Thứ ba 07/04/2026 02:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập của pháp luật về trợ giúp pháp lý và kiến nghị hoàn thiện

Việc nghiên cứu, định hướng sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, trong đó có vấn đề chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý, lĩnh vực thực hiện trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý được xây dựng trên nền tảng pháp lý vững chắc, đồng thời, chịu sự tác động mạnh mẽ từ yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng của Việt Nam.

Đặt vấn đề

Việc nghiên cứu, định hướng sửa đổi, bổ sung Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, trong đó có vấn đề chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý, lĩnh vực thực hiện trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý được xây dựng trên nền tảng pháp lý vững chắc, đồng thời, chịu sự tác động mạnh mẽ từ yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng của Việt Nam. Đây không chỉ là hoạt động kỹ thuật lập pháp, mà còn là bước đi chiến lược nhằm hoàn thiện thể chế trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), nơi quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo đảm thực chất. Cơ sở pháp lý để sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được căn cứ vào các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013)[1], trong đó khẳng định nguyên tắc quyền được bào chữa và tiếp cận công lý của công dân. Theo đó, người bị buộc tội, người bị hại, đương sự có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và Nhà nước bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự[2]. Trợ giúp pháp lý là cơ chế pháp lý nhằm hiện thực hóa quy định của Hiến pháp, đồng thời là chủ trương, chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước để bảo vệ, hỗ trợ nhóm người dễ bị tổn thương, không có khả năng chi trả cho dịch vụ pháp lý thông thường. Cơ sở hiến định Nhà nước thực hiện trách nhiệm bảo vệ quyền công dân được thể hiện tại khoản 7 Điều 91 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và chỉ đạo việc thi hành pháp luật; bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

1. Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý

Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý là khái niệm rộng, bao quát và chỉ đến bất kỳ chủ thể nào được pháp luật quy định thực hiện công tác trợ giúp pháp lý. Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý được Nhà nước thành lập, công nhận để triển khai, thực hiện công việc liên quan đến trợ giúp pháp lý cho những đối tượng được trợ giúp pháp lý. Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý gồm: tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý.

Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý gồm: Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và các chi nhánh của Trung tâm; tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi chung là tổ chức tư vấn pháp luật).

Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập. Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng. Biên chế và kinh phí hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định. Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý phải đăng ký bằng văn bản về phạm vi, hình thức, lĩnh vực trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp nơi đã cấp Giấy đăng ký hoạt động. Đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý được thực hiện theo mẫu thống nhất và phù hợp với phạm vi, hình thức, lĩnh vực pháp luật được ghi trong Giấy đăng ký hoạt động. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cho người thực hiện trợ giúp pháp lý[3].

Người thực hiện trợ giúp pháp lý gồm: trợ giúp viên pháp lý, luật sư; tư vấn viên pháp luật làm việc trong tổ chức tư vấn pháp luật (sau đây gọi là tư vấn viên pháp luật). Người thuộc một trong các trường hợp sau đây không được tham gia trợ giúp pháp lý: (i) đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; (ii) đã bị kết án mà chưa được xóa án tích hoặc đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; (iii) đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục hoặc quản chế hành chính; (iv) mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; (v) bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc mà chưa hết thời hạn ba năm, kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực; (vi) đang bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư; (vii) bị thu hồi Giấy chứng nhận tư vấn viên pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý được xác định là lực lượng giữ vị trí trung tâm của chế định người thực hiện trợ giúp pháp lý nhằm thực hiện và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Đây là lực lượng được Nhà nước giao nhiệm vụ chịu trách nhiệm chính để thực hiện trợ giúp pháp lý. Trợ giúp viên pháp lý là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, có thời gian làm công tác pháp luật từ hai năm trở lên, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp. Trợ giúp viên pháp lý là viên chức, làm việc tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc Chi nhánh của Trung tâm. Từ thời điểm được cấp thẻ, trợ giúp viên pháp lý được thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, có các quyền và nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý. Trợ giúp viên pháp lý là ngạch viên chức, nên ngoài quyền và nghĩa vụ dành cho người thực hiện trợ giúp pháp lý, trợ giúp viên pháp lý có các quyền, nghĩa vụ của viên chức theo quy định của Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Như vậy, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm có trợ giúp viên pháp lý, các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý khác không có trợ giúp viên pháp lý và không phải tất cả viên chức làm việc tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm đều là trợ giúp viên pháp lý. Trợ giúp viên pháp lý đóng góp vai trò quan trọng trong chính sách của Nhà nước nhằm tăng cường quyền dân chủ và tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống tư pháp để phục vụ người dân.

Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về luật sư, tham gia trợ giúp pháp lý với tư cách cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Thẻ luật sư còn hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý xác định tư cách được phép tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý. Luật sư tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý trong các trường hợp sau: luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về luật sư[4]. Luật sư không được từ chối thực hiện nghĩa vụ trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp có lý do chính đáng. Liên đoàn Luật sư Việt Nam hướng dẫn về thời gian, cách thức, hình thức thực hiện trợ giúp pháp lý; hình thức xử lý kỷ luật đối với luật sư vi phạm nghĩa vụ trợ giúp pháp lý; định kỳ hàng năm đánh giá hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư để báo cáo Bộ Tư pháp. Khi thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí, luật sư phải tận tâm với người được trợ giúp pháp lý như với khách hàng trong những vụ việc có thù lao. Theo quy định của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý ít nhất một ngày làm việc (08 giờ) trong một năm[5].

Như vậy, chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý gồm hai nhóm chính là chủ thể được Nhà nước thành lập và chủ thể được Nhà nước công nhận. Tiêu chí này dựa trên cơ sở nguồn tài chính chi trả cho hoạt động, vận hành của từng đối tượng và cơ chế tổ chức hoạt động của từng chủ thể. Đối với các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và các trợ giúp viên pháp lý, Nhà nước sử dụng nguồn tài chính từ ngân sách chi trả cho hoạt động của các chủ thể này. Đối với các tổ chức ký hợp đồng với Sở Tư pháp, các luật sư thì nguồn tài chính để chi trả cho hoạt động trợ giúp pháp lý là nguồn tài chính ngoài ngân sách. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chi phối, yếu tố chủ lực của Nhà nước và yếu tố xã hội hóa nguồn lực xã hội cho công tác trợ giúp pháp lý.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý là tổ chức tư vấn pháp luật chưa được quy định cụ thể, chi tiết và chưa có mô hình chuẩn hóa để phát huy vị trí, vai trò tương xứng với trách nhiệm trước cộng đồng xã hội theo chủ trương xã hội hóa của Nhà nước. Theo thống kê, tổ chức hành nghề luật sư tại Việt Nam tăng từ 1.323 tổ chức năm 2007 lên 5.429 tổ chức năm 2022[6], trong số đó, nhiều tổ chức rất tích cực trong công tác trợ giúp pháp lý. Ví dụ, năm 2023 các tổ chức hành nghề luật sư đã thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí 11.826 vụ việc[7]. Năm 2024, tổ chức hành nghề luật sư thành phố Hà Nội thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí gần 1.600 vụ án bào chữa chỉ định theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện 2.634 vụ việc trợ giúp pháp lý miễn phí[8]. Năm 2023, tổ chức hành nghề luật sư tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí gần 1.300 vụ bào chữa chỉ định theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện 2.114 vụ việc trợ giúp pháp lý miễn phí[9]. Trong nhiệm kỳ 2019 - 2024, Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng thực hiện 435 vụ án chỉ định theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng và 256 vụ việc trợ giúp pháp lý miễn phí[10]. Trong năm 2024, Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ninh thực hiện 124 vụ việc trợ giúp pháp lý miễn phí[11].

Tuy nhiên, việc thực hiện đăng ký hoạt động về trợ giúp pháp lý tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của các tổ chức hành nghề luật sư rất hạn chế, chỉ chiếm 1 - 2% tổng số tổ chức đang hoạt động tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Tại thành phố Hà Nội, đến hết tháng 04/2023 chỉ có 13 tổ chức hành nghề luật sư đăng ký thực hiện trợ giúp pháp lý[12] với khoảng gần 100 luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, đến tháng 08/2025 có 295 luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý[13].

Các tổ chức tư vấn pháp luật thuộc Hội Luật gia Việt Nam đã và đang triển khai công tác trợ giúp pháp lý hiệu quả. Trong nhiệm kỳ 2019 - 2024, có 101 Trung tâm Tư vấn pháp luật và 71 Chi nhánh tại cơ sở, các cấp hội của Hội Luật gia Việt Nam đã thực hiện tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý miễn phí được 542.500 vụ việc[14]. Hoạt động trợ giúp pháp lý của các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp còn mang tính nhỏ lẻ, manh mún, tự phát, chưa đồng bộ, số liệu về hoạt động trợ giúp pháp lý chưa kịp thời tích hợp vào số liệu chung của cả nước do Bộ Tư pháp làm đầu mối. Theo số liệu của Cục Phổ biến giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, giai đoạn 2018 - 2024 cả nước có 234.569 vụ việc trợ giúp pháp lý do phần lớn các trợ giúp viên pháp lý tại các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh, thành phố thực hiện[15].

Vì thế, cần xây dựng cơ chế giao các tổ chức xã hội nghề nghiệp ở trung ương như Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam và tổ chức xã hội nghề nghiệp ở tỉnh, thành phố như Đoàn Luật sư, Hội Luật gia được thành lập Trung tâm Trợ giúp pháp lý. Theo đó, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Hội Luật gia Việt Nam thực hiện điều phối, phân công các vụ việc trợ giúp pháp lý trong cả nước, liên tỉnh, bảo đảm độ bao phủ trong công tác trợ giúp pháp lý khi những tỉnh, thành phố chưa đủ điều kiện để tổ chức, triển khai, thiếu nguồn lực hoặc theo sự lựa chọn của đối tượng được trợ giúp pháp lý. Ở địa phương, ngoài Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh, thành phố thì Đoàn Luật sư, Hội Luật gia tỉnh, thành phố được thành lập Trung tâm Trợ giúp pháp lý. Các Trung tâm Trợ giúp pháp lý của các tổ chức xã hội nghề nghiệp được nhận nguồn kinh phí phân bổ về hoạt động trợ giúp pháp lý hàng năm theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nếu triển khai mô hình này, công tác trợ giúp pháp lý sẽ có chuyển biến rõ rệt như: hoạt động trợ giúp pháp lý được phủ rộng đến tất cả đối tượng được trợ giúp pháp lý; phát huy nguồn nhân lực có chuyên môn cao và chuyên nghiệp là các luật sư, luật gia tham gia công tác trợ giúp pháp lý; tận dụng được nhân lực, cơ sở vật chất sẵn có của các tổ chức xã hội mà Nhà nước không phải đầu tư; người làm công tác trợ giúp pháp lý không nhận lương, chế độ phụ cấp từ ngân sách; tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn của đối tượng được trợ giúp pháp lý trong các vụ việc trợ giúp pháp lý. Việc huy động các lực lượng xã hội tham gia trợ giúp pháp lý được đẩy mạnh nhằm đa dạng hóa các chủ thể tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý, đa dạng các kênh tiếp cận trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý[16] là xu thế chung trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

2. Lĩnh vực thực hiện trợ giúp pháp lý

Trợ giúp pháp lý được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật, trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại[17]. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Sinh lợi là yếu tố đặc trưng, bao trùm của hoạt động kinh doanh, thương mại. Về góc độ lý thuyết kinh tế, hoạt động kinh doanh là một loại hình hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hóa, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ…) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất. Như vậy, xét về góc độ mục đích của chính sách dành cho nhóm dễ bị tổn thương, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 không quy định kinh doanh, thương mại là lĩnh vực được trợ giúp pháp lý là phù hợp. Tuy nhiên, thực tế khi áp dụng vào từng trường hợp cụ thể trong đời sống xã hội thì các lĩnh vực pháp luật đan xen, chi phối và lồng ghép vào nhau, nên rất khó để phân định rõ ràng, cụ thể lĩnh vực pháp luật cần được trợ giúp pháp lý và lĩnh vực pháp luật không được trợ giúp pháp lý. Vì vậy, việc xem xét lĩnh vực được trợ giúp pháp lý nên căn cứ vào việc định danh hình thức thụ lý ban đầu theo loại hình vụ án của Tòa án để xác định lĩnh vực thực hiện trợ giúp pháp lý. Ví dụ từ một vụ việc cụ thể:

Bản án số 41/2020/KDTM-ST ngày 25/8/2020 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa và Bản án số 187/2021/KDTM-PT ngày 22/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Ngân hàng BIDV), bị đơn là ông N.T.P, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đ.V.K, chị Đ.T.L, anh Đ.V.C, chị Đ.T.Đ và một số đương sự khác. Theo vụ án, gia đình ông Đ.V.K vay của Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Thiên Phú KDM (Công ty KDM) 100.000.000 đồng và có sử dụng diện tích 340m2 nhà đất của gia đình tại xã Vĩnh Ngọc làm tài sản thế chấp vay tiền của Công ty KDM. Sau đó, Công ty KDM làm các thủ tục đưa diện tích nhà đất trên làm tài sản thế chấp cho khoản vay 1.020.000.000 đồng của ông N.T.P tại Ngân hàng BIDV. Do vụ án kéo dài từ năm 2015 nên tháng 3/2019 gia đình ông Đ.V.K đã thỏa thuận với Ngân hàng BIDV trả khoản nợ trên và được ngân hàng giải chấp; ông Đ.V.K đã nhận bản chính giấy tờ nhà đất trên. Ông Đ.V.K sửa đổi yêu cầu độc lập và buộc ông N.T.P phải trả 1.020.000.000 đồng. Bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm buộc ông N.T.P phải trả số tiền và lãi suất theo quy định. Hộ gia đình ông Đ.V.K là hộ nghèo do địa phương quản lý từ năm 2015 đến năm 2021. Vụ án này được luật sư của Văn phòng Luật sư Hà Lan và Cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp từ giai đoạn xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa đến hết giai đoạn xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Căn cứ Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và hồ sơ thụ lý cho thấy Tòa án xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại, nên các đương sự không thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Mặc dù gia đình ông Đ.V.K là hộ nghèo tại thời điểm thụ lý, nhưng khi vụ việc được phân loại là tranh chấp kinh doanh thương mại thì gia đình ông không thuộc nhóm đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, xét nội dung vụ án và tư cách tham gia tố tụng của ông Đ.V.K và các con có thể thấy: dù tên vụ án là “kinh doanh thương mại”, nhưng các giao dịch gia đình ông thực hiện vay tiền, thế chấp bất động sản, trả nợ, chịu lãi suất, nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang bản chất giao dịch dân sự. Việc vụ án bị chuyển thành quan hệ kinh doanh thương mại chỉ vì có sự tham gia của các chủ thể trong những mối quan hệ khác (như vay ngân hàng, thế chấp quyền sử dụng đất, mất khả năng thanh toán…) là chưa phù hợp và chưa bảo đảm quyền lợi chính đáng của người thuộc diện được trợ giúp pháp lý.

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Luật Thương mại năm 2005, chủ thể kinh doanh phải có đăng ký kinh doanh; khi tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, các chủ thể này không thuộc diện được trợ giúp pháp lý, bởi quyền trợ giúp pháp lý chỉ gắn với cá nhân. Do đó, nếu ông Đ.V.K tham gia tố tụng với tư cách chủ thể kinh doanh (như hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp), ông sẽ không được trợ giúp pháp lý dù thuộc hộ nghèo. Ngược lại, nếu ông tham gia với tư cách cá nhân và quan hệ tranh chấp mang bản chất dân sự, ông vẫn thuộc diện được hưởng trợ giúp pháp lý.

Từ những phân tích trên, nghiên cứu đề xuất cần xem xét sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 theo hướng mở rộng phạm vi trợ giúp pháp lý sang tất cả các lĩnh vực pháp luật, gồm cả lĩnh vực kinh doanh, thương mại, mà không làm ảnh hưởng đến chính sách nhân đạo và giảm nghèo của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, khi thực hiện đề xuất này cần cân nhắc kỹ về nguồn lực bảo đảm và sự phù hợp với thông lệ quốc tế. Mặc dù quan hệ kinh doanh thương mại vốn gắn với mục tiêu lợi nhuận và chủ thể tham gia thường là doanh nghiệp hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh là những đối tượng không thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 nhưng việc xem xét mở rộng phạm vi vẫn cần thiết để bảo đảm quyền tiếp cận công lý, bảo vệ nhóm yếu thế trong những trường hợp có bản chất dân sự hoặc liên quan trực tiếp đến quyền lợi của cá nhân yếu thế.

3. Người được trợ giúp pháp lý

Người được trợ giúp pháp lý quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 gồm: người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; trẻ em; người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo. Ngoài những đối tương trên, khoản 7 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định người thuộc một trong các trường hợp sau có khó khăn về tài chính cũng được trợ giúp pháp lý, gồm: cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc màu da cam; người cao tuổi; người khuyết tật; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; người nhiễm HIV. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện khó khăn về tài chính của người được trợ giúp pháp lý quy định tại khoản này, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.

Ngoài Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, đối tượng được trợ giúp pháp lý còn chịu sự điều chỉnh của nhiều luật chuyên ngành. Tuy nhiên, một số quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 vẫn mang tính rào cản, chưa phù hợp với các luật chuyên ngành, chưa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và sự phát triển của kinh tế - xã hội. Điều này thể hiện ở một số điểm sau:

Thứ nhất, về điều kiện có khó khăn về tài chính.

Theo khoản 7 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, người thuộc diện trợ giúp pháp lý phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tình trạng khó khăn tài chính. Điều kiện này được hiểu là thuộc hộ cận nghèo hoặc đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định pháp luật[18]. Hồ sơ chứng minh kèm theo giấy tờ nhân thân và xác nhận tình trạng kinh tế, được hướng dẫn tại Điều 33 Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý[19]. Tuy nhiên, cách tiếp cận này còn hình thức, vì có thể loại trừ những cá nhân thật sự khó khăn nhưng không đáp ứng đủ hai điều kiện hành chính nói trên.

Về mặt kỹ thuật lập pháp, việc thu hẹp phạm vi xác định đã làm giảm ý nghĩa nhân văn và hiệu quả của chính sách trợ giúp pháp lý[20]. Tiêu chí khó khăn về tài chính được xác định khá hẹp, chủ yếu dựa vào chuẩn nghèo, cận nghèo hoặc các giấy tờ chứng minh hoàn cảnh kinh tế dẫn đến thực trạng loại trừ nhiều nhóm xã hội có nhu cầu trợ giúp pháp lý nhưng không đủ giấy tờ hoặc không nằm trong danh sách hành chính.

Nguồn lực tài chính để thực hiện là yếu tố quyết định đến chính sách của nhà nước. Tuy nhiên, nếu có những quy định phù hợp việc sử dụng các nguồn lực, huy động nguồn lực xã hội hóa tham gia vào trợ giúp pháp lý thì nguồn lực tài chính để thực hiện công tác trợ giúp pháp lý hoàn toàn có thể giải quyết. Chính sự phụ thuộc vào tiêu chí kinh tế làm giảm tính bao trùm của chính sách. Việc đặt tiêu chí tài chính làm điều kiện tạo ra bất bình đẳng giữa các nhóm yếu thế. Một người khuyết tật hoặc người từ 16 đến dưới 18 tuổi bị xâm hại vẫn có thể bị từ chối trợ giúp pháp lý nếu gia đình không thuộc diện hộ nghèo. Điều này mâu thuẫn với tinh thần bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật và Công ước về quyền trẻ em yêu cầu Nhà nước phải bảo đảm hỗ trợ pháp lý dựa trên mức độ dễ bị tổn thương, không phụ thuộc thu nhập. Đồng thời, tiêu chí này không tương thích với nguyên tắc bảo đảm bào chữa trong tố tụng hình sự. Người bị buộc tội có quyền được hỗ trợ pháp lý ngay từ giai đoạn đầu, nhưng thực tế nhiều trường hợp không được trợ giúp pháp lý chỉ vì không đủ điều kiện tài chính. Điều này làm suy giảm quyền tiếp cận công lý và đi ngược lại nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật.

Từ những phân tích trên, việc áp dụng tiêu chí khó khăn tài chính để xác định đối tượng được trợ giúp pháp lý là bất hợp lý, thiếu công bằng và chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Cần chuyển sang mô hình đánh giá dựa trên mức độ dễ bị tổn thương và mức độ cần thiết của việc được trợ giúp pháp lý trong bối cảnh cụ thể, thay vì dựa trên tiêu chí kinh tế cứng nhắc.

Thứ hai, quy định người khuyết tật có khó khăn về tài chính là đối tượng được trợ giúp pháp lý là không tương thích với Luật Người khuyết tật năm 2010.

Người khuyết tật được trợ giúp pháp lý khi có xác nhận là người có điều kiện khó khăn về tài chính. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Người khuyết tật năm 2010, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn. Điểm d khoản 1 Điều 4 Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định tất cả người khuyết tật, không phân biệt người khuyết tật có nơi nương tựa, có khó khăn về tài chính hay không, đều được trợ giúp pháp lý.

Như vậy, cùng là người khuyết tật và cùng được pháp luật quy định quyền được trợ giúp pháp lý, nhưng các văn bản pháp luật vẫn tồn tại sự khác biệt. Dù phần lớn người khuyết tật có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và việc xin xác nhận khó khăn tài chính không quá phức tạp nhưng thủ tục này lại dễ tạo ra tâm lý e ngại khi họ yêu cầu trợ giúp pháp lý. Trong khi đó, để bảo đảm tốt hơn quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật, khoản 4 Điều 1 Nghị định số 14/2013/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định số 07/2007/NĐ-CP), quy định tất cả người khuyết tật theo Luật Người khuyết tật đều được trợ giúp pháp lý. Đây là bước tiến quan trọng, thể hiện sự điều chỉnh tích cực của pháp luật nhằm bảo đảm tính tương thích với Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật và các điều ước quốc tế có liên quan[21]. Tuy nhiên, theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật bị thu hẹp khi đặt ra điều kiện có khó khăn về tài chính, làm suy giảm tính nhân văn và hiệu lực bảo vệ nhóm yếu thế này.

Việc đặt điều kiện “khó khăn về tài chính” đối với người khuyết tật là bất cập về tư duy lập pháp, chính sách công và bảo đảm quyền con người, không phản ánh đúng nhu cầu trợ giúp pháp lý của nhóm yếu thế đặc biệt này. Người khuyết tật không chỉ bị hạn chế về thể chất, giác quan hoặc chức năng mà còn phải đối mặt với nhiều rào cản môi trường, xã hội và pháp lý trong tiếp cận thông tin, giao dịch dân sự, thủ tục hành chính và tham gia tố tụng. Điều đó làm họ dễ bị xâm phạm quyền và khó tự bảo vệ lợi ích hợp pháp, nên nhu cầu trợ giúp pháp lý của họ xuất phát từ mức độ dễ tổn thương, không phải từ thu nhập.

Các nghiên cứu xã hội học cho thấy, người khuyết tật có xu hướng né tránh tiếp xúc với các cơ quan nhà nước và ít chủ động yêu cầu hỗ trợ vì sợ phiền hà, sợ bị đánh giá là yếu đuối hoặc là gánh nặng cho xã hội[22]. Khi pháp luật yêu cầu phải chứng minh tình trạng tài chính để được trợ giúp pháp lý, rào cản tâm lý càng lớn hơn, làm cho nhiều người dù có vướng mắc pháp lý vẫn không đề nghị được trợ giúp. Hệ quả, một bộ phận người khuyết tật có nhu cầu nhưng không được thụ hưởng chính sách. Vì vậy, việc gắn quyền được trợ giúp pháp lý với tiêu chí tài chính còn tiềm ẩn nguy cơ tạo ra sự phân biệt đối xử gián tiếp.

Từ các phân tích trên, cần sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 theo hướng quy định người khuyết tật đương nhiên được trợ giúp pháp lý, không kèm bất kỳ điều kiện kinh tế nào, bảo đảm chính sách đi đúng bản chất và đúng mục tiêu nhân văn của trợ giúp pháp lý.

Thứ ba, quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 về đối tượng được trợ giúp pháp lý đối với thân nhân liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ chưa phù hợp với tinh thần và chính sách ưu đãi người có công quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng[23]. Theo Pháp lệnh về ưu đãi người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ được hưởng các chính sách đặc biệt về y tế, giáo dục, nhà ở, an sinh xã hội, thậm chí có cơ chế linh hoạt trong thủ tục hành chính. Do đó, việc yêu cầu họ chứng minh thu nhập để được hưởng trợ giúp pháp lý là không phù hợp.

Đồng thời, so với Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, phạm vi thụ hưởng của thân nhân liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 bị thu hẹp. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 yêu cầu họ phải chứng minh có khó khăn về tài chính để được trợ giúp pháp lý, làm cho nhóm vốn được ưu tiên đặc biệt này không được hưởng cơ chế đương nhiên, đồng thời phát sinh thêm thủ tục và rào cản tiếp cận. Trong khi đó, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 không quy định điều kiện để cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ được trợ giúp pháp lý: để được trợ giúp pháp lý, thân nhân liệt sĩ chỉ cần xuất trình giấy tờ chứng minh thuộc diện ưu đãi theo Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Quy định này phản ánh đúng tinh thần đền ơn đáp nghĩa và bảo đảm quyền tiếp cận công lý được thuận lợi. Việc bổ sung điều kiện tài chính theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 làm giảm khả năng tiếp cận trợ giúp pháp lý miễn phí của thân nhân liệt sĩ trong các vụ việc dân sự, đất đai, bồi thường và chính sách xã hội là những lĩnh vực họ thường gặp nhiều vướng mắc. Đây là bước lùi về bảo đảm công bằng xã hội và chưa phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nơi các nhóm có công và nhóm yếu thế phải được ưu tiên tiếp cận pháp luật ở mức cao nhất.

Vì vậy, cần sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 theo hướng khôi phục cơ chế đương nhiên được trợ giúp pháp lý cho thân nhân liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng liệt sĩ, bảo đảm đồng bộ với Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng và phù hợp với tinh thần tri ân, ưu tiên của Nhà nước.

Kết luận

Các quy định về chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý, lĩnh vực thực hiện trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cơ bản bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, sự đồng bộ, tương thích, thống nhất với hệ thống pháp luật trong nước cũng như phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, các quy định này còn tồn tại một số bất cập và cần có cách tiếp cận mới bảo đảm phù hợp với các chính sách về bình đẳng giới, dân tộc, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa và tính khả thi, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Do vậy, việc sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 là yêu cầu cấp thiết mang tính hệ thống, nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền con người và bảo vệ công lý trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa./.

LS. Nguyễn Văn Hà

Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam,

Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội

(Ảnh: Internet)

[1]. Được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 205/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội.

[2]. Điều 31 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Lê Văn Thắng (2024), Nâng cao năng lực cho người thực hiện trợ giúp pháp lý: thực tiễn từ Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Quản lý Nhà nước - Số 346 (11/2024), tr. 88 - 92.

[4]. Điều 67 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012).

[5]. Quyết định số 93/QĐ-BTV ngày 09/10/2014 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành quy định thực hiện nghĩa vụ trợ giúp pháp lý của luật sư.

[6]. Bộ Tư pháp (2024), Báo cáo tổng kết thi hành Luật Luật sư.

[7]. Văn Đức (2024), Liên đoàn Luật sư Việt Nam tổ chức Hội nghị Tổng kết năm 2023 và triển khai nhiệm vụ năm 2024, https://liendoanluatsu.org.vn/lien-doan-luat-su-viet-nam-to-chuc-hoi-nghi-tong-ket-nam-2023-va-trien-khai-nhiem-vu-nam-2024/, truy cập ngày 10/11/2025.

[8]. Báo cáo số 27/BC-ĐLS ngày 13/01/2025 của Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội tổng kết hoạt động năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025.

[9]. Hoàng Vân (2024), Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí minh chủ động tham gia xây dựng pháp luật, phản biện xã hội, https://www.thanhuytphcm.vn/tin-tuc/doan-luat-su-tphcm-chu-dong-tham-gia-xay-dung-phap-luat-phan-bien-xa-hoi-1491918847, truy cập ngày 12/11/2025.

[10]. Văn Đức (2024), Đoàn Luật sư TP. Đà Nẵng tổ chức thành công Đại hội Đại biểu nhiệm kỳ IX (2024 - 2029), https://liendoanluatsu.org.vn/doan-luat-su-tp-da-nang-to-chuc-thanh-cong-dai-hoi-dai-bieu-nhiem-ky-ix-2024-2029/, truy cập ngày 10/11/2025.

[11]. Hoàng Anh (2025), Đoàn Luật sư tỉnh tổng kết công tác năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025, https://baoquangninh.vn/hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-luat-su-nam-2024-trien-khai-nhiem-vu-nam-2025-3336841.html, truy cập ngày 12/11/2025.

[12]. Danh sách Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý trên địa bàn thành phố Hà Nội (cập nhật đến tháng 4/2023), https://sotuphap.hanoi.gov.vn/danh-sach-to-chuc-thuc-hien-tro-giup-phap-ly-va-nguoi-thuc-hien-tro-giup-phap-ly-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi-cap-nhat-den-thang-4-2023-092131.html, truy cập ngày 10/11/2025.

[13]. Công văn số 313/TGPL-HCTH ngày 29/08/2025 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 1 Thành phố Hồ Chí Minh về việc hỗ trợ đăng danh sách luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý năm 2025.

[14]. Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ XIII (2019 - 2024) và mục tiêu, nhiệm vụ công tác nhiệm kỳ XIV (2024 - 2029) của Hội Luật gia Việt Nam ngày 13 và 14/01/2025.

[15]. Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tài liệu Tọa đàm khoa học “Hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý trong kỷ nguyên mới”, ngày 17/10/2025.

[16]. Thanh Trịnh (2023), Nghiên cứu triển khai nhiệm vụ, giải pháp trợ giúp pháp lý trong Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=1933&l=Nghiencuutraodoi, truy cập ngày 25/11/2025.

[17]. Khoản 1 Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

[18]. Điều 2 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý.

[19]. Được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25/5/2021.

[20]. TS. LS. Nguyễn Hữu Thế Trạch (2025), Nhận diện những điểm nghẽn, khó khăn, vướng mắc liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý và định hướng, kiến nghị hoàn thiện, https://hcmcbar.org/NewsDetail.aspx?language=&CatPK=4&NewsPK=1453, truy cập ngày 15/11/2025.

[21]. Trịnh Thị Tuyết Mai (2024), Quyền trợ giúp pháp lý của người khuyết tật theo quy định của pháp luật Việt Nam, https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/08/22/quyen-tro-giup-phap-ly-cua-nguoi-khuyet-tat-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-viet-nam/, truy cập ngày 25/11/2025.

[22]. Trương Kim Kiều Duyên; Dương Thanh Văn; Phạm Thị Diễm My; Nguyễn Ngọc Thúy Vy (2016), Nhu cầu hòa nhập xã hội của người khuyết tật, Hội thảo khoa học sinh viên lần IX - Trường Đại học Văn Hiến, https://qlkhhtqt.vhu.edu.vn/Resources/Docs/SubDomain/qlkh/15.%20Truong%20Kim%20Kieu%20Duyen.pdf, truy cập ngày 27/11/2025.

[23]. Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ XIII (2019 - 2024) và mục tiêu, nhiệm vụ công tác nhiệm kỳ XIV (2024 - 2029) của Hội Luật gia Việt Nam ngày 13 và 14/01/2025.

2. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tài liệu Tọa đàm khoa học “Hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý trong kỷ nguyên mới” ngày 17/10/2025.

3. Văn Đức (2024), Liên đoàn Luật sư Việt Nam tổ chức Hội nghị Tổng kết năm 2023 và triển khai nhiệm vụ năm 2024, https://liendoanluatsu.org.vn/lien-doan-luat-su-viet-nam-to-chuc-hoi-nghi-tong-ket-nam-2023-va-trien-khai-nhiem-vu-nam-2024/, truy cập ngày 10/11/2025.

4. Hoàng Vân (2024), Đoàn Luật sư TPHCM chủ động tham gia xây dựng pháp luật, phản biện xã hội, https://www.thanhuytphcm.vn/tin-tuc/doan-luat-su-tphcm-chu-dong-tham-gia-xay-dung-phap-luat-phan-bien-xa-hoi-1491918847, truy cập ngày 12/11/2025.

5. Văn Đức (2024), Đoàn Luật sư TP. Đà Nẵng tổ chức thành công Đại hội Đại biểu nhiệm kỳ IX (2024 - 2029), https://liendoanluatsu.org.vn/doan-luat-su-tp-da-nang-to-chuc-thanh-cong-dai-hoi-dai-bieu-nhiem-ky-ix-2024-2029/, truy cập ngày 10/11/2025.

6. Hoàng Anh (2025), Đoàn Luật sư tỉnh tổng kết công tác năm 2024 và triển khai nhiệm vụ năm 2025, https://baoquangninh.vn/hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-luat-su-nam-2024-trien-khai-nhiem-vu-nam-2025-3336841.html, truy cập ngày 12/11/2025.

7. Danh sách Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý trên địa bàn thành phố Hà Nội (cập nhật đến tháng 4/2023), https://sotuphap.hanoi.gov.vn/danh-sach-to-chuc-thuc-hien-tro-giup-phap-ly-va-nguoi-thuc-hien-tro-giup-phap-ly-tren-dia-ban-thanh-pho-ha-noi-cap-nhat-den-thang-4-2023-092131.html, truy cập ngày 10/11/2025.

8. TS. LS. Nguyễn Hữu Thế Trạch (2025), Nhận diện những điểm nghẽn, khó khăn, vướng mắc liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý và định hướng, kiến nghị hoàn thiện, https://hcmcbar.org/NewsDetail.aspx?language=&CatPK=4&NewsPK=1453, truy cập ngày 15/11/2025.

9. Lê Văn Thắng (2024), Nâng cao năng lực cho người thực trợ giúp pháp lý: thực tiễn từ đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Quản lý Nhà nước - Số 346 (11/2024), tr. 88 - 92.

10. Nguyễn Thị Nga (2019), Vai trò của trợ giúp viên pháp lý với tư cách người bào chữa tại phiên tòa hình sự, https://tapchitoaan.vn/vai-tro-cua-tro-giup-vien-phap-ly-voi-tu-cach-nguoi-bao-chua-tai-phien-toa-hinh-su, truy cập ngày 25/11/2025.

11. Thanh Trịnh (2023), Nghiên cứu triển khai nhiệm vụ, giải pháp trợ giúp pháp lý trong Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=1933&l=Nghiencuutraodoi, truy cập ngày 25/11/2025.

12. Trịnh Thị Tuyết Mai (2024), Quyền trợ giúp pháp lý của người khuyết tật theo quy định của pháp luật Việt Nam, https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/08/22/quyen-tro-giup-phap-ly-cua-nguoi-khuyet-tat-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-viet-nam/, truy cập ngày 25/11/2025.

13. Trương Kim Kiều Duyên; Dương Thanh Văn; Phạm Thị Diễm My; Nguyễn Ngọc Thúy Vy (2016), Nhu cầu hòa nhập xã hội của người khuyết tật, https://qlkhhtqt.vhu.edu.vn/Resources/Docs/SubDomain/qlkh/15.%20Truong%20Kim%20Kieu%20Duyen.pdf, truy cập ngày 27/11/2025.

(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý” năm 2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình

Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Căn cứ Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và những yêu cầu, đòi hỏi mới của Đảng và Nhà nước đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), qua nghiên cứu, tổng hợp ý kiến của một số đối tượng liên quan, Bộ Tư pháp dự kiến 06 nhóm chính sách cơ bản đưa vào dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý”

Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý”

Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý”
Nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ ở cơ sở và lực lượng có liên quan tại tỉnh An Giang

Nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ ở cơ sở và lực lượng có liên quan tại tỉnh An Giang

Thực hiện Kế hoạch công tác năm 2025 của Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý ban hành kèm theo Quyết định số 1133/QĐ-BTP ngày 02/4/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, ngày 08 - 09/12/2025, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý phối hợp với Sở Tư pháp tỉnh An Giang tổ chức các hội nghị tập huấn nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ ở cơ sở và các đối tượng có liên quan tại các xã Ô Lâm, Ba Chúc, Cô Tô, Tri Tôn, An Cư và Núi Cấm tỉnh An Giang. Đây là một trong những hoạt động trọng tâm nhằm tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Khmer - nhóm đối tượng chiếm tỷ lệ lớn tại khu vực.
Hoàn thiện chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù, yếu thế để không ai bị bỏ lại phía sau

Hoàn thiện chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù, yếu thế để không ai bị bỏ lại phía sau

Đây là một trong 07 chính sách được đề xuất tại buổi làm việc của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc với Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý ngày 10/12/2025 về dự thảo chính sách Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
Hoàn thiện chính sách trợ giúp pháp lý theo yêu cầu mới của thực tiễn

Hoàn thiện chính sách trợ giúp pháp lý theo yêu cầu mới của thực tiễn

Ngày 09/12/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh chủ trì cuộc họp nghe báo cáo dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Tham dự cuộc họp có Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Lê Vệ Quốc và đại diện các đơn vị thuộc Bộ.
Nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả của công tác trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp

Nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả của công tác trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp

Ngày 05/12/2025, Bộ Tư pháp tổ chức Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý do Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu chủ trì. Tham dự phiên họp có các thành viên của Hội đồng thẩm định là đại diện của các cơ quan: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Tài chính, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… và đại diện một số cơ quan thuộc Bộ Tư pháp.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Quyền được tiếp cận pháp luật, trợ giúp pháp lý cho các đối tượng yếu thế

Quyền được tiếp cận pháp luật, trợ giúp pháp lý cho các đối tượng yếu thế

Đây là nội dung quan trọng được trao đổi, thảo luận tại Hội nghị góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp tổ chức ngày 25/11/2025. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc chủ trì Hội nghị. Đồng chủ trì có Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Lê Vệ Quốc; Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Vũ Thị Hường.
Nâng cao cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin trợ giúp pháp lý

Nâng cao cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin trợ giúp pháp lý

Ngày 18/11/2025, tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị “Tập huấn nâng cao kiến thức về cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin trợ giúp pháp lý cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cán bộ cấp xã”.
Hội nghị tập huấn nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Hội nghị tập huấn nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Ngày 17/11/2025, tại Nghệ An, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp đã tổ chức thành công các hội nghị tập huấn nâng cao năng lực, kiến thức về trợ giúp pháp lý cho già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ cơ sở, người có liên quan trên địa bàn tỉnh Nghệ An theo Kế hoạch công tác năm 2025 của Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý đã được Lãnh đạo Bộ phê duyệt. Các hội nghị tập huấn được tổ chức góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng về trợ giúp pháp lý từ cơ sở, tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân, đồng thời nâng cao năng lực cho đội ngũ người có uy tín trong cộng đồng và đội ngũ cán bộ cơ sở tại địa phương. Hoạt động này là bước triển khai quan trọng nhằm bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý và thúc đẩy hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý tại Nghệ An.
Tiếp tục tăng cường, phát huy hiệu quả nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế

Tiếp tục tăng cường, phát huy hiệu quả nguồn lực trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế

Ngày 04/11/2025, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp với Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý tổ chức Tọa đàm khoa học “Tăng cường nguồn lực cho công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế”. Tọa đàm được tổ chức bằng hình thức trực tiếp (tại phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ) kết hợp với trực tuyến. Đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật và đồng chí Vũ Thị Hường, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý đồng chủ trì Tọa đàm.

Theo dõi chúng tôi trên: