết định đến quá trình tạo ra tác phẩm của hệ thống AI, là người lập trình hoặc người dùng tùy thuộc vào chủ thể nào đã có sự sáng tạo rõ ràng trong việc thiết lập dữ liệu đầu vào, định hướng, vận hành, giám sát, kiểm soát, chỉnh sửa và chọn lựa kết quả đầu ra”. Như vậy, tác giả của tác phẩm do AI tạo ra là chủ thể nào hoàn toàn phụ thuộc vào sự can thiệp sáng tạo của con người đối với quá trình AI tạo ra tác phẩm, có thể xảy ra bốn khả năng: (i) lập trình viên là tác giả; (ii) người dùng là tác giả; (iii) lập trình viên và người dùng là đồng tác giả; (iv) không có tác giả.

Về tư cách chủ sở hữu quyền tác giả, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã có quy định để xác định chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được tạo ra bởi AI[26]. Chẳng hạn, nếu người lập trình hoặc người dùng AI thực hiện các công việc bằng chi phí, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình thì họ chính là chủ sở hữu quyền tác giả. Trường hợp họ thực hiện các công việc dưới sự đầu tư tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ thể khác thì chủ thể đầu tư là chủ sở hữu quyền tác giả.

2.3. Ban hành nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả

Hiện, Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 20/3/2017 của Chính phủ và Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch; thể thao; quyền tác giả, quyền liên quan; văn hóa và quảng cáo (Nghị định số 131/2013/NĐ-CP) là văn bản pháp luật quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan. Tuy nhiên, các quy định của Nghị định này đã không còn phù hợp.

Thứ nhất, Nghị định số 131/2013/NĐ-CP quy định mức xử phạt vi phạm hành chính tương ứng cho từng dạng hành vi vi phạm quyền tác giả quy định tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 đã thiết kế Điều 28 theo hướng không quy định liệt kê từng dạng hành vi cụ thể trong một danh sách khép kín như trước đó, mà bao quát hơn nhằm tránh bỏ sót hành vi xâm phạm[27]. Đồng thời, Điều luật này cũng bổ sung nhiều hành vi xâm phạm mới như: hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định khi sử dụng tác phẩm trong trường hợp ngoại lệ và giới hạn quyền tác giả; hành vi của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian (còn gọi là ISP) trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý… Những sửa đổi, bổ sung về hành vi xâm phạm quyền tác giả tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 chưa được quy định tại Nghị định số 131/2013/NĐ-CP. Do đó, Nghị định này cần được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế để bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

Thứ hai,mức xử phạt trong Nghị định số131/2013/NĐ-CP còn thấp, chưa đủ sức răn đe. Nghị định quy định mức phạt tiền chỉ dựa vào hành vi, không căn cứ vào mức độ gây thiệt hại của hành vi và giá trị hàng hóa sao chép lậu, chưa phân loại theo đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan bị xâm phạm, dẫn đến việc xử phạt vi phạm hành chính chưa phù hợp, chưa bảo đảm tính răn đe, chưa tương xứng mức độ gây thiệt hại của hành vi đối với một số hành vi vi phạm, đặc biệt là vi phạm trên môi trường số. Chẳng hạn, hành vi truyền đạt tác phẩm đến công chúng mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả với mức phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với cá nhân; không có biện pháp xử phạt bổ sung là chưa đủ sức răn đe, đặc biệt, với các tổ chức, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh ở các lĩnh vực như website, app, media… [28]. Hoặc, hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với cá nhân trong nhiều trường hợp chưa đủ sức răn đe, nhất là khi số lượng hàng hóa sao chép nhiều, mang lại cho chủ thể vi phạm số lợi bất chính lớn. Hơn nữa, các quy định về mức phạt tiền đối với các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong Nghị định số 131/2013/NĐ-CP được ban hành hơn 10 năm đã lạc hậu và không còn phù hợp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Do đó, cần điều chỉnh mức phạt tiền theo hướng tăng tương xứng với loại hành vi vi phạm và mức độ gây thiệt hại của hành vi, đồng thời, sửa đổi, bổ sung các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng.

Thứ ba, Nghị định số 131/2013/NĐ-CP chưa quy định về quyền yêu cầu xử lý vi phạm, đơn yêu cầu xử lý vi phạm, thủ tục tiếp nhận, xem xét đơn yêu cầu xử lý vi phạm và các quy định khác có liên quan đến quy trình xử lý vi phạm. Trong khi đó, trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp, Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 126/2021/NĐ-CP và Nghị định số 46/2024/NĐ-CP) quy định khá chi tiết về quy trình, thủ tục này. Do đó, cần bổ sung các quy định liên quan đến quy trình xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan trong nghị định mới thay thế Nghị định số 131/2013/NĐ-CP, nhằm tạo thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền cũng như chủ thể quyền nộp đơn yêu cầu và giải quyết yêu cầu xử lý vi phạm. Các chủ thể của quyền tác giả và quyền liên quan, hơn bất kỳ ai khác, là những người có khả năng để phát hiện hành vi xâm phạm, đồng thời, chủ động đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử lý. Việc trông chờ hoàn toàn vào sự phát hiện và can thiệp của cơ quan chức năng không phải là giải pháp tối ưu. Do đó, việc bổ sung các quy định này giúp phát hiện, xử lý kịp thời, nhanh chóng các hành vi xâm phạm, giảm thiểu các tác động tiêu cực mà những hành vi xâm phạm gây ra cho chủ thể quyền và cho xã hội.

Kết luận

Thời đại kỷ nguyên số với sự phát triển mạnh mẽ của internet cùng các công nghệ số đặt ra nhiều thách thức cho việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới (điển hình là tác phẩm đa phương tiện, trang thông tin điện tử), sự ra đời của AI kéo theo những vấn đề pháp lý phát sinh liên quan đến bảo hộ quyền tác giả, sự gia tăng các hành vi xâm phạm quyền tác giả trên môi trường số. Với những thách thức trên, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam nhằm tăng cường bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số./.

ThS. Nguyễn Trọng Luận

Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Ảnh: internet

[1]. Nguyễn Văn Đáng (2023), Sức mạnh của báo chí trong kỷ nguyên số, https://vietnamnet.vn/suc-manh-cua-bao-chi-trong-ky-nguyen-so-2155214.html, truy cập ngày 11/10/2025.

[2]. Nikoltchev S. (2014), L’influence des nouvelles technologies sur le droit d’auteur, IRIS plus 2014-4, Observatoire européen de l’audiovisuel, Strasbourg, tr. 9.

[3]. Nguyễn Trọng Luận (2019), Luật Sở hữu trí tuệ - Bất cập và hướng hoàn thiện, https://tapchitoaan.vn/luat-so-huu-tri-tue-bat-cap-va-huong-hoan-thien, truy cập ngày 11/10/2025.

[4]. Christophe Caron (2009), Droit d’auteur et droit voisins, 2è ed., LexisNexis, tr. 141.

[5]. Luật PVL Group (2024), Điều kiện để bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm nghệ thuật đa phương tiện là gì?, https://luatpvlgroup.com/dieu-kien-de-bao-ho-quyen-tac-gia-doi-voi-tac-pham-nghe-thuat-da-phuong-tien-la-gi/, truy cập ngày 11/10/2025.

[6]. Khoản 19 Điều 3 Nghị định số 147/2024/NĐ-CP ngày 09/11/2024 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.

[7]. Midjourney là một hệ thống trí tuệ nhân tạo, với cơ sở dữ liệu là những bức tranh của hàng trăm họa sĩ nổi tiếng khác nhau, giúp trí tuệ nhân tạo có thể nhận dạng và xây dựng nên những phong cách nghệ thuật cho riêng mình. Midjourney cho phép người dùng có thể dễ dàng tạo ra những bức tranh vẽ chỉ bằng những mô tả, nhập dữ liệu đầu vào bằng văn bản, sau đó, trí tuệ nhân tạo sẽ xây dựng nên những bức tranh với phong cách nghệ thuật khác nhau. Xem thêm: Báo Dân trí (2022), Mang tranh do AI vẽ tham dự cuộc thi hội họa, ẵm luôn giải nhất, https://dantri.com.vn/suc-manh-so/mang-tranh-do-ai-ve-tham-du-cuoc-thi-hoi-hoa-am-luon-giai-nhat-20220903034904219.htm, truy cập ngày 12/10/2025.

[8]. Đặng Thái Bình, Nguyễn Trọng Luận (2023), Quyền tác giả đối với tác phẩm được tạo ra từ trí tuệ nhân tạo, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 08 (168), tr. 62 - 63.

[9]. Georges Azzaria (2018), Intelligence artificielle et droit d’auteur: l’hypothèse d’un domaine public par défaut, Les cahiers de propriété intellectuelle, vol. 30, tr. 930.

[10]. Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ.

[11]. Andres Guadamuz (2017), Artificial intelligence and copyright, https://www.wipo.int/wipo_magazine/en/2017/05/article_0003.html, truy cập ngày 12/10/2025.

[12]. Đặng Thái Bình, Nguyễn Trọng Luận (2023), tlđd, tr. 65.

[13]. VTV (2024), Vi phạm bản quyền trên mạng tại Việt Nam vẫn đang ở mức cao, https://vtv.vn/van-hoa-giai-tri/vi-pham-ban-quyen-tren-mang-tai-viet-nam-van-dang-o-muc-cao-20240424103733989.htm, truy cập ngày 12/10/2025.

[14]. Trung tâm bảo vệ quyền tác giả (2018), Thực trạng xâm phạm bản quyền tác giả tại Việt Nam, https://trungtambaovequyentacgia.vn/thuc-trang-xam-pham-ban-quyen-tac-gia-tai-viet-nam/, truy cập ngày 14/10/2025.

[15]. Thông tấn xã Việt Nam (2018), Đã có trên 2.000 link vi phạm bản quyền tác giả âm nhạc bị tháo dỡ, http://m.tinnhanhchungkhoan.vn/da-co-tren-2-000-link-vi-pham-quyen-tac-gia-am-nhac-bi-thao-go-post202815.html, truy cập ngày 14/10/2025.

[16]. Mi Ly, Tiến Vũ (2020), Vụ kiện 221 tỉ đồng giữa VNG - TikTok: Án lệ cho vấn đề bản quyền âm nhạc?, https://tuoitre.vn/vu-kien-221-ti-dong-giua-vng-tiktok-an-le-cho-van-de-ban-quyen-am-nhac-20200828090526095. htm, truy cập ngày 14/10/2025.

[17]. Báo Dân trí (2023), Cuộc chiến chống web bóng đá, phim lậu tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn, https://dantri.com. vn/suc-manh-so/cuoc-chien-chong-web-bong-da-phim-lau-tai-viet-nam-gap-nhieu-kho-khan-20230927001151621.htm, truy cập ngày 15/10/2025.

[18]. P2P là công nghệ sử dụng thuật toán điện toán đám mây Server Cloud, cho phép các thiết bị kết nối ngang hàng với nhau, nên P2P được gọi là mạng ngang hàng.

[19]. Đặng Lê Phương Uyên (2020), Hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường mạng ngang hàng, Kỷ yếu hội thảo Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 72.

[20]. Nguyễn Phương Thảo (chủ nhiệm) (2024), Bảo hộ quyền tác giả dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 89.

[21]. Khoản 6 Điều L112-2 Bộ luật Sở hữu trí tuệ của Pháp quy định: “Tác phẩm điện ảnh và các tác phẩm khác gồm các chuỗi hình ảnh động, có hoặc không có âm thanh, được gọi chung là tác phẩm nghe nhìn” (nguyên văn: Les oeuvres cinématographiques et autres oeuvres consistant dans des séquences animées d’images, sonorisées ou non, dénommées ensemble oeuvres audiovisuelles).

[22]. USCO (2024), Registration number TX0009377452, https://publicrecords.copyright.gov/detailed-record/36317712, truy cập ngày 28/8/2025.

[23]. Copyright, Designs and Patents Act 1988, https://www.legislation.gov.uk/ukpga/1988/48/contents, truy cập ngày 28/8/2025.

[24]. Luật Công nghiệp công nghệ số được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2025 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026, riêng các điều 11, 28 và 29 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025.

[25]. Xem toàn văn dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và dự thảo Luật Trí tuệ nhân tạo, tại địa chỉ: https://mst.gov.vn/van-ban-phap-luat/du-thao/2262.htm, truy cập ngày 28/8/2025.

[26]. Các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 từ Điều 36 đến Điều 43 là cơ sở pháp lý để xác định chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm do AI tạo ra.

[27]. “Điều 28. Hành vi xâm phạm quyền tác giả 1. Xâm phạm quyền nhân thân quy định tại Điều 19 của Luật này. 2. Xâm phạm quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này. 3. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định tại các điều 25, 25a và 26 của Luật này”.

[28]. Hà An (2023), Cần thiết ban hành nghị định mới, tăng cường xử lý vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, https://bvhttdl.gov.vn/can-thiet-ban-hanh-nghi-dinh-moi-tang-cuong-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh-ve-quyen-tac-gia-quyen-lien-quan-20230407164744418.htm, truy cập ngày 20/10/2025.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Andres Guadamuz (2017), Artificial intelligence and copyright, https://www.wipo.int/wipo_magazine/en/2017/05/article_0003.html, truy cập ngày 12/10/2025.

2. Báo Dân trí (2022), Mang tranh do AI vẽ tham dự cuộc thi hội họa, ẵm luôn giải nhất, https://dantri.com.vn/suc-manh-so/mang-tranh-do-ai-ve-tham-du-cuoc-thi-hoi-hoa-am-luon-giai-nhat-20220903034904219.htm, truy cập ngày 12/10/2025.

3. Báo Dân trí (2023), Cuộc chiến chống web bóng đá, phim lậu tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn, https://dantri.com.vn/suc-manh-so/cuoc-chien-chong-web-bong-da-phim-lau-tai-viet-nam-gap-nhieu-kho-khan-20230927001151621.htm, truy cập ngày 15/10/2025.

4. Christophe Caron (2009), Droit d’auteur et droit voisins, 2è ed., LexisNexis.

5. Claudia Gestin-Vilion (2017), La protection par le droit d’auteur des créations générées par intelligence artificielle, Mémoire Maîtrise en droit, Université Laval, Canada.

6. Code de la propriété intellectuelle. Copyright, Designs and Patents Act.

7. Đặng Lê Phương Uyên (2020), Hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường mạng ngang hàng, Kỷ yếu Hội thảo Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

8. Đặng Thái Bình, Nguyễn Trọng Luận (2023), Quyền tác giả đối với tác phẩm được tạo ra từ trí tuệ nhân tạo, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 08 (168).

9. Georges Azzaria (2018), Intelligence artificielle et droit d’auteur: l’hypothèse d’un domaine public par défaut, Les cahiers de propriété intellectuelle, vol. 30.

10. Hà An (2023), Cần thiết ban hành nghị định mới, tăng cường xử lý vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, https://bvhttdl.gov.vn/can-thiet-ban-hanh-nghi-dinh-moi-tang-cuong-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh-ve-quyen-tac-gia-quyen-lien-quan-20230407164744418. htm, truy cập ngày 20/10/2025.

11. Mi Ly, Tiến Vũ (2020), Vụ kiện 221 tỉ đồng giữa VNG - TikTok: Án lệ cho vấn đề bản quyền âm nhạc?, https://tuoitre.vn/vu-kien-221-ti-dong-giua-vng-tiktok-an-le-cho-van-de-ban-quyen-am-nhac-20200828090526095.htm, truy cập ngày 14/10/2025.

12. Nguyễn Phương Thảo (chủ nhiệm) (2024), Bảo hộ quyền tác giả dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

13. Nguyễn Trọng Luận (2019), Luật Sở hữu trí tuệ - Bất cập và hướng hoàn thiện, https://tapchitoaan.vn/luat-so-huu-tri-tue-bat-cap-va-huong-hoan-thien, truy cập ngày 11/10/2025.

14. Nguyễn Văn Đáng (2023), Sức mạnh của báo chí trong kỷ nguyên số, https://vietnamnet.vn/suc-manh-cua-bao-chi-trong-ky-nguyen-so-2155214.html, truy cập ngày 11/10/2025.

15. Nikoltchev S. (2014), L’influence des nouvelles technologies sur le droit d’auteur, IRIS plus 2014-4, Observatoire européen de l’audiovisuel, Strasbourg.

16. PVL Group (2024), Điều kiện để bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm nghệ thuật đa phương tiện là gì?, https://luatpvlgroup.com/dieu-kien-de-bao-ho-quyen-tac-gia-doi-voi-tac-pham-nghe-thuat-da-phuong-tien-la-gi/, truy cập ngày 11/10/2025.

17. Thông tấn xã Việt Nam (2018), Đã có trên 2.000 link vi phạm bản quyền tác giả âm nhạc bị tháo dỡ, http://m.tinnhanhchungkhoan.vn/da-co-tren-2-000-link-vi-pham-quyen-tac-gia-am-nhac-bi-thao-go-post202815. html, truy cập ngày 14/10/2025.

18. Trung tâm bảo vệ quyền tác giả (2018), Thực trạng xâm phạm bản quyền tác giả tại Việt Nam, https://trungtambaovequyentacgia.vn/thuc-trang-xam-pham-ban-quyen-tac-gia-tai-viet-nam/, truy cập ngày 14/10/2025.

19. U.S Copyright Act.

20. VTV (2024), Vi phạm bản quyền trên mạng tại Việt Nam vẫn đang ở mức cao, https://vtv.vn/van-hoa-giai-tri/vi-pham-ban-quyen-tren-mang-tai-viet-nam-van-dang-o-muc-cao-20240424103733989.htm, truy cập ngày 12/10/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (441) tháng 11/2025))

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Nâng cao chất lượng triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Nâng cao chất lượng triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số tại Bộ Tư pháp

Chiều ngày 16/10, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì cuộc họp giao ban Ban Chỉ đạo Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Tư pháp phiên họp thứ XVIII. Cùng dự có Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh và Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Nguyễn Quang Thái.
Phát huy vai trò công chứng trong bảo đảm an toàn pháp lý thời kỳ số

Phát huy vai trò công chứng trong bảo đảm an toàn pháp lý thời kỳ số

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc phát huy vai trò của công chứng trong phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ quyền tài sản và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch là yêu cầu quan trọng, góp phần xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định.
Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số

Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số

Ngày 15/10, Khoa Luật, Đại học Phenikaa tổ chức Hội thảo khoa học "Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số ở Việt Nam". PGS.TS. Mai Đắc Biên, Trưởng Khoa Luật và TS. Nguyễn Hồng Bắc, Trưởng Bộ môn Luật Quốc tế và Thương mại quốc tế, Đại học Phenikaa đồng chủ trì Hội thảo.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Ngày 14/10, Bộ Tư pháp tổ chức họp Tổ soạn thảo mở rộng xây dựng dự thảo Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì cuộc họp.
Để người dân, doanh nghiệp thuận lợi trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Để người dân, doanh nghiệp thuận lợi trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến

Ngày 30/9/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 13/2026/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số nội dung về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia (Thông tư số 13/2026/TT-BTP). Thông tư góp phần hỗ trợ, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, người dân tiếp cận, thực hiện thủ tục hành chính, sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Phê duyệt “Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật”

Phê duyệt “Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật”

“Đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật” được phê duyệt tại Quyết định số 1949/QĐ-TTg ngày 08/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ (Đề án) nhằm mục tiêu xây dựng hạ tầng dữ liệu pháp luật quốc gia thống nhất, dùng chung, tạo nền tảng ứng dụng trí tuệ nhân tạo hiệu quả, góp phần đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, hướng tới xây dựng nền quản trị pháp luật thông minh.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số: “Đòn bẩy" bứt phá trong công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật

Nhân Ngày Chuyển đổi số Quốc gia (10/10), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo của Bộ Tư pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển dữ liệu lớn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Thứ trưởng chia sẻ về những nhiệm vụ Bộ Tư pháp đang triển khai nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, rà soát và tổ chức thi hành pháp luật; đồng thời làm rõ vai trò của dữ liệu và AI trong đổi mới phương thức hoạt động của Ngành Tư pháp.
Pháp luật quốc tế về tội phạm trên không gian mạng và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật quốc tế về tội phạm trên không gian mạng và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển nhanh, mạnh, tác động lớn đến xã hội và toàn cầu hóa, pháp luật quốc tế ngày càng giữ vai trò quan trọng trong xây dựng các chuẩn mực chung để các quốc gia phối hợp, xử lý hiệu quả tội phạm trên không gian mạng. Nghiên cứu phân tích các nội dung cơ bản của pháp luật quốc tế về tội phạm hóa hành vi, hài hòa hóa hình phạt, tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án và xác định thẩm quyền tài phán qua các văn kiện quốc tế như Công ước Budapest, Công ước Hà Nội và một số văn kiện liên quan, đồng thời, gợi mở một số giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.
Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chính sách, pháp luật về kiểm soát phân tầng xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số

Chính sách, pháp luật về kiểm soát phân tầng xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số

Những biến đổi của phân tầng xã hội, tác động của chuyển đổi số và yêu cầu hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm cơ hội tham gia, tiếp cận và thụ hưởng các nguồn lực phát triển là những nội dung được các đại biểu tập trung trao đổi tại Hội thảo khoa học “Chính sách và pháp luật về kiểm soát phân tầng xã hội nhằm mục đích giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội" tổ chức ngày 30/9. PGS.TS. Nguyễn Văn Quang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội và TS. Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công đồng chủ trì.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tập trung xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tập trung xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số

Ngày 19/8/2026, Ban Thường vụ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành Kế hoạch số 46-KH/TLĐ về hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (Kế hoạch), nhằm tập trung xử lý dứt điểm các điểm nghẽn thuộc phạm vi quản lý, tạo chuyển biến trong phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên môi trường số.
Chuyển đổi số công tác báo cáo: Tạo lập dữ liệu dùng chung, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Chuyển đổi số công tác báo cáo: Tạo lập dữ liệu dùng chung, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Trong khuôn khổ Chương trình hợp tác năm 2026 giữa Bộ Tư pháp và Viện Konrad-Adenauer-Stiftung (Viện KAS), ngày 25/9/2026, Bộ Tư pháp phối hợp với Viện KAS tổ chức Hội thảo với chủ đề "Nhu cầu và giải pháp chuyển đổi số trong công tác báo cáo về tổ chức thi hành pháp luật". Tham dự Hội thảo có ông Lewe Paul, Trưởng đại diện Viện KAS tại Việt Nam; đại diện các bộ, ngành ở Trung ương; đại diện một số Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân, sở, ban, ngành trên địa bàn thành phố Hà Nội; đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và các chuyên gia, nhà khoa học.

Theo dõi chúng tôi trên: