Đặt vấn đề
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm từng bước nâng cao đời sống vật chất, đời sống tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, một trong đó là chính sách về trợ giúp pháp lý, nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền được tiếp cận công lý và bình đẳng trong việc tiếp cận pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW) xác định: “Thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống dịch vụ pháp lý, hỗ trợ pháp lý, trợ giúp pháp lý, đăng ký biện pháp bảo đảm để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật…”[1]. Trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên mới, việc tăng cường nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý, đặc biệt, cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng. Để hoàn thành nhiệm vụ này, đòi hỏi sự nỗ lực, sự hoàn thiện, đồng bộ các văn bản pháp luật về trợ giúp pháp lý; sự quan tâm, chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tư pháp, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý; quản lý về cơ cấu tổ chức, biên chế của Ủy ban nhân dân và Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố và đặc biệt trực tiếp từ Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố.
1. Một số vấn đề về nguồn lực thực hiện công tác trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số
1.1. Khái niệm về nguồn lực thực hiện công tác trợ giúp pháp lý
Nguồn lực là toàn bộ tài sản, tài nguyên, sức mạnh vốn có sẵn sàng đưa vào sử dụng hoặc dự trữ để phục vụ cho sản xuất và đời sống con người[2]. Trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, nguồn lực thực hiện công tác trợ giúp pháp lý là tổng hợp sức mạnh sẵn có của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, nòng cốt là Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý, hỗ trợ nghiệp vụ, viên chức khác, tài chính, cơ sở vật chất,… sự đồng thuận, ủng hộ từ xã hội.
Bên cạnh nguồn lực thực hiện công tác trợ giúp pháp lý, nguồn lực quản lý nhà nước về công tác trợ giúp pháp lý giữ vai trò chủ đạo, chi phối toàn bộ các hoạt động trợ giúp pháp lý. Nguồn lực này là hệ thống các quy định pháp luật trong hoạt động trợ giúp pháp lý, cơ quan quản lý nhà nước về công tác trợ giúp pháp lý và đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan đó. Hệ thống các quy định pháp luật là cơ sở để cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.
1.2. Các thành tố cấu thành nguồn lực trợ giúp pháp lý
1.2.1. Nguồn lực về thể chế
Thể chế là những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo[3]. Trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, thể chế được hiểu là hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh trong phạm vi hoạt động trợ giúp pháp lý, gồm các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành, trên cơ sở cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng định hướng cho công tác trợ giúp pháp lý.
1.2.2. Nguồn lực về nhân lực
Người thực hiện trợ giúp pháp lý là yếu tố cốt lõi, có vai trò trực tiếp thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý. Khoản 1 Điều 17 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định người thực hiện trợ giúp pháp lý gồm: (i) trợ giúp viên pháp lý; (ii) luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước; luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; (iii) tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; (iv) cộng tác viên trợ giúp pháp lý. Việc bảo đảm chất lượng, số lượng và năng lực chuyên môn của đội ngũ này là yếu tố quyết định hiệu quả, kịp thời của công tác trợ giúp pháp lý. Các trợ giúp viên pháp lý là viên chức đã qua tuyển dụng làm việc tại các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý để được bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý[4].
1.2.3. Nguồn lực về quản lý nhà nước
Đây là yếu tố nguồn lực có ý nghĩa định hướng và chi phối, gồm bộ máy và cơ chế quản lý trợ giúp pháp lý từ trung ương đến địa phương. Hiện, cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý gồm[5]:
- Chính phủ: thống nhất quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.
- Bộ Tư pháp: cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, trong đó, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý là đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước một số lĩnh vực, trong đó có trợ giúp pháp lý.
- Bộ, cơ quan ngang bộ: trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh, thành phố. Sở Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý.
1.2.4. Nguồn lực về tài chính và cơ sở vật chất
Nguồn tài chính cho công tác trợ giúp pháp lý được hình thành từ nhiều nguồn, trong đó, nguồn ngân sách nhà nước là chủ yếu và các nguồn khác như: đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước, các nguồn hợp pháp khác. Nguồn ngân sách nhà nước được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý[6]. Việc lập dự toán kinh phí này bảo đảm hoạt động trợ giúp pháp lý thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính để chi cho các hoạt động như[7]: các khoản thanh toán cho cá nhân (tiền lương, phụ cấp, các khoản đóng góp theo lương, các khoản chi theo chế độ viên chức và các khoản thanh toán khác); thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, thông tin, liên lạc, sửa chữa, bảo dưỡng thường xuyên tài sản, trang thiết bị của đơn vị, mua sắm, thay thế thiết bị; tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn; chi khen thưởng; liên quan đến nghiệp vụ trợ giúp pháp lý…
Về cơ sở vật chất, Nhà nước bảo đảm về cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện làm việc thích hợp cho Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố dựa trên khối lượng công việc, tính chất, đặc điểm hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu của công tác trợ giúp pháp lý tại địa phương.
1.3. Các hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số
Đồng bào dân tộc thiểu số là đối tượng thụ hưởng chính sách trợ giúp pháp lý thông qua các hoạt động do các tổ chức trợ giúp pháp lý (mà Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố là nòng cốt) thực hiện. Các hoạt động gồm: truyền thông về chính sách trợ giúp pháp lý bằng hình thức “phiên tòa giả định”, các buổi nói chuyện chuyên đề phổ biến pháp luật, xây dựng chương trình phát thanh, thực hiện biên soạn, in ấn các chuyên đề pháp luật cấp phát cho người dân. Các hoạt động này thường được thực hiện riêng biệt hoặc lồng ghép với các chương trình mục tiêu quốc gia có đối tượng thụ hưởng liên quan đến người dân tộc thiểu số. Ngoài ra, người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn còn được hỗ trợ pháp lý qua việc cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính, đại diện ngoài tố tụng và tư vấn pháp luật miễn phí[8].
2. Thực trạng về nguồn lực thực hiện công tác trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long
2.1. Về đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý
Trên cơ sở Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách, Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh (trước ngày 01/7/2025 thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh) đã ban hành Quyết định số 1622/1998/QĐ-UBT ngày 30/11/1998 về việc thành lập Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Trà Vinh trực thuộc Sở Tư pháp[9]. Khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, tỉnh Vĩnh Long (mới) được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre[10]. Ngày 02/7/2025, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long ban hành Quyết định số 134/QĐ-UBND về việc tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long. Từ đây, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long (gọi tắt là Trung tâm) chính thức được thành lập trên cơ sở kế thừa chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Trà Vinh và thực hiện trợ giúp pháp lý trên địa bàn các xã thuộc tỉnh Trà Vinh trước đây[11]. Trung tâm hiện có 01 Giám đốc, 02 Phó Giám đốc, 02 phòng chuyên môn, nghiệp vụ; 09 trợ giúp viên pháp lý, 01 kế toán, 06 hỗ trợ nghiệp vụ và 01 người lao động. Ngoài đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với 24 luật sư hành nghề trên địa bàn Trung tâm phụ trách.
Trung tâm thường xuyên tổ chức các hoạt động bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ nhằm nâng cao năng lực, nhận thức, tinh thần trách nhiệm cho người thực hiện trợ giúp pháp lý; triển khai thực hiện kế hoạch kiểm tra nghiệp vụ thông qua việc tham dự trực tiếp tại các phiên tòa có người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia bào chữa, bảo vệ; cử viên chức tham gia các lớp tập huấn về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Ngoài ra, Trung tâm đã tổ chức các hội nghị tập huấn và hội nghị chuyên đề cho người thực hiện trợ giúp pháp lý và cán bộ các cơ quan khác có liên quan, lồng ghép với Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 ban hành kèm theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ (Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi).
2.2. Về tài chính
Trung tâm được cấp có thẩm quyền phân bổ kinh phí cho các hoạt động trợ giúp pháp lý hằng năm. Riêng đối với các hoạt động thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Trung tâm được giao tổng kinh phí giai đoạn năm 2021 - 2025 là 1.083.400.000 đồng, trong đó, nguồn kinh phí Trung ương phân bổ là 967.000.000 đồng, nguồn kinh phí địa phương phân bổ là 116.400.000 đồng.
2.3. Về cơ sở vật chất
Trung tâm có trụ sở làm việc riêng, có trang thiết bị và phương tiện làm việc đầy đủ như: bàn làm việc, máy tính bàn, máy photocopy, máy in, kệ lưu hồ sơ, điện thoại bàn và các trang thiết bị chuyên dụng khác. Thực hiện Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC BCA-BQP-BTP ngày 15/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết và hướng dẫn tổ chức phiên tòa trực tuyến, Trung tâm đã được cấp có thẩm quyền cấp kinh phí mua sắm trang thiết bị lắp đặt điểm cầu thành phần tại Trung tâm, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho người thực hiện trợ giúp pháp lý.
2.4. Các hoạt động trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số
Hằng năm, Trung tâm được Sở Tư pháp giao nhiệm vụ chủ trì, tham mưu triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong giai đoạn 2021-2025, Trung tâm đã phối hợp với các cơ quan hữu quan triển khai đồng bộ các hoạt động và đạt được những kết quả nổi bật sau[12]:
- Về hoạt động nâng cao nhận thức trợ giúp pháp lý điểm vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Trung tâm thực hiện 63 cuộc truyền thông về trợ giúp pháp lý trực tiếp, hướng dẫn cho người dân tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có 2.431 lượt người dân tham dự; thực hiện 36 cuộc nói chuyện chuyên đề phổ biến pháp luật cho người dân tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có 1.294 lượt người dân tham dự.
- Về hoạt động tổ chức tập huấn điểm về kỹ năng thực hiện trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số, tập huấn điểm về tiếp cận trợ giúp pháp lý đối với đồng bào dân tộc thiểu số: Trung tâm tổ chức 07 hội nghị tập huấn điểm về kỹ năng thực hiện trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số, có 382 lượt đại biểu tham dự.
- Về hoạt động xây dựng chương trình về trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số phủ sóng trên địa bàn tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Trung tâm đã xây dựng 06 chương trình về trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số bằng tiếng Khmer và tiếng Việt phủ sóng trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, với nội dung pháp luật về trợ giúp pháp lý và các lĩnh vực pháp luật khác. Ký kết hợp đồng phát sóng chương trình về trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số phủ sóng trên địa bàn tỉnh với Trung tâm Văn hóa - Thông tin và Thể thao các huyện (trước khi sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh), Báo và Phát thanh, Truyền hình Vĩnh Long.
- Về hoạt động tổ chức chuyên đề điểm kết nối cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Trung tâm đã tổ chức 20 hội nghị chuyên đề về trợ giúp pháp lý điểm kết nối cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có 964 lượt đại biểu tham dự.
- Về hoạt động biên soạn, cung cấp các tài liệu truyền thông về chính sách trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số:
Trung tâm đã biên soạn, cung cấp 8.326 cuốn tài liệu truyền thông về chính sách trợ giúp pháp lý cho người dân tộc thiểu số với các nội dung chuyên đề pháp luật tiêu biểu như: bạn với trợ giúp pháp lý; hỏi - đáp một số quy định về thừa kế theo Bộ luật Dân sự năm 2015; một số quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025; một số quy định trong Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2018; một số quy định của pháp luật về người khuyết tật.
Bên cạnh đó, thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng; Chương trình phối hợp số 1603/CTPH-BTP-TANDTC ngày 19/5/2022 giữa Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao về người thực hiện trợ giúp pháp lý trực tại Tòa án nhân dân và Chương trình phối hợp số 5789/CTPH-BTP-BCA ngày 27/11/2023 giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an phối hợp trực trợ giúp pháp lý trong điều tra hình sự, Trung tâm đã phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng triển khai có hiệu quả công tác giải thích quyền được trợ giúp pháp lý, gửi thông tin, thông báo về trợ giúp pháp lý và cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng[13] bào chữa, bảo vệ cho các đương sự. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến các đương sự là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn[14].
Ngoài ra, trên cơ sở khảo sát nhu cầu của địa phương, Trung tâm thường xuyên đẩy mạnh công tác truyền thông về trợ giúp pháp lý thông qua hình thức “phiên tòa giả định”[15] tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
3. Một số tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, chưa có quy định về kinh phí hỗ trợ đào tạo nguồn trợ giúp viên pháp lý. Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp, do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên theo dự toán ngân sách nhà nước được giao hằng năm, không có nguồn thu hoạt động sự nghiệp. Điều 3 Thông tư số 59/2020/TT-BTC ngày 18/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn nội dung chi hoạt động trợ giúp pháp lý (Thông tư số 59/2020/TT-BTC) chưa quy định về hỗ trợ học phí lớp đào tạo nghề luật sư nhằm tạo nguồn bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý, nên các Trung tâm không có kinh phí để thực hiện hoạt động hỗ trợ này. Mặt khác, các viên chức có chức danh nghề nghiệp hỗ trợ nghiệp vụ không có phụ cấp, viên chức mới được tuyển dụng có mức lương thấp, không có khả năng tự túc học phí để tham gia lớp đào tạo nghề luật sư.
Thứ hai, chưa có cơ chế để trợ giúp viên pháp lý tham gia hòa giải ở cơ sở tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ngày 28/5/2025, Bộ Tư pháp ban hành Công văn số 2964/BTP-PB&TG hướng dẫn một số nội dung thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; trợ giúp pháp lý; hòa giải ở cơ sở; chuẩn tiếp cận pháp luật; hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, trong đó, tại tiểu mục 2.4 (Mục 2) có nội dung “khuyến khích trợ giúp viên pháp lý tham gia làm báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh, hòa giải viên ở cơ sở” và tiểu mục 3.2 (Mục 3) có nêu “kiện toàn tổ hòa giải, hòa giải viên khi sau khi thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp… (lưu ý huy động đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật, trợ giúp viên pháp lý, công an xã, tổ viên tổ bảo vệ an ninh, trật tự tham gia, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở)”. Đây là một trong những hướng dẫn mới của Bộ Tư pháp để huy động nhân lực cho công tác hòa giải ở cơ sở, bởi khi tham gia công tác này, các trợ giúp viên pháp lý có thể chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn về công tác trợ giúp pháp lý, quy định của pháp luật có liên quan đến tranh chấp, góp phần bảo đảm công tác hòa giải ở cơ sở được thực hiện trong khuôn khổ quy định của pháp luật, nâng cao số lượng vụ việc hòa giải thành, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý, đặc biệt là các vụ tranh chấp đất đai trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, tại chỉ tiêu 3 tiêu chí 3 Phụ lục I Thông tư số 15/2025/TT-BTP ngày 11/9/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định về xã, phường, đặc khu đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Thông tư số 15/2025/TT-BTP), có hiệu lực ngày 01/01/2026, ghi nhận nội dung tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật là huy động ít nhất một trong các đội ngũ tham gia làm hòa giải viên ở cơ sở, có đội ngũ là trợ giúp viên pháp lý. Tuy nhiên, khi xét quy định về tiêu chuẩn của hòa giải viên ở cơ sở tại Điều 7 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 thì không phù hợp với trợ giúp viên pháp lý, vì hòa giải viên ở cơ sở phải là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, có uy tín trong cộng đồng dân cư.
Thứ ba, hạn chế về diện người được trợ giúp pháp lý là người dân tộc thiểu số. Theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, diện đối tượng người dân tộc thiểu số được trợ giúp pháp lý chỉ gồm người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, trong quá trình tiếp công dân, tiếp nhận hồ sơ yêu cầu trợ giúp pháp lý tại đơn vị, có nhiều trường hợp người dân tộc thiểu số thuộc hộ cận nghèo có yêu cầu trợ giúp pháp lý, nhưng không thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định hiện hành. Ví dụ: trong vụ án “Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ”, bị can A là người gây ra tai nạn, anh B là bị hại đã chết, chị C là vợ của anh B (với tư cách tham gia tố tụng là người đại diện hợp pháp của anh B trong vụ án), bị can A và chị C đều là người dân tộc thiểu số, bị can A cư trú ở ấp có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chị B là thuộc hộ cận nghèo. Trong giai đoạn điều tra, bị can A và chị C đều yêu cầu Trung tâm cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Tuy nhiên, Trung tâm chỉ ra quyết định cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can A do thuộc diện được trợ giúp pháp lý, chị C tuy là người dân tộc thiểu số, bản thân có khó khăn về tài chính, quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng do hành vi của bị can A gây ra, nhưng không thuộc diện được trợ giúp pháp lý, dẫn đến Trung tâm không thể cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị C trong vụ án trên.
4. Một số kiến nghị, giải pháp
4.1. Hoàn thiện quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý
Một là, bổ sung quy định về kinh phí đào tạo nguồn trợ giúp viên pháp lý. Trong các nguồn nhân lực thực hiện công tác trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số thì đội ngũ trợ giúp viên pháp lý đóng vai trò quan trọng, trợ giúp viên pháp lý là người trực tiếp thực hiện trợ giúp pháp lý như tham gia tư vấn pháp luật, bào chữa, bảo vệ cho người dân tộc thiểu số thuộc diện được trợ giúp pháp lý trong các vụ việc dân sự, vụ án hình sự, hành chính, đồng thời, họ còn tham gia tích cực vào công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật qua các cuộc truyền thông về trợ giúp pháp lý ở cơ sở nên họ cần phải có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, nghiệp vụ. Vì vậy, việc chi hỗ trợ học phí lớp đào tạo nghề luật sư cho viên chức tại các Trung tâm là rất cần thiết để tạo nguồn trợ giúp viên pháp lý, nhằm củng cố nguồn nhân lực thực hiện công tác trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số. Nghiên cứu đề xuất bổ sung điểm g khoản 4 Điều 3 Thông tư số 59/2020/TT-BTC theo hướng:
“4. Các khoản chi liên quan đến nghiệp vụ trợ giúp pháp lý:
g) Chi tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng trợ giúp pháp lý đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý; chi hỗ trợ học phí cho viên chức tại các địa phương có vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đủ điều kiện tham gia khóa đào tạo nghề luật sư”.
Hai là, bổ sung cơ chế, chính sách để các trợ giúp viên pháp lý tham gia công tác hòa giải ở cơ sở tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Để thực hiện hiệu quả Công văn số 2964/BTP-PB&TG ngày 28/5/2025 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; trợ giúp pháp lý; hòa giải ở cơ sở; chuẩn tiếp cận pháp luật; hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và Thông tư số 15/2025/TT-BTP, cần có cơ chế thu hút đội ngũ trợ giúp viên pháp lý tham gia vào công tác hòa giải ở cơ sở, tận dụng kinh nghiệm và kiến thức pháp luật của họ để nâng cao chất lượng hòa giải. Cần sửa đổi, bổ sung Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 theo hướng ngoài việc quy định chung về các tiêu chuẩn để người có uy tín trong thôn, tổ dân phố tham gia làm hòa giải viên, cần xây dựng tiêu chuẩn, điều kiện riêng cho các trợ giúp viên pháp lý được công nhận hòa giải viên ở cơ sở, cho phép họ tham gia hòa giải các tranh chấp tại các ấp, khóm vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời, có chính sách thù lao hoặc phụ cấp đặc thù khi trợ giúp viên pháp lý là hòa giải viên ở cơ sở.
Ba là, mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý là người dân tộc thiểu số. Nhằm thể chế hóa quy định tại tiểu mục 7 Mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới về việc mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý, phù hợp với điều kiện của đất nước, cần bổ sung, ghi nhận người dân tộc thiểu số thuộc hộ cận nghèo thuộc diện được trợ giúp pháp lý tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, cụ thể:
“Điều 7. Người được trợ giúp pháp lý
4a. Người dân tộc thiểu số thuộc hộ cận nghèo”.
Đồng thời, khoản 1 Điều 18 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 127/2024/NĐ-CP ngày 10/10/2024, cần sửa đổi, bổ sung để tạo sự đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng:
“Điều 18. Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý
1. Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc thuộc hộ cận nghèo được hưởng các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật”.
4.2. Nâng cao nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của công tác trợ giúp pháp lý
Cần tăng cường truyền thông về trợ giúp pháp lý trên địa bàn các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn qua các hình thức như: tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề phổ biến pháp luật, các phiên tòa giả định, xây dựng các chương trình phát thanh về các lĩnh vực pháp luật bằng tiếng Việt và tiếng Khmer. Khi tiến hành các hoạt động nêu trên, cần khảo sát trước về nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người dân, các tranh chấp phổ biến trên địa bàn nhằm định hướng việc xây dựng kế hoạch truyền thông. Ngoài ra, cần thường xuyên tổ chức hội nghị tập huấn pháp luật cho Trưởng ấp, khóm, cán bộ cơ sở, hòa giải viên ở cơ sở, bởi đây là lực lượng thường trực, gần gũi, có uy tín với người dân trên địa bàn, có hiệu quả trong việc tuyên truyền về chính sách trợ giúp pháp lý.
4.3. Củng cố nguồn nhân lực gắn với đào tạo, bồi dưỡng
Quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng về nâng cao vai trò, tính chuyên nghiệp và chất lượng trợ giúp pháp lý, nhất là trong hoạt động tố tụng tư pháp tại Nghị quyết số 27-NQ/TW. Hằng năm, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp phối hợp với Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố tổ chức các hội nghị tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện trợ giúp pháp lý[16] giúp họ nắm vững kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ, các quy định mới của pháp luật trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính… Thời gian tới, cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện trợ giúp pháp lý, đội ngũ hỗ trợ nghiệp vụ; tập huấn cho viên chức các Trung tâm về chuyển đổi số trong việc cải cách thủ tục hành chính bằng nhiều hình thức khác nhau, góp phần nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý, bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý.
4.4. Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
Để đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý, cần thực hiện nghiêm túc công tác đánh giá hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng. Trong quá trình đánh giá, hồ sơ tham gia tố tụng của người thực hiện trợ giúp pháp lý phải được xem xét toàn diện, bảo đảm khách quan, chính xác, công bằng. Từ đó, có kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý và có giải pháp bảo đảm, nâng cao hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý.
Kết luận
Trợ giúp pháp lý là một trong những chính sách dân tộc, khẳng định cam kết của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền tiếp cận công lý cho đồng bào dân tộc thiểu số. Để thực hiện hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số, đòi hỏi các nguồn lực thực hiện công tác này phải được tăng cường, từ việc hoàn thiện thể chế, nâng cao nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của công tác trợ giúp pháp lý, đến việc củng cố, kiện toàn nguồn nhân lực gắn với đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao và đánh giá chất lượng. Việc tăng cường toàn diện các nguồn lực thực hiện công tác trợ giúp pháp lý bảo đảm đồng bào dân tộc thiểu số được thụ hưởng dịch vụ pháp lý có chất lượng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh./.
Nguyễn Hoàng Duy
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long
Ảnh: Internet
[1]. Tiểu mục 2 Mục III Nghị quyết số 66-NQ/TW.
[2]. PGS.TS. Đoàn Minh Huấn (2022), Nguồn lực và động lực cho thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện thích ứng an toàn - Nhìn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/nguon-luc-va-dong-luc-cho-thuc-day-phuc-hoi-va-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-trong-dieu-kien-thich-ung-an-toan-nhin-tu-thuc-tien-tinh-quang-ninh, truy cập ngày 12/8/2025.
[3]. Viện Ngôn ngữ học (1998), Từ điển tiếng Việt, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 900.
[4]. Điều 19 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định: “Công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý: 1. Có phẩm chất đạo đức tốt; 2. Có trình độ cử nhân luật trở lên; 3. Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý; 4. Có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý; 5. Không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật”.
[5]. Xem thêm: Điều 40 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Điều 1 Thông tư số 09/2025/TT-BTP ngày 16/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu trong lĩnh vực tư pháp và khoản 1 Điều 1 Quyết định số 672/QĐ-BTP ngày 26/02/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý.
[6]. Khoản 1 và khoản 2 Điều 5 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
[7]. Điều 3 Thông tư số 59/2020/TT-BTC ngày 18/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động trợ giúp pháp lý.
[8]. Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
[9]. Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh (2025), Kỷ yếu ngành Tư pháp tỉnh Trà Vinh 80 năm xây dựng và phát triển, tr. 53.
[10]. Khoản 20 Điều 1 Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
[11]. Quyết định số 166/2025/QĐ-UBND ngày 28/10/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long.
[12]. Báo cáo số 135/BC-TGPL ngày 22/4/2025 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Trà Vinh (trước khi sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh) về tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư (khóa XI) về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạt động trợ giúp pháp lý.
[13]. Từ năm 2021 đến tháng 10/2025, Trung tâm đã cử người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng 775 vụ việc và tư vấn lập hồ sơ 32 vụ việc cho đối tượng là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
[14]. Trên địa bàn các xã Trung tâm phụ trách, hiện, còn 58 ấp vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, cụ thể: các ấp Nguyệt Lãng A, Nguyệt Lãng B, xã Bình Phú; ấp II, xã Phong Thạnh; các ấp Phú Mỹ, Hương Phụ A, Hương Phụ B, Thanh Trì A, Thanh Trì B, xã Châu Thành; các ấp Quy Nông B, Đa Hòa, Ô Kà Đa, xã Hưng Mỹ; ấp Trà Nóc, xã Song Lộc; ấp Ba Trạch B, xã Long Hiệp; ấp Sóc Tro Dưới, xã Lưu Nghiệp Anh; các ấp Sóc Chà B, Giồng Ông Thìn, Xoài Thum, Xoài Xiêm, Giồng Tranh, xã Trà Cú; các ấp Trà Cú C, Trà Tro B, Trà Tro C, xã Hàm Giang; ấp Giữa, xã Vinh Kim; các ấp Giồng Thành, Chông Bát, Nô Lựa A, Nô Lựa B, Căn Nom, Giồng Chanh, Chông Văn, Cós Xoài, Giồng Dầy, xã Nhị Trường; ấp Thủy Hòa, xã Cầu Ngang; các ấp Sơn Lang, Sóc Giụp, Bào Mốt, Ô Răng, xã Hiệp Mỹ; các ấp La Bang Chùa, Tà Rom A, Tà Rom B, Bà Nhì, Ba Sát, Bào Môn, Mồ Côi, Cây Da, Lộ Sỏi B, Xóm Tộ, Bà Giam A, Bà Giam B, xã Đôn Châu; các ấp Cây Xoài, Sóc Ớt, Bổn Thanh, Thốt Lốt, Rọ Say, Lạc Hòa, Cầu Vĩ, Lạc Thạnh A, Lạc Sơn, xã Ngũ Lạc.
[15]. Từ năm 2021 đến tháng 10/2025, Trung tâm đã tổ chức được 34 phiên tòa giả định tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
[16]. Trong 06 tháng đầu năm 2025, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý đã phối hợp với Sở Tư pháp các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, An Giang (trước sáp nhập) tổ chức tập huấn chuyên đề kỹ năng trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng yếu thế trong lĩnh vực tố tụng hình sự và tố tụng dân sự tại tỉnh Vĩnh Long (trước sáp nhập).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bích Phương (2025), Phát huy vai trò nòng cốt của trợ giúp viên pháp lý, https://baochinhphu.vn/phat-huy-vai-tro-nong-cot-cua-tro-giup-vien-phap-ly-10225093012045578.htm, truy cập ngày 20/8/2025.
2. Hoàng Chí Bảo (2020), Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Một thông điệp về đoàn kết, yêu nước, tranh đấu cho tự do, độc lập, https://www.quanlynhanuoc.vn/2020/12/03/thu-gui-dai-hoi-cac-dan-toc-thieu-so-mien-nam-tai-play-cu-cua-chu-tich-ho-chi-minh-mot-thong-diep-ve-doan-ket-yeu-nuoc-tranh-dau-cho-tu-do-doc-lap/, truy cập ngày 20/8/2025.
3. PGS.TS. Đoàn Minh Huấn (2022), Nguồn lực và động lực cho thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện thích ứng an toàn - Nhìn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/nguon-luc-va-dong-luc-cho-thuc-day-phuc-hoi-va-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-trong-dieu-kien-thich-ung-an-toan-nhin-tu-thuc-tien-tinh-quang-ninh, truy cập ngày 20/8/2025.
4. Phạm Quang Đại (2025), Hoàn thiện chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý trong kỷ nguyên mới, https://danchuphapluat.vn/hoan-thien-chinh-sach-phap-luat-ve-tro-giup-phap-ly-trong-ky-nguyen-moi-6875.html, truy cập ngày 20/8/2025.
5. Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh (2025), Kỷ yếu ngành Tư pháp tỉnh Trà Vinh 80 năm xây dựng và phát triển.
6. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2021), Năng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở, Nxb. Tư pháp.
(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý” năm 2025)