Từ khóa: văn bản tố tụng điện tử; hồ sơ vụ án điện tử; tố tụng điện tử; chuyển đổi số tư pháp.
LEGAL AID ACTIVITIES IN THE CONTEXT OF IMPLEMENTING ELECTRONIC PROCEDURES IN CRIMINAL PROCEEDINGS
Abstract: The implementation of e-procedures, including the application of digital documents, digital signatures, electronic case files, electronic data management, and the sharing and interconnection between prosecuting agencies in criminal proceedings, will change the way of ensuring the right to legal aid for vulnerable groups, creating new demands on legal aid activities. Based on identifying legal gaps and challenges in technical infrastructure, human resources, coordination mechanisms, and digital capacity, this study analyzes the theoretical and practical issues facing legal aid activities in the context of implementing e-procedures in criminal proceedings. From this, it proposes directions for improving legislation, strengthening digital capacity, developing technological infrastructure, and ensuring information safety to guarantee access to justice for those receiving legal aid under the conditions of e-procedure implementation.
Keywords: Electronic procedural documents; electronic case files; e-procedures; digital transformation of the judiciary.
Đặt vấn đề
Tố tụng điện tử là xu thế tất yếu trong thời đại số để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử, yêu cầu hội nhập quốc tế và đưa nền tư pháp Việt Nam bắt kịp với nền tư pháp hiện đại, tiên tiến ở các nước trên thế giới[1].
Khoản 5 Điều 131 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2025 quy định: “Hồ sơ vụ án được lập bằng văn bản giấy hoặc được số hóa theo quy định” và khoản 3 Điều 132 quy định: “Chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng là chữ ký trực tiếp hoặc chữ ký số”. Đây là cơ sở pháp lý triển khai thủ tục tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự ở Việt Nam trong thời gian tới. Thay đổi này không chỉ tác động đến phương thức tổ chức, vận hành của cơ quan tiến hành tố tụng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động trợ giúp pháp lý. Vì vậy, hoạt động trợ giúp pháp lý, vốn có vai trò bảo đảm quyền tiếp cận công lý của đối tượng yếu thế đang đứng trước cơ hội và thách thức mới. Tố tụng điện tử mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, rút ngắn quy trình phối hợp giữa cơ quan tố tụng và tổ chức trợ giúp pháp lý, đồng thời, đòi hỏi sự thích ứng về thể chế, hạ tầng kỹ thuật, năng lực số của đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và khả năng tiếp cận công nghệ của người được trợ giúp pháp lý. Do đó, nghiên cứu hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử là thực sự cần thiết nhằm nhận diện những vấn đề lý luận và thực tiễn, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý.
1. Một số vấn đề về tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự và hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử
Nghiên cứu cho thấy, tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự và hoạt động trợ giúp pháp lý khi triển khai tố tụng điện tử có một số vấn đề sau:
1.1. Một số vấn đề về tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự
Hiện, thuật ngữ “tố tụng điện tử” chưa được quy định trong các văn bản của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, một số nội dung mang tính chất của tố tụng điện tử đã được thể hiện trong các chủ trương lớn, tiêu biểu như nhiệm vụ “xây dựng Tòa án điện tử”[2]; chuyển đổi số; mô hình dữ liệu; các lớp kiến trúc dữ liệu; nền tảng danh tính số và xác thực điện tử; hệ thống chứng thực chữ ký số chuyên dùng; kho dữ liệu số dùng chung; cơ chế chia sẻ, kết nối, liên thông; bảo mật thông tin; quản trị dữ liệu[3]… được nhận diện là yếu tố cốt lõi làm cơ sở vận hành tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự.
Trên cơ sở định hướng của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đặc biệt, các văn bản điều chỉnh trực tiếp đến liên thông dữ liệu, quản trị dữ liệu và kiến trúc số thống nhất trong hệ thống chính trị[4], việc xác định các yếu tố triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự xuất phát từ yêu cầu thể chế phải đi trước, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng; lấy dữ liệu làm trung tâm, liên thông, đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị, vận hành trên nền tảng kiến trúc số thống nhất và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, các thành tố triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự gồm:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Đây là nền tảng cấu thành tính hợp pháp của toàn bộ quy trình tố tụng điện tử, các quy định về hồ sơ điện tử, văn bản điện tử, chữ ký số, các quy định về số hóa hồ sơ, chia sẻ dữ liệu, quy trình về số hóa hồ sơ tạo hành lang pháp lý để triển khai thủ tục tố tụng điện tử toàn diện.
Thứ hai, dữ liệu hồ sơ vụ án tạo thành hệ thống thống nhất - dữ liệu duy nhất - dịch vụ liền mạch[5]. Hồ sơ vụ án được chuyển giao, phê chuẩn, truy xuất tức thời giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hình sự, trại giam, trại tạm giam, cập nhật thời gian thực từ cơ sở tới trung ương và được kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, được định danh và kiểm soát xuyên suốt quá trình tố tụng.
Thứ ba, hạ tầng công nghệ và bảo mật số, hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống máy chủ, mạng truyền dữ liệu, phần mềm nghiệp vụ và cơ chế mã hóa, xác thực, sao lưu, bảo đảm tính toàn vẹn.
Thứ tư, giám sát và truy xuất số hóa trong toàn quy trình tố tụng, theo dõi tiến độ, kiểm sát tính hợp pháp của từng thủ tục tố tụng; bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu.
Như vậy, tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự là sự thay đổi toàn diện, từ ban hành văn bản điện tử, thiết lập hồ sơ điện tử thông qua hạ tầng công nghệ, định danh điện tử, cơ sở dữ liệu liên thông, thiết lập được một nền tảng dùng chung toàn hệ thống, liên thông từ cơ quan điều tra cho đến Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án[6]. Về bản chất, tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự là quá trình chuyển đổi phương thức tiến hành tố tụng từ thủ công sang môi trường điện tử, chuyển đổi phương thức làm việc, trong đó, tái cấu trúc lại quy trình, phân cấp, phân quyền gắn với việc ứng dụng công nghệ[7]. Cụ thể:
- Cơ quan điều tra được giao tiến hành hoạt động điều tra ban hành các quyết định tố tụng, ký số và lưu trữ dưới dạng điện tử, truy xuất và xác thực ngay, gắn với mã hồ sơ điện tử duy nhất, liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia; sinh trắc học, cập nhật dữ liệu lên cơ sở dữ liệu nghiệp vụ chuyên ngành để quản lý và chia sẻ.
- Viện kiểm sát thực hiện việc tiếp nhận, kiểm sát và phê chuẩn hồ sơ vụ án điện tử, thao tác nghiệp vụ toàn trình trên môi trường số. Toàn bộ hồ sơ, dữ liệu, quyết định, lệnh, văn bản tố tụng sẽ được cập nhật đầy đủ, thống nhất và đồng bộ trong toàn hệ thống[8] theo mã hồ sơ vụ án.
- Tòa án thực hiện tiếp nhận và thụ lý hồ sơ điện tử, phân công thẩm phán, theo dõi tiến độ tố tụng và ban hành các văn bản tố tụng điện tử. Xây dựng nền tảng quản trị điện tử thống nhất; phát triển dịch vụ tư pháp công trực tuyến; công khai bản án, án lệ; ứng dụng trí tuệ nhân tạo; xét xử trực tuyến; kết nối, chia sẻ dữ liệu tư pháp toàn diện[9].
- Cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam; cơ quan thi hành án hình sự, trại giam, trại tạm giam: quá trình thi hành lệnh tạm giữ, tạm giam và cơ sở dữ liệu người bị kết án, tiến độ thi hành án hình sự với cơ sở dữ liệu điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm bị can, bị cáo, người bị kết án được kiểm soát xuyên suốt từ giai đoạn điều tra đến thi hành án.
Triển khai tố tụng điện tử góp phần tăng cường công khai, minh bạch, hiệu quả quản lý, đồng thời, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng được thể hiện ở các điểm:
(i) Bảo đảm an toàn pháp lý và tính toàn vẹn của hồ sơ điện tử: việc áp dụng chữ ký số giúp xác thực nguồn gốc, bảo đảm toàn vẹn nội dung của văn bản điện tử, đồng thời, ngăn chặn hành vi sửa đổi hoặc truy cập trái phép, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để triển khai hồ sơ điện tử trong tố tụng hình sự. Hệ thống hồ sơ điện tử cho phép thiết lập cơ chế phân quyền truy cập, ghi nhận nhật ký thao tác và sao lưu dữ liệu tự động.
(ii) Nâng cao hiệu quả nghiệp vụ, tăng cường hiệu quả quản lý, chỉ đạo và điều hành: quy trình giải quyết vụ án được tối ưu hóa nhờ số hóa hồ sơ và ký số; dữ liệu được kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, việc xác thực thông tin có kết quả chính xác, kịp thời; chuyển giao văn bản, hồ sơ thực hiện trên môi trường số rút ngắn thời hạn giải quyết vụ án, qua đó, nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng dễ dàng tra cứu, đối chiếu, phân tích lời khai, tài liệu, chứng cứ ngay trên hệ thống, theo dõi tiến độ, chỉ đạo xử lý kịp thời; dữ liệu cập nhật tự động giúp công tác thống kê, báo cáo trở nên chính xác, nhanh chóng, phục vụ công tác quản lý, kiểm tra, giám sát nội bộ.
(iii) Nâng cao tính minh bạch và khả năng tiếp cận của người dân: thông qua cổng thông tin điện tử hoặc các ứng dụng, cơ quan, tổ chức, người tham gia tố tụng có thể tra cứu tiến độ giải quyết vụ án và các thông báo liên quan. Việc tiếp cận kịp thời thông tin giúp tăng cường niềm tin vào hệ thống tư pháp, đồng thời, bảo đảm quyền được thông tin của công dân.
(iv) Hiệu quả về kinh tế - xã hội: góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách tư pháp và tăng cường hội nhập quốc tế, hồ sơ điện tử, loại bỏ các khâu in ấn, vận chuyển và lưu trữ hồ sơ giấy; số hóa hồ sơ giúp tiết kiệm đáng kể chi phí in ấn, lưu trữ, đồng thời, giảm thời gian làm việc cho cán bộ và người dân, qua đó, tiết kiệm nguồn lực xã hội.
Như vậy, tố tụng điện tử không chỉ thay đổi kỹ thuật mà là bước tiến trong hoạt động tố tụng hình sự. Trong khi trợ giúp pháp lý là công cụ quan trọng bảo đảm quyền con người trong tố tụng, đặc biệt, nhóm đối tượng yếu thế. Vì vậy, yêu cầu cải cách hoạt động trợ giúp pháp lý trở nên cấp thiết và phải đồng bộ với quá trình triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự.
1.2. Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự
Quyền được trợ giúp pháp lý là điều kiện căn bản để bảo đảm quyền bào chữa, quyền bình đẳng và quyền tiếp cận công lý của công dân. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật trong tố tụng hình sự bằng cách đặt ra cơ chế cho nhóm đối tượng yếu thế thực hiện các quyền, thụ hưởng được các quyền mà không gặp trở ngại trong việc thực hiện[10]. Khi hoạt động tố tụng hình sự được chuyển sang môi trường điện tử, các quyền này cần được mở rộng và thích ứng với phương thức tố tụng điện tử, các hoạt động trợ giúp pháp lý có thể được thực hiện trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử như: (i) trao đổi, phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý; (ii) tiến hành các hoạt động như: đăng ký, từ chối, hủy bỏ việc đăng ký bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội là người thuộc diện được trợ giúp pháp lý; (iii) thông báo thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra; trao đổi thông tin, cung cấp tài liệu, hồ sơ vụ án điện tử; (iv) cung cấp thông tin, tài liệu và biểu mẫu về trợ giúp pháp lý cho các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ và trại giam.
Khi nhóm đối tượng yếu thế bị truy cứu trách nhiệm hình sự và có tư cách tố tụng người bị buộc tội, hoạt động trợ giúp pháp lý tất yếu chịu sự tác động trực tiếp của tố tụng điện tử, đặc biệt, hồ sơ điện tử, liên thông dữ liệu. Các tác động thể hiện trên phương diện cơ bản như:
Thứ nhất, tác động theo hướng hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong môi trường số. Các quy định truyền thống về nộp đơn, xác nhận, lưu trữ, ký và ban hành văn bản hoạt động trợ giúp pháp lý chưa bao quát các quan hệ phát sinh trong môi trường số.
Thứ hai, tác động đến phương thức làm việc yêu cầu thích ứng với quy trình số hóa như tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý, phân công người thực hiện trợ giúp pháp lý, tham gia các hoạt động tố tụng. Sự thay đổi này đòi hỏi cán bộ trợ giúp pháp lý cần có kỹ năng công nghệ số để khai thác và quản lý dữ liệu, làm việc trực tuyến, an toàn thông tin, giải quyết vấn đề trong môi trường số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Để đáp ứng với tố tụng điện tử, tư duy quản lý, quy trình và năng lực hành nghề trợ giúp pháp lý cần đổi mới toàn diện theo hướng chuyên nghiệp, đồng thời, tăng cường khả năng giám sát, giảm thiểu sai sót và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, qua đó, nâng cao chất lượng của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Thứ ba, tác động đến quyền tiếp cận của người được trợ giúp pháp lý. Việc triển khai tố tụng điện tử tác động trực tiếp đến nhóm người thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Ở chiều tích cực, hồ sơ điện tử và các nền tảng trực tuyến cho phép người được trợ giúp pháp lý, đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, tiết kiệm thời gian đi lại, giảm chi phí và được hỗ trợ kịp thời ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng, thực thi được các quyền liên quan đến hoạt động tố tụng, đặc biệt là quyền tiếp cận công lý[11]. Tuy nhiên, việc triển khai tố tụng điện tử cũng làm gia tăng nguy cơ bất bình đẳng trong tiếp cận trợ giúp pháp lý, vì người nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người không có thiết bị thông minh hoặc không có kỹ năng sử dụng công nghệ số có thể gặp khó khăn khi gửi yêu cầu trợ giúp pháp lý trực tuyến, tiếp cận tài liệu điện tử. Khoảng cách số, rào cản ngôn ngữ và hạn chế về hạ tầng viễn thông làm tăng nguy cơ hạn chế khả năng tham gia vào tiến trình của tố tụng điện tử. Do đó, đặt ra yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng và hệ thống trợ giúp pháp lý phải thiết kế các cơ chế hỗ trợ phù hợp với từng nhóm đối tượng yếu thế. Đây là điều kiện để bảo đảm việc triển khai tố tụng điện tử không làm thu hẹp mà phải mở rộng khả năng tiếp cận của đối tượng được trợ giúp pháp lý trong quá trình tố tụng.
Thứ tư, tác động về cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Để hoạt động trợ giúp pháp lý thích ứng với tố tụng điện tử, phải có hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, trang thiết bị và phần mềm chuyên dụng. Cùng với đó, cần xây dựng nền tảng quản lý trợ giúp pháp lý số, có khả năng tích hợp với cơ sở dữ liệu tố tụng, các cơ sở dữ liệu quốc gia.
Trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử, đối tượng được trợ giúp pháp lý, đặc biệt là người nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật chịu tác động của phương thức tố tụng này. Tác động ở giai đoạn khởi tố, điều tra và truy tố, nơi quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý và khả năng tham gia tố tụng thực chất của người được trợ giúp pháp lý có ý nghĩa quyết định. Có thể khẳng định, việc triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự tác động toàn diện đến hoạt động trợ giúp pháp lý như hoàn thiện pháp luật, phương thức làm việc, năng lực chủ thể. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức về thể chế, hạ tầng và nhân lực trong tiến trình xây dựng nền trợ giúp pháp lý số.
2. Thách thức đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự
Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự đặt ra những thách thức đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Cụ thể:
Thứ nhất, khung pháp lý hiện hành chưa quy định đầy đủ và thống nhất về số hóa hồ sơ, tạo lập, lưu trữ, kết nối, chia sẻ dữ liệu cũng như trách nhiệm của các chủ thể trong từng khâu của quy trình, dẫn đến lúng túng trong áp dụng và tiềm ẩn rủi ro pháp lý. Hạn chế trong liên thông dữ liệu và quy trình phối hợp chia sẻ, kết nối ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý trong môi trường tố tụng điện tử. Mặc dù định hướng lấy dữ liệu làm trung tâm với yêu cầu “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung”[12] được đặt ra, nhưng trên thực tế, dữ liệu trợ giúp pháp lý và dữ liệu tố tụng hình sự còn phân tán, chưa được kết nối, chia sẻ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ và trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Quy trình, thủ tục tiếp nhận và thực hiện trợ giúp pháp lý chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người được trợ giúp pháp lý, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế[13]. Việc thiếu liên thông dữ liệu làm hạn chế khả năng phát hiện sớm người thuộc diện được trợ giúp pháp lý, cản trở việc tiếp cận kịp thời trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư, dẫn đến khả năng tham gia tố tụng của người được trợ giúp pháp lý chưa bảo đảm đầy đủ trong môi trường tố tụng điện tử.
Thứ hai, hạn chế về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, công nghệ thông tin, công nghệ và năng lực số của người được trợ giúp pháp lý. Nhiều trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chưa được đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin đồng bộ làm hạn chế khả năng cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý trên môi trường số, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận trợ giúp viên pháp lý kịp thời cũng như việc tham gia tố tụng của người được trợ giúp pháp lý, từ đó, làm giảm hiệu quả quyền tiếp cận công lý của người được trợ trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử. Bên cạnh đó, người nghèo, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số hoặc người sinh sống tại vùng sâu, vùng xa còn hạn chế về thiết bị, kết nối internet và kỹ năng công nghệ số, dẫn đến khó khăn trong tiếp cận các nền tảng trợ giúp pháp lý số, thực hiện quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý, tra cứu và xác thực thông tin tố tụng, làm giảm khả năng tham gia tố tụng một cách thực chất và gia tăng bất bình đẳng về tiếp cận trợ giúp pháp lý giữa các chủ thể.
Thứ ba, nguy cơ mất an toàn thông tin và lộ, lọt dữ liệu trợ giúp pháp lý. Hồ sơ số về trợ giúp pháp lý chứa nhiều thông tin nhạy cảm về nhân thân, nội dung vụ án, trong khi các quy chuẩn kỹ thuật về bảo mật, phân quyền truy cập và lưu trữ dữ liệu chưa được thiết lập đầy đủ, thống nhất, dẫn đến gia tăng nguy cơ bị tấn công mạng hoặc sử dụng sai mục đích dữ liệu, qua đó, trực tiếp xâm phạm quyền riêng tư, làm suy giảm hiệu quả bảo đảm bí mật thông tin giữa người được trợ giúp pháp lý với trợ giúp viên pháp lý, đồng thời, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền bào chữa và các quyền tố tụng cơ bản khác trong môi trường tố tụng điện tử.
Thứ tư, rào cản về ngôn ngữ và văn hóa pháp lý. Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số, 16 dân tộc rất ít người, không ít người được trợ giúp pháp lý chưa sử dụng thành thạo tiếng Việt, trong khi các nền tảng trợ giúp pháp lý số và tài liệu hướng dẫn trực tuyến chưa được chuẩn hóa theo hướng song ngữ hoặc thân thiện với người dùng. Thiếu các hướng dẫn dễ hiểu, phù hợp với đặc điểm văn hóa - xã hội của từng nhóm đối tượng làm hạn chế khả năng tiếp cận thông tin, tương tác với trợ giúp pháp lý viên và tham gia tố tụng một cách thực chất của người yếu thế trong quá trình triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự.
3. Định hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự
Trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử, các thủ tục tố tụng từng bước được thực hiện trên môi trường số, các thiết chế hỗ trợ tư pháp cần phải thay đổi để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự, đặc biệt, đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cần đặt trong khung tiêu chí đánh giá hiệu quả phù hợp, gồm: khả năng tiếp cận trợ giúp viên pháp lý kịp thời của nhóm đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý thông qua môi trường số; thời gian tiếp nhận, xử lý và phản hồi yêu cầu trợ giúp pháp lý trong các giai đoạn tố tụng; mức độ bảo đảm bí mật thông tin, an toàn dữ liệu và quyền riêng tư của người được trợ giúp pháp lý; mức độ tham gia tố tụng thực chất của người được trợ giúp pháp lý.
Trên cơ sở các tiêu chí đánh giá trên, nghiên cứu đề xuất một số định hướng trọng tâm trong việc hoàn thiện hoạt động trợ giúp pháp lý. Cụ thể:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý số. Pháp luật cần quy định điều kiện riêng biệt áp dụng cho đối tượng yếu thế, đối tượng bị hạn chế về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi hay giới hạn về tuổi hoặc giới tính nhằm tạo cho các đối tượng này bình đẳng với những người khác về cơ hội tiếp cận quyền trợ giúp pháp lý[14]. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cần bổ sung quy định về hồ sơ số trợ giúp pháp lý, giá trị pháp lý của chữ ký số, văn bản điện tử, quy trình tiếp nhận, xử lý, lưu trữ và chia sẻ thông tin trợ giúp pháp lý trên môi trường mạng, cơ chế xác thực danh tính điện tử của người được trợ giúp pháp lý và trợ giúp viên pháp lý, trách nhiệm pháp lý khi xảy ra vi phạm trong sử dụng, bảo quản hoặc chia sẻ dữ liệu.
Thứ hai, đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý liên thông với cơ sở dữ liệu tố tụng. Phát triển nền tảng số trợ giúp pháp lý quốc gia, có khả năng tích hợp với cơ sở dữ liệu của cơ quan tố tụng và cơ quan thi hành án hình sự. Trên cơ sở hạ tầng, dữ liệu, nền tảng số và ứng dụng dùng chung, hình thành tài nguyên số quốc gia chung, sử dụng dữ liệu, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo[15] được xây dựng theo khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, từ điển dữ liệu dùng chung[16]. Hệ thống này cần cho phép tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý trực tuyến, quản lý tiến độ, lưu trữ hồ sơ, đồng thời, có cổng truy cập thân thiện cho người dân, đặc biệt là người yếu thế, bảo đảm thống nhất, bảo mật và dễ tra cứu.
Thứ ba, nâng cao năng lực số và chuyên môn của đội ngũ trợ giúp pháp lý. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng sử dụng và bảo mật thông tin trên nền tảng số trợ giúp pháp lý. Đồng thời, xây dựng chuẩn năng lực số trong hoạt động trợ giúp pháp lý như khả năng khai thác và quản lý dữ liệu, giao tiếp và hợp tác trực tuyến, sáng tạo nội dung số, bảo đảm an toàn thông tin, giải quyết vấn đề trong môi trường số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm, các tiêu chí này không chỉ phản ánh mức độ thành thạo công nghệ mà còn là thước đo năng lực tư duy, đạo đức và khả năng thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi số.
Thứ tư, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất và kinh phí triển khai nền tảng số trợ giúp pháp lý. Nhà nước cần có chính sách đầu tư và cơ chế tài chính ổn định cho việc mua sắm thiết bị, phần mềm, đường truyền và đào tạo nhân sự trợ giúp pháp lý tại địa phương; đặc biệt, tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Có thể xem xét lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình chuyển đổi số quốc gia, cải cách tư pháp và phát triển xã hội số để hỗ trợ triển khai.
Thứ năm, xây dựng cơ chế phối hợp, bảo mật và giám sát an ninh thông tin trong trợ giúp pháp lý số. Pháp luật cần ban hành các quy chuẩn kỹ thuật về bảo vệ dữ liệu hoạt động trợ giúp pháp lý, làm rõ yêu cầu về phân quyền truy cập, mã hóa, lưu trữ hồ sơ, an ninh mạng đối với nền tảng số trợ giúp pháp lý. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế vận hành liên ngành trong môi trường số thông qua xác định đầu mối chịu trách nhiệm kết nối, chia sẻ dữ liệu; xây dựng quy trình chuẩn về tiếp nhận, xác thực, khai thác và cập nhật thông tin hoạt động trợ giúp pháp lý trên hệ thống tố tụng điện tử và quy định rõ trách nhiệm xử lý khi xảy ra sự cố mất an toàn thông tin. Cơ chế này nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình và bảo đảm hiệu quả của hoạt động trợ giúp pháp lý trong môi trường tố tụng điện tử.
Các giải pháp hoàn thiện hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử cần thực hiện đồng bộ và có thứ tự ưu tiên. Trước hết, hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động trợ giúp pháp lý trên môi trường số giữ vai trò nền tảng. Trên cơ sở đó, việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật và cơ sở dữ liệu hoạt động trợ giúp pháp lý liên thông với các cơ quan tố tụng cần được triển khai theo các khung kiến trúc và quản trị dữ liệu quốc gia, bảo đảm tính thống nhất và an toàn thông tin. Nâng cao năng lực số của đội ngũ trợ giúp pháp lý và bảo đảm nguồn lực tài chính là điều kiện quyết định hiệu quả vận hành của hệ thống; cơ chế phối hợp liên ngành và giám sát an toàn, an ninh thông tin là yếu tố xuyên suốt, bảo đảm tính bền vững và trách nhiệm giải trình của hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử.
Kết luận
Tố tụng điện tử không chỉ thay đổi phương thức tiến hành tố tụng, mà còn làm biến đổi cách thức bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền được trợ giúp pháp lý của nhóm đối tượng yếu thế. Hoàn thiện pháp luật, đầu tư hạ tầng kỹ thuật, nâng cao năng lực số cho đội ngũ trợ giúp pháp lý và xây dựng cơ chế bảo mật, giám sát dữ liệu là điều kiện tiên quyết để hoạt động trợ giúp pháp lý trên môi trường số trở thành thiết chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân, qua đó, mọi cá nhân ở bất kỳ hoàn cảnh nào đều có thể tiếp cận pháp luật, được hỗ trợ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp một cách bình đẳng, an toàn và hiệu quả./.
Thượng tá, TS. Hoàng Đình Duyên
Cục Điều tra hình sự, Bộ Quốc phòng
Ảnh: internet
[1]. TS. Nguyễn Bích Thảo (2023), Xây dựng thể chế tố tụng điện tử ở một số quốc gia và khuyến nghị cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 08 (480), tháng 04/2023.
[2]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.
[3]. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[4]. Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về thúc đẩy chuyển đổi số liên thông, đồng bộ, nhanh, hiệu quả đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; Quy định số 05-QĐ/BCĐTW ngày 28/7/2025 về Mô hình liên thông số thống nhất, hiệu quả và quản trị dữ liệu trong hệ thống chính trị; Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 21/7/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về thúc đẩy tạo lập dữ liệu phục vụ chuyển đổi số toàn diện; Quyết định số 2439/QĐ-TTg ngày 04/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung (Phiên bản 1.0); Quyết định số 3090/QĐ-BKHCN ngày 08/10/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.
[5]. Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025, tlđd.
[6]. Lê Thị Hoàng Minh (2025), Xây dựng nền tư pháp số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/02/28/xay-dung-nen-tu-phap-so-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap, truy cập ngày 10/01/2026.
[7]. Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025, tlđd.
[8]. Tạp chí Điện tử Kiểm sát (2025), Nền tảng quản lý án hình sự - bước tiến quan trọng trong chuyển đổi số ngành kiểm sát nhân dân, https://kiemsat.vn/nen-tang-quan-ly-an-hinh-su-buoc-tien-quan-trong-trong-chuyen-doi-so-nganh-kiem-sat-nhan-dan-73338.html, truy cập ngày 10/01/2026.
[9]. Mai Đỉnh (2025), Ngành tòa án đã đi trước, đổi mới, sáng tạo về chuyển đổi số, https://congly.vn/nganh-toa-an-da-di-truoc-doi-moi-sang-tao-ve-chuyen-doi-so-501138.html, truy cập ngày 10/01/2026.
[10]. TS. Lê Lan Chi (2022), Bảo đảm quyền của nạn nhân và một số nhóm yếu thế trong tư pháp hình sự từ quy định của pháp luật đến hoạt động của người hành nghề luật, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.31.
[11]. Lê Thị Hoàng Minh (2025), tlđd.
[12]. Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW ngày 19/6/2025, tlđd.
[13]. ThS. Phạm Quang Đại (2025), Hoàn thiện chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý trong kỷ nguyên mới, https://danchuphapluat.vn/hoan-thien-chinh-sach-phap-luat-ve-tro-giup-phap-ly-trong-ky-nguyen-moi-6875.html, truy cập ngày 10/01/2026.
[14]. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí (2018), Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.135.
[15]. Quy định số 05-QĐ/BCĐTW ngày 27/8/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về mô hình liên thông số thống nhất, hiệu quả và quản trị dựa trên dữ liệu trong hệ thống chính trị.
[16]. Quyết định số 2439/QĐ-TTg ngày 04/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung (Phiên bản 1.0).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GS.TSKH. Võ Khánh Vinh (2020), Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia, Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp ở Việt Nam, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Đại học Mở Hà Nội.
2. Lê Thị Hoàng Minh (2025), Xây dựng nền tư pháp số ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/02/28/xay-dung-nen-tu-phap-so-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap, truy cập ngày 10/01/2026.
3. Mai Đỉnh (2025), Ngành tòa án đã đi trước, đổi mới, sáng tạo về chuyển đổi số, https://congly.vn/nganh-toa-an-da-di-truoc-doi-moi-sang-tao-ve-chuyen-doi-so-501138.html, truy cập ngày 10/01/2026.
4. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí (2018), Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
5. ThS. Phạm Quang Đại (2025), Hoàn thiện chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý trong kỷ nguyên mới, https://danchuphapluat.vn/hoan-thien-chinh-sach-phap-luat-ve-tro-giup-phap-ly-trong-ky-nguyen-moi-6875.html, truy cập ngày 10/01/2026.
6. TS. Lê Lan Chi (2022), Bảo đảm quyền của nạn nhân và một số nhóm yếu thế trong tư pháp hình sự từ quy định của pháp luật đến hoạt động của người hành nghề luật, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
7. TS. Nguyễn Bích Thảo (2023), Xây dựng thể chế tố tụng điện tử ở một số quốc gia và khuyến nghị cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 08 (480), tháng 04/2023.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (449) tháng 3/2026)