Thứ ba 07/04/2026 02:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.

Đặt vấn đề

Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền con người trong tố tụng dân sự nói riêng có ý nghĩa quan trọng vì liên quan trực tiếp đến tài sản, danh dự và tính mạng, nhân phẩm… của con người. Về quyền con người trong TTDS là những quyền tố tụng mà pháp luật quy định cho các đương sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Để bảo vệ các quyền đó, cần có một hệ thống quy định pháp luật về thủ tục tố tụng dân chủ, thuận tiện, ghi nhận đầy đủ các quyền trong tố tụng của đương sự, quy định trách nhiệm của các chủ thể tố tụng bảo đảm thực hiện quyền của đương sự, giám sát thực hiện các quy định đó và các chế tài xử lý vi phạm quyền của đương sự[1].

Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2019, 2020, 2022, 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) được xem là nguồn cơ bản để bảo đảm quyền con người trong TTDS. Trong lĩnh vực tư pháp, việc khẳng định, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được quy định tại Hiến pháp năm 2013. Cụ thể khoản 4 Điều 31 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa và khoản 5 Điều 103: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 9 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo quy định pháp luật để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án”.

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật. Đây là quan điểm mang tính đột phá trong chương trình cải cách tư pháp và là cơ sở hiến định để phát triển công tác trợ giúp pháp lý. Quan điểm này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với các nhóm yếu thế, tạo điều kiện để họ được bình đẳng với các chủ thể khác trong tiếp cận pháp luật, qua đó bảo đảm công bằng trong các quan hệ pháp luật.

1. Ý nghĩa của trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Công tác trợ giúp pháp lý được ghi nhận lần đầu trong TTDS thông qua việc xác định chức năng, nhiệm vụ của trợ giúp viên pháp lý tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 và tiếp tục được hoàn thiện trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Pháp luật hiện hành không chỉ xác định trợ giúp viên pháp lý là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, mà còn quy định trách nhiệm của Nhà nước và thẩm phán trong việc bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho những người thuộc diện được hưởng. Nhìn từ góc độ TTDS, trợ giúp pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, nhất là người nghèo, người yếu thế, người thuộc diện chính sách. Điều đó được thể hiện trên một số phương diện cơ bản sau:

Thứ nhất, bảo đảm quyền con người và quyền công dân trong TTDS. TTDS liên quan trực tiếp đến tài sản, danh dự, nhân phẩm của con người, vì vậy, việc bảo đảm quyền con người là yêu cầu cốt lõi. Trợ giúp pháp lý là hoạt động giúp những người gặp khó khăn về tài chính hoặc có hoàn cảnh đặc biệt được tiếp cận đầy đủ các quyền tố tụng, được hỗ trợ trước Tòa án và được bảo vệ công lý một cách bình đẳng.

Thứ hai, bảo đảm thực hiện các nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS gồm: (i) bảo đảm quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự: đối với người nghèo và nhóm yếu thế, việc tự mình tham gia tranh tụng rất khó khăn. Khi trợ giúp viên pháp lý tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, họ giúp đương sự thực hiện hiệu quả quyền này, đồng thời hỗ trợ Tòa án giải quyết vụ việc khách quan hơn; (ii) bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử: tranh tụng đòi hỏi các bên đưa ra chứng cứ, lập luận và tranh luận với nhau. Nhiều đương sự không am hiểu pháp luật nên không thể tham gia tranh tụng đầy đủ. Sự tham gia của trợ giúp viên pháp lý giúp nâng cao chất lượng tranh tụng, đặc biệt đối với người nghèo, người khuyết tật, người cao tuổi là những nhóm rất cần hỗ trợ; (iii) bảo đảm nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh người được trợ giúp pháp lý thường gặp khó khăn trong việc thu thập chứng cứ. Trợ giúp viên pháp lý có trách nhiệm hướng dẫn hoặc trực tiếp thu thập tài liệu, trình bày quan điểm pháp lý, đánh giá chứng cứ để bảo vệ đương sự. Điều này vừa giúp đương sự bảo vệ quyền lợi, vừa hỗ trợ Tòa án xác định sự thật khách quan và đưa ra phán quyết công bằng.

Như vậy, trợ giúp pháp lý trong TTDS không chỉ bảo vệ quyền lợi của người yếu thế, mà còn góp phần nâng cao chất lượng tranh tụng, bảo đảm sự công bằng và hiệu lực của tiến trình xét xử, củng cố niềm tin của người dân vào công lý và Nhà nước pháp quyền.

2. Thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

2.1. Kết quả đạt được

Ngày 29/6/2006, tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI, chính sách an sinh xã hội lần đầu tiên được thể chế hóa bằng văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất thông qua việc ban hành Luật Trợ giúp pháp lý. Đến ngày 20/6/2017, Quốc hội khóa XIV tiếp tục thông qua Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi). Đây là hành lang pháp lý quan trọng nhằm hỗ trợ các nhóm đối tượng yếu thế như người nghèo, người có công với cách mạng, người bị bạo lực gia đình, nạn nhân mua bán người, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn… qua đó giúp họ tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và bất cập trong đời sống pháp lý.

Một trong những định hướng mới thể hiện trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 là tập trung thực hiện trợ giúp pháp lý, chú trọng vụ việc thuộc lĩnh vực TTDS nhằm cung cấp cho các đối tượng yếu thế dịch vụ trợ giúp pháp lý kịp thời, chất lượng. Nếu trước đây, hoạt động trợ giúp pháp lý còn dàn trải, chưa phản ánh được bản chất giúp đỡ người được trợ giúp pháp lý khi họ có vướng mắc, tranh chấp pháp luật, nhưng khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được ban hành, hoạt động này dần phản ánh đúng bản chất, không chồng lấn sang thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật[2].

Hoạt động trợ giúp pháp lý được hình thành và phát triển từ chính sách xóa đói giảm nghèo và đền ơn đáp nghĩa, nhằm bảo đảm công bằng xã hội và đáp ứng nhu cầu thiết thực của người dân. Xóa đói giảm nghèo là các biện pháp kinh tế - xã hội của Nhà nước nhằm giảm hoặc loại bỏ tình trạng nghèo đói thông qua hỗ trợ toàn diện cho người nghèo. Ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia, xóa đói giảm nghèo không chỉ gồm hỗ trợ về vật chất mà còn các yếu tố phi vật chất như tri thức, tinh thần, đặc biệt bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật[3]. Bên cạnh đó, Việt Nam luôn chú trọng nâng cao nhận thức cộng đồng và thực hiện hiệu quả chính sách đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng. Đối với nhóm đối tượng này, có quan điểm cho rằng, chỉ một bộ phận nhỏ trong số họ có thu nhập ổn định và ở mức khá; do vậy, chính sách trợ giúp pháp lý của Nhà nước được thiết kế không dựa trên điều kiện thu nhập mà thể hiện sự ưu tiên, ưu đãi và tri ân đối với những cống hiến của họ.

Số lượng vụ việc TTDS có sự tham gia của TGVPL bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự ngày tăng sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành. Theo số liệu của Cục trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp (nay là Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý), năm 2024, số vụ việc trợ giúp pháp lý trong tố tụng cho người nghèo, người yếu thế, đối tượng chính sách đạt mốc cao nhất từ trước đến nay. Cụ thể, số vụ việc tham gia tố tụng hoàn thành trong năm 2024 là 30.538 vụ việc (tăng 19% so với cùng kỳ năm 2023). Trong đó, nhiều vụ việc tham gia tố tụng được đánh giá thành công, hiệu quả hoặc thắng kiện, bảo vệ được tài sản, đất đai… (trong lĩnh vực dân sự và hành chính)[4].

2.2. Những tồn tại, hạn chế

Những năm gần đây, điều kiện kinh tế - xã hội cũng như hệ thống chính sách, pháp luật của đất nước đã có nhiều thay đổi mạnh mẽ. Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình; đồng thời, công tác xây dựng pháp luật được đẩy mạnh với nhiều bộ luật và luật mới liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý được ban hành, tác động sâu rộng và đặt ra yêu cầu phải đổi mới căn bản hoạt động này. Bên cạnh đó, yêu cầu chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý ngày càng đòi hỏi phải được nâng cao; người nghèo, người có công và các nhóm yếu thế không thể vì sử dụng dịch vụ miễn phí mà phải chấp nhận chất lượng thấp. Nhà nước đã xây dựng một hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương, đầu tư cơ sở vật chất và nguồn lực nhằm cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý chuyên nghiệp, phù hợp với chính sách nhân văn và định hướng bảo đảm công bằng xã hội.

Cùng với đó, các tranh chấp dân sự trong xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp, số lượng vụ việc yêu cầu giải quyết không ngừng gia tăng. Báo cáo công tác năm 2023 của Tòa án nhân dân tối cao trình Quốc hội nhận định: “Công tác xét xử, giải quyết các vụ việc dân sự tiếp tục được các Tòa án chú trọng và cơ bản đáp ứng yêu cầu. Năm 2023, số vụ việc dân sự được Tòa án thụ lý tăng so với năm trước (tăng 24.426 vụ); tỷ lệ xét xử, giải quyết đạt 87,04%, vượt 9,04% so với yêu cầu của Quốc hội[5]”. Trước thực tiễn đó, việc bảo đảm để các đối tượng được trợ giúp pháp lý có thể tiếp cận pháp luật bình đẳng như các nhóm chủ thể khác trong xã hội, đặc biệt, trong lĩnh vực tố tụng dân sự trở nên cần thiết.

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong TTDS đã được quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, các quy định này chưa xác định rõ cơ chế và trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện trợ giúp pháp lý. Ví dụ, khoản 6 Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thẩm phán có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn để đương sự biết và thực hiện quyền yêu cầu trợ giúp pháp lý; Điều 42 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định cơ quan nhà nước, trong quá trình xử lý vụ việc liên quan đến công dân thuộc diện được trợ giúp pháp lý phải giải thích quyền được trợ giúp pháp lý và giới thiệu họ đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.

Trong khi đó, nhiều nội dung quan trọng chỉ được điều chỉnh trong các văn bản hướng dẫn, nên hiệu quả phối hợp chưa cao. Đặc biệt, các quy định liên quan đến giải thích, thông báo và cung cấp thông tin về trợ giúp pháp lý được hướng dẫn trong Thông tư liên tịch số 10/2018/ TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC[6]. Văn bản này quy định trách nhiệm của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc triển khai hoạt động giải thích; nội dung, cách thức thực hiện và mẫu hóa các biểu mẫu giải thích; đồng thời phân định nhiệm vụ giải thích, thông báo và cung cấp thông tin trong tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính[7].

2.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

Một là, chức danh trợ giúp viên pháp lý trong TTDS chưa được phổ biến. Thực tế, chức danh trợ giúp viên pháp lý chưa được sử dụng rộng rãi trong các quy định pháp luật hay trong đời sống như chức danh luật sư; vì vậy, người dân còn xa lạ, chưa biết rõ về chức danh tư pháp này. Trong TTDS, trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng do yêu cầu của người dân và người dân phải trực tiếp liên hệ Tòa án để thực hiện quyền tố tụng của mình, mà không qua cơ quan chức năng nào khác để được hướng dẫn (khác với lĩnh vực TTHS). Việc thiếu hiểu biết về hoạt động trợ giúp pháp lý và nhiệm vụ của trợ giúp viên pháp lý nói riêng, khiến người dân thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý bị mất cơ hội được bảo vệ quyền lợi trong TTDS và các quan hệ pháp lý nói chung.

Hai là, việc áp dụng pháp luật về TTDS trong gửi các văn bản tố tụng cho người thực hiện trợ giúp pháp lý và giải thích quyền trợ giúp pháp lý từ các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan có liên quan chưa được thực hiện nghiêm.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và pháp luật có liên quan[8]. Để cụ thể quy định này, đã có hướng dẫn giao các văn bản tố tụng cho người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng trong vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật về tố tụng[9].

Tuy nhiên, một số Tòa án thực hiện không đúng quy định về việc gửi văn bản TTDS cho đối tượng, cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng trợ giúp pháp lý. Đây là vướng mắc trong TTDS, bởi đa số người được trợ giúp pháp lý có hạn chế về tài chính hoặc khó khăn đi lại, thiếu kiến thức pháp luật, không biết đến quyền và nghĩa vụ TTDS của mình nên không thể tự bảo vệ quyền lợi của bản thân. Một số trường hợp người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng ở một số địa phương như Bình Dương, Phú Yên, Quảng Nam, Tuyên Quang, Bạc Liêu, Hà Tĩnh, Long An (trước khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh) chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm được quy định tại Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 29/6/2018 như: chưa bàn giao đầy đủ các văn bản tố tụng; bỏ sót đối tượng trợ giúp pháp lý trong giai đoạn điều tra, truy tố, đến giai đoạn xét xử Tòa án mới thực hiện thông tin, thông báo, yêu cầu phân công bào chữa, bảo vệ cho đối tượng được trợ giúp pháp lý đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước[10]. Từ đó, gây ảnh hưởng đến kết quả và chất lượng trợ giúp pháp lý trong TTDS.

Thực tế, các đối tượng được trợ giúp pháp lý thuộc diện người nghèo, đối tượng chính sách xã hội, người già hoặc người dân tộc thiểu số, ở biên giới, vùng bãi ngang ven biển, khó khăn trong đi lại… rất khó tiếp cận truyền thông; nên khi có yêu cầu trợ giúp pháp lý sẽ khó được trợ giúp đầy đủ. Do không biết địa chỉ trợ giúp pháp lý để liên hệ hoặc vì chưa được giải thích, hay giải thích nhưng chưa đầy đủ, nên đối tượng trợ giúp pháp lý không thể sử dụng quyền được trợ giúp pháp lý trong TTDS. Điều này trái ngược với nguyên tắc quốc tế về quyền được trợ giúp pháp lý để bảo đảm cung cấp thông tin, thông báo cho các chủ thể có thẩm quyền liên quan. Nhằm bảo đảm tính toàn diện của hoạt động trợ giúp pháp lý cũng như bảo đảm quyền của nhóm được trợ giúp pháp lý mang tính đặc thù, theo Tuyên bố Kiev năm 2007 về trợ giúp pháp lý, các chính phủ có nghĩa vụ bảo đảm việc cung cấp thông tin pháp luật về tất cả vấn đề hành chính, dân sự và hình sự, các công chức có nghĩa vụ thông báo, giải thích các khía cạnh về thủ tục và nội dung của các vấn đề pháp lý cho mọi thành viên trong xã hội[11].

3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Nghiên cứu cho thấy, quy định pháp luật về thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng chính sách xã hội trong TTDS cần tiếp tục được điều chỉnh và hoàn thiện, đáp ứng theo đúng định hướng trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân” và Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Để thực hiện chủ trương của Đảng, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp sau:

Thứ nhất, pháp luật TTDS cần quy định về chỉ định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhóm đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý.

Hiện, pháp luật về TTDS chưa quy định cụ thể về việc chỉ định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhóm đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Trong khi đó, điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025) quy định: “chỉ định người bào chữa cụ thể cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý trong Bộ luật Hình sự”. Để bảo đảm công bằng cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý trên tất cả lĩnh vực pháp luật, khi giải quyết các vụ việc án dân sự, pháp luật cần quy định thêm nội dung chỉ định người tham gia bảo vệ quyền lợi cho người được trợ giúp pháp lý. Theo đó, trong quá trình TTDS, nếu xác định có đối tượng là người được trợ giúp pháp lý, thì cơ quan cơ quan tố tụng tiếp nhận giải quyết phải chuyển các thông tin về đối tượng được trợ giúp pháp lý; đồng thời, đề nghị Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện xác minh và cử người thực hiện trợ giúp pháp lý ngay cho đối tượng.

Với quy định bổ sung này, Tòa án và các cơ quan khác khi tiến hành quy trình TTDS để giải quyết vụ việc, thực hiện ngay quy định để không bỏ lọt đối tượng được trợ giúp pháp lý, trước cả khi đương sự yêu cầu. Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước nhận đề nghị tiến hành ngay các biện pháp chuyên môn (giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý, xác minh đối tượng được trợ giúp pháp lý, làm thủ tục hành chính trước khi thực hiện trợ giúp pháp lý…) nhằm không bỏ lọt đối tượng. Nếu đối tượng vẫn không yêu cầu, chấp nhận không hưởng quyền trợ giúp pháp lý thì tổ chức trợ giúp pháp lý không mở hồ sơ thực hiện cho đối tượng.

Thứ hai, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định khi có yêu cầu cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự thuộc diện được trợ giúp pháp lý, thẩm phán có trách nhiệm đề nghị Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước cử người tham gia tố tụng để bảo vệ cho họ. Tuy nhiên, khoản 6 Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán chỉ yêu cầu “giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật. Điều này cho thấy, đây mới là quy định mang tính khuyến nghị, chưa phải nghĩa vụ bắt buộc. Vì vậy, cần thiết phải quy định rõ trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đương sự, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát và xử lý đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ này trong quá trình tố tụng”.

Thứ ba, sớm luật hóa trách nhiệm của các chủ thể vừa nêu trong phối hợp thực thi bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người nghèo, đối tượng chính sách xã hội. Điều 42 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định: “Trong quá trình xử lý, giải quyết vụ việc liên quan đến công dân, nếu công dân thuộc diện được trợ giúp pháp lý, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được trợ giúp pháp lý và giới thiệu đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý”. Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định trách nhiệm thông tin, giới thiệu về trợ giúp pháp lý của Phòng Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp xã”. Từ ngày 01/7/2025, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, nhiệm vụ này thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã: trong quá trình thực hiện nhiệm vụ liên quan đến công dân, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giải thích quyền được trợ giúp pháp lý và giới thiệu đến Trung tâm để thực hiện trợ giúp pháp lý cho đối tượng.

Do các quy định còn chung chung, thiếu hướng dẫn cụ thể và chưa có chế tài, nên nhiều chủ thể được giao quyền và nghĩa vụ trong hoạt động trợ giúp pháp lý không thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ trách nhiệm của mình đối với người dân. Không ít cơ quan, ngành coi việc phát hiện đối tượng, giới thiệu quyền được trợ giúp pháp lý và thực hiện trợ giúp pháp lý cho người thuộc diện được hưởng là trách nhiệm riêng của ngành Tư pháp hoặc của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Vì vậy, pháp luật về trợ giúp pháp lý cần quy định cụ thể cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có liên quan với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước; đồng thời, hướng dẫn rõ nội dung, cách thức thực hiện nhiệm vụ này. Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế giám sát và xử lý đối với các hành vi vi phạm, nhằm bảo đảm hoạt động trợ giúp pháp lý được triển khai đồng bộ, hiệu quả và đúng trách nhiệm.

Thứ tư, cần quy định trách nhiệm phối hợp bảo đảm quyền trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng chính sách xã hội trong pháp luật về hòa giải. Thực tế, có nhiều phương thức để giải quyết tranh chấp dân sự, nhưng hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp được đánh giá là hiệu quả và tối ưu nhất. Bởi nếu hòa giải thành, có nghĩa các bên tranh chấp đã thỏa thuận giải quyết được xung đột về lợi ích, tranh chấp xem như đã kết thúc. Trong giải quyết các tranh chấp dân sự hiện có nhiều loại hình hòa giải, được quy định trong các văn bản pháp luật như: hòa giải ở thôn, ấp, khu phố theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013; hòa giải tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai năm 2024; hòa giải tranh chấp lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019; hòa giải tại Tòa án theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020.

Mặt khác, có những thủ tục hòa giải là thủ tục pháp lý bắt buộc. Ví dụ, trong tranh chấp đất đai, pháp luật TTDS quy định nếu chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện (theo Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án), các tranh chấp thuộc khoản 1 Điều 32 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 phải được tiến hành hòa giải trước khi khởi kiện). Với tầm quan trọng như vậy, hòa giải được xem là giai đoạn tiền TTDS với sự tham gia của nhiều cơ quan nhà nước có liên quan. Vì vậy, pháp luật về hòa giải cần quy định: Trong quá trình hòa giải ở cơ sở, thành viên hội đồng hòa giải (tranh chấp trong lĩnh vực đất đai, lao động) tiếp nhận và tiến hành hòa giải cho đối tượng là người nghèo, người hưởng chính sách xã hội phải phối hợp, cung cấp thông tin cho người được trợ giúp pháp lý; đồng thời, quy định cơ chế giám sát và xử lý hành vi thiếu trách nhiệm của tổ chức hòa giải và hòa giải viên trong thực hiện quyền trợ giúp pháp lý cho công dân. Giải pháp trên sẽ bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền được trợ giúp pháp lý của người nghèo, đối tượng chính sách trong thực tế.

Kết luận

Pháp luật về tố tụng, trong đó có TTDS và trợ giúp pháp lý đã thể chế hóa tương đối đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền tố tụng và quyền được hưởng các dịch vụ pháp lý bình đẳng, hướng đến cơ chế bảo đảm tranh tụng công bằng, khách quan trong xét xử cho các đối tượng yếu thế. Điều này phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý trong TTDS tại Việt Nam cho thấy người thực hiện trợ giúp pháp lý là chức danh nghề nghiệp được pháp luật định hướng ngày càng chuyên nghiệp trong cung cấp dịch vụ pháp lý của Nhà nước; góp phần thực hiện chính sách xã hội và hướng đến thực hiện thành công mục tiêu cải cách tư pháp. Vai trò của người trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực pháp luật nói chung và TTDS là rất cần thiết và ngày càng quan trọng. Qua đó cho thấy, trợ giúp pháp lý trong TTDS là thủ tục pháp lý cần thiết, phù hợp với chính sách an sinh xã hội và bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân./.

ThS. Võ Vũ Liêm

Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 2, tỉnh Vĩnh Long

(Ảnh: Internet)

[1]. Nguyễn Tất Viễn (2020), Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 163.

[2]. Nguyễn Thị Minh và Trịnh Thị Thanh (2019), Nhìn lại đổi mới công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian qua, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (10), tr. 4.

[3]. Uông Chu Lưu (2002), Trợ giúp pháp lý trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, Đặc san trợ giúp pháp lý, (02), tr. 4.

[4]. Ngân Giang (2025), Năm 2024: số vụ việc trợ giúp pháp lý trong tố tụng cho người nghèo, người yếu thế, đối tượng chính sách đạt mốc cao nhất từ trước đến nay, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=1984&l=Nghiencuutraodoi, truy cập ngày 20/10/2025.

[5]. Bảo Thư (2023), Mặc dù số lượng vụ án được thụ lý tăng, nhưng các Tòa án đã xét xử kịp thời, nghiêm minh, https://tapchitoaan.vn/mac-du-so-luong-vu-an-da-duoc-thu-ly-tang-nhung-cac-toa-an-da-xet-xu-kip-thoi-nghiem-minh-cac-vu-an9744.html, truy cập ngày 20/10/2025.

[6]. Thông tư liên tịch số 10/2018/ TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.

[7]. Điều 7 Thông tư liên tịch số 10/2018/ TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC VKSNDTC ngày 29/6/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.

[8]. Điều 170 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[9]. Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 29/6/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.

[10]. Vũ Hồng Tuyến (2024), Đánh giá, kiến nghị và một số giải pháp thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=152&l=Hoatdongcuacuc, truy cập ngày 20/10/2025.

[11]. TS. Phạm Thị Duyên Thảo (2021), Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà nước, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 09 (433), tháng 5/2021.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bảo Thư (2023), Mặc dù số lượng vụ án được thụ lý tăng, nhưng các Tòa án đã xét xử kịp thời, nghiêm minh, https://tapchitoaan.vn/mac-du-so-luong-vu an-da-duoc-thu-ly-tang-nhung-cac-toa-an-da-xet-xu-kip-thoi-nghiem-minh-cac-vu-an9744.html, truy cập ngày 20/10/2025.

2. Ngân Giang (2025), Năm 2024: số vụ việc trợ giúp pháp lý trong tố tụng cho người nghèo, người yếu thế, đối tượng chính sách đạt mốc cao nhất từ trước đến nay, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=1984&l=Nghiencuutraodoi, truy cập ngày 20/10/2025.

3. Nguyễn Tất Viễn (2020), Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 163.

4. Nguyễn Thị Minh và Trịnh Thị Thanh (2019), Nhìn lại đổi mới công tác trợ giúp pháp lý trong thời gian qua, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (10), tr. 4.

5. TS. Phạm Thị Duyên Thảo (2021), Trách nhiệm trợ giúp pháp lý của Nhà nước, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 09 (433), tháng 5/2021.

6. Uông Chu Lưu (2002), Trợ giúp pháp lý trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, Đặc san trợ giúp pháp lý, (02), tr. 4.

7. Vũ Hồng Tuyến (2024), Đánh giá, kiến nghị và một số giải pháp thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC TANDTC-VKSNDTC, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=152&l=Hoatdongcuacuc, truy cập ngày 20/10/2025.

(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý” năm 2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số bất cập của pháp luật về trợ giúp pháp lý và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của pháp luật về trợ giúp pháp lý và kiến nghị hoàn thiện

Việc nghiên cứu, định hướng sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, trong đó có vấn đề chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý, lĩnh vực thực hiện trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý được xây dựng trên nền tảng pháp lý vững chắc, đồng thời, chịu sự tác động mạnh mẽ từ yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng của Việt Nam.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình

Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Căn cứ Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và những yêu cầu, đòi hỏi mới của Đảng và Nhà nước đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), qua nghiên cứu, tổng hợp ý kiến của một số đối tượng liên quan, Bộ Tư pháp dự kiến 06 nhóm chính sách cơ bản đưa vào dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý”

Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý”

Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý”
Nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ ở cơ sở và lực lượng có liên quan tại tỉnh An Giang

Nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ ở cơ sở và lực lượng có liên quan tại tỉnh An Giang

Thực hiện Kế hoạch công tác năm 2025 của Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý ban hành kèm theo Quyết định số 1133/QĐ-BTP ngày 02/4/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, ngày 08 - 09/12/2025, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý phối hợp với Sở Tư pháp tỉnh An Giang tổ chức các hội nghị tập huấn nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ ở cơ sở và các đối tượng có liên quan tại các xã Ô Lâm, Ba Chúc, Cô Tô, Tri Tôn, An Cư và Núi Cấm tỉnh An Giang. Đây là một trong những hoạt động trọng tâm nhằm tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Khmer - nhóm đối tượng chiếm tỷ lệ lớn tại khu vực.
Hoàn thiện chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù, yếu thế để không ai bị bỏ lại phía sau

Hoàn thiện chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù, yếu thế để không ai bị bỏ lại phía sau

Đây là một trong 07 chính sách được đề xuất tại buổi làm việc của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc với Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý ngày 10/12/2025 về dự thảo chính sách Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
Hoàn thiện chính sách trợ giúp pháp lý theo yêu cầu mới của thực tiễn

Hoàn thiện chính sách trợ giúp pháp lý theo yêu cầu mới của thực tiễn

Ngày 09/12/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh chủ trì cuộc họp nghe báo cáo dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Tham dự cuộc họp có Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Lê Vệ Quốc và đại diện các đơn vị thuộc Bộ.
Nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả của công tác trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp

Nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả của công tác trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp

Ngày 05/12/2025, Bộ Tư pháp tổ chức Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý do Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu chủ trì. Tham dự phiên họp có các thành viên của Hội đồng thẩm định là đại diện của các cơ quan: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Tài chính, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… và đại diện một số cơ quan thuộc Bộ Tư pháp.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Quyền được tiếp cận pháp luật, trợ giúp pháp lý cho các đối tượng yếu thế

Quyền được tiếp cận pháp luật, trợ giúp pháp lý cho các đối tượng yếu thế

Đây là nội dung quan trọng được trao đổi, thảo luận tại Hội nghị góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 25/11/2025. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc chủ trì Hội nghị. Đồng chủ trì có Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Lê Vệ Quốc; Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Vũ Thị Hường.
Nâng cao cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin trợ giúp pháp lý

Nâng cao cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin trợ giúp pháp lý

Ngày 18/11/2025, tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị “Tập huấn nâng cao kiến thức về cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin trợ giúp pháp lý cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cán bộ cấp xã”.
Hội nghị tập huấn nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Hội nghị tập huấn nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Ngày 17/11/2025, tại Nghệ An, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp đã tổ chức thành công các hội nghị tập huấn nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ cơ sở, người có liên quan trên địa bàn tỉnh Nghệ An theo Kế hoạch công tác năm 2025 của Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý đã được Lãnh đạo Bộ phê duyệt. Các hội nghị tập huấn được tổ chức góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng về trợ giúp pháp lý từ cơ sở, tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân, đồng thời nâng cao năng lực cho đội ngũ người có uy tín trong cộng đồng và đội ngũ cán bộ cơ sở tại địa phương. Hoạt động này là bước triển khai quan trọng nhằm bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý và thúc đẩy hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý tại Nghệ An.
Tiếp tục tăng cường, phát huy hiệu quả nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế

Tiếp tục tăng cường, phát huy hiệu quả nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế

Ngày 04/11/2025, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý tổ chức Tọa đàm khoa học “Tăng cường nguồn lực cho công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế”. Tọa đàm được tổ chức bằng hình thức trực tiếp (tại phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ) kết hợp với trực tuyến. Đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật và đồng chí Vũ Thị Hường, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý đồng chủ trì Tọa đàm.

Theo dõi chúng tôi trên: