Đặt vấn đề
Trợ giúp pháp lý là hoạt động có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tạo điều kiện cho người dân sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Kể từ khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được ban hành, nạn nhân bị bạo lực gia đình được xác định là một trong 08 nhóm đối tượng có khó khăn về tài chính được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí, thông qua 03 hình thức: tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng. Những nạn nhân không thuộc nhóm khó khăn về tài chính vẫn được trợ giúp pháp lý nếu thuộc diện được hỗ trợ khác theo quy định. Khi vụ việc được thụ lý, họ được tư vấn trong môi trường an toàn, không bị định kiến hay gây tổn thương, được giải thích quyền, nghĩa vụ và đặc biệt được bảo đảm bí mật thông tin.
Thực tiễn triển khai công tác trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình, ngoài những kết quả đạt được cho thấy, còn tồn tại một số bất cập. Các báo cáo hiện chỉ thống kê chung về hoạt động trợ giúp pháp lý, chưa phản ánh kết quả hỗ trợ đối với nạn nhân bị bạo lực gia đình hay các trường hợp tái diễn bạo lực. Số liệu người gây bạo lực bị xử lý không đồng nghĩa với hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân - một đặc thù khác biệt so với các nhóm đối tượng khác. Trên thực tế, phần lớn nạn nhân vẫn tiếp tục chung sống với người gây bạo lực, kể cả sau khi chấp hành xong án phạt, dẫn đến nguy cơ tái diễn bạo lực, để lại hậu quả nặng nề hơn, kể cả bạo lực ngược.
Bản chất của trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình là hoạt động giữa con người với con người, hướng đến sự thay đổi bền vững trong quan hệ gia đình, nên nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý đối với nhóm đối tượng này cần tập trung vào cả yếu tố con người và hệ thống thể chế, thiết chế hỗ trợ. Từ thực tiễn trên, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân.
1. Bổ sung, sửa đổi các quy định pháp luật về đo lường chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý nói chung, xây dựng tiêu chí đo lường đối với hoạt động trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình
Về mặt lý luận, hiệu quả của bất kỳ hoạt động nào cũng cần được đánh giá, nhìn nhận bằng các chỉ tiêu, chỉ số cụ thể, có thể ở dạng định lượng hoặc định tính tùy theo lĩnh vực.
Tại Việt Nam, liên quan đến bạo lực gia đình, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 ban hành kèm theo Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ chỉ xác định chỉ tiêu đo lường tỉ lệ người được tiếp cận dịch vụ và tư vấn, tham vấn, chưa xác định sự thay đổi ở góc độ chất lượng và hiệu quả. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn chỉ xác định đối tượng, không có chỉ tiêu, chỉ số về kết quả, hiệu quả trợ giúp nạn nhân bị bạo lực gia đình. Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý xác định tiêu chí đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý tập trung chủ yếu vào vai trò, trách nhiệm của trợ giúp viên pháp lý, có duy nhất 01 chỉ tiêu về sự hài lòng của người được trợ giúp pháp lý với trọng số 10/100 điểm đánh giá.
Do vậy, khó có thể đánh giá được hiệu quả thực tế vì không chỉ là sự hài lòng của người được trợ giúp pháp lý với dịch vụ, mà còn liên quan đến tính bền vững sau khi được trợ giúp pháp lý. Mặt khác, do các đối tượng được trợ giúp pháp lý có đặc điểm khác nhau nên không thể “cào bằng” tiêu chí đánh giá với tất cả đối tượng. Điều này thể hiện rõ qua đánh giá của Cục Trợ giúp pháp lý (nay là Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý), Bộ Tư pháp giai đoạn 2016 đến tháng 05/2019. Khi đó, chủ yếu đánh giá hoạt động trợ giúp pháp lý thông qua kết quả được thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ nhân sự tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, am hiểu pháp luật và nhạy cảm với các vấn đề của phụ nữ, trẻ em. Chỉ duy nhất một thông tin định lượng là các địa phương đã trợ giúp cho 736 nạn nhân bị bạo lực gia đình có khó khăn về tài chính trong tổng số 513.184 người được trợ giúp pháp lý[1]. Số liệu này rất quan trọng để đo lường chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, nhưng không rõ tỉ lệ này chiếm 100% đối tượng hay là một phần nhỏ nạn nhân bị bạo lực gia đình được trợ giúp pháp lý, gây khó khăn cho việc đưa ra giải pháp tốt hơn cho hoạt động các năm tiếp theo[2].
Vì thế, việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về đo lường chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý nói chung và nạn nhân bị bạo lực gia đình nói riêng là cần thiết. Do đó, nên bổ sung trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định về nguyên tắc: “bảo đảm đo lường, đánh giá chất lượng và hiệu hoạt động trợ giúp pháp lý đối với từng nhóm đối tượng được trợ giúp” và quy định về tiêu chí đo lường, đánh giá chất lượng và hiệu hoạt động trợ giúp pháp lý. Đồng thời, trong nghị định của Chính phủ và thông tư của Bộ Tư pháp cần cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá chất lượng đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý về số lượng vụ việc được trợ giúp pháp lý và kết quả đạt được của vụ việc đó; các tiêu chí đánh giá hiệu quả trợ giúp pháp lý đối với nạn nhân bị bạo lực gia đình gồm: (i) về sự hài lòng của nạn nhân đối với dịch vụ trợ giúp pháp lý; (ii) về sự bền vững sau trợ giúp của nạn nhân, thể hiện ở tình trạng bạo lực không bị tái diễn trong phạm vi thời gian cụ thể (03 tháng, 06 tháng và 01 năm); (iii) kết quả tích cực khác như nạn nhân trở thành người truyền cảm hứng tốt cho những người khác phòng ngừa bạo lực gia đình hoặc người có hành vi bạo lực gia đình nhận ra, điều chỉnh và thay đổi hành động để không tiếp tục bạo lực đối với nạn nhân hay sự thay đổi mối quan hệ giữa các bên theo chiều hướng tốt hơn.
2. Mở rộng phạm vi nạn nhân bị bạo lực gia đình được trợ giúp pháp lý
Xuất phát từ tính chất của vụ việc bạo lực gia đình và mối quan hệ nhân thân giữa các bên, cần mở rộng phạm vi nạn nhân bị bạo lực gia đình được trợ giúp pháp lý theo hướng: không chỉ nạn nhân có khó khăn về tài chính hoặc nạn nhân thuộc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý mới được trợ giúp pháp lý, mà nên mở rộng đối với tất cả các nạn nhân bị bạo lực gia đình, không phân biệt về mức độ tài chính gia đình và không bị giới hạn bởi các đối tượng trợ giúp pháp lý miễn phí. Việc mở rộng này có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, phù hợp với đặc thù mối quan hệ giữa các bên và phù hợp với thực tế số lượng nạn nhân bị bạo lực gia đình. Thống kê cho thấy, sự mất cân đối nghiêm trọng giữa số lượng nạn nhân bị bạo lực gia đình và số lượng người được trợ giúp pháp lý: giai đoạn từ năm 2013 - 2018 có 62.866 nạn nhân (năm 2013 có 13.172 người; năm 2015 có 13.752 người; năm 2016 có 16.962 người; 6 tháng đầu năm 2017 có 9.698 người và năm 2018 có 9.462 người)[3] nhưng giai đoạn từ năm 2016 - tháng 05/2019, các địa phương chỉ trợ giúp pháp lý cho 736 nạn nhân bạo lực gia đình có khó khăn về tài chính. Tức là, số lượng nạn nhân được trợ giúp pháp lý chiếm khoảng 1.17% so với tổng số nạn nhân được ghi nhận trong giai đoạn tương đương[4].
Giai đoạn từ năm 2021 - 2025, theo thống kê, tình trạng bạo lực gia đình và mức độ nguy hiểm của hành vi có xu hướng giảm, nhưng vẫn tồn tại 8.375 nạn nhân năm 2021, 2022; năm 2023 có 3.122 hộ gia đình xảy ra bạo lực với 4.454 vụ; năm 2024 có 2.194 hộ gia đình xảy ra bạo lực với 2.303 vụ, trong đó có 87,6% nạn nhân là phụ nữ. Các hình thức xử lý người có hành vi bạo lực chủ yếu là góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư (1.976/2.256 người, chiếm 76,56%); 3,54% bị cấm tiếp xúc; 5,49% áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; 9,45% bị xử phạt hành chính và 4,96% bị xử lý hình sự. Số liệu này là minh chứng cho việc cần thiết phải mở rộng phạm vi nạn nhân bị bạo lực gia đình được trợ giúp pháp lý[5].
Xuất phát từ mối quan hệ đặc biệt giữa nạn nhân và người có hành vi bạo lực gia đình, dù pháp luật có xử lý ở mức độ nào thì trừ trường hợp ly hôn, nạn nhân và người có hành vi bạo lực vẫn tiếp tục chung sống. Theo đó, kết quả hoạt động trợ giúp pháp lý đối với nạn nhân bị bạo lực gia đình không nên chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ giải quyết tình trạng bị bạo lực và số lượng người được trợ giúp hoặc hình thức người có hành vi bạo lực đã bị xử phạt hành chính, xử lý hình sự… mà cần mở rộng về nội dung để hướng tới mục tiêu bền vững như: cung cấp kiến thức pháp lý mở rộng, các kỹ năng mềm, kỹ năng sống và các phương pháp ứng xử giúp nạn nhân bị bạo lực gia đình hiểu sâu sắc hơn và áp dụng được sau vụ việc để thiết lập mối quan hệ với người có hành vi bạo lực và những người thân khác theo hướng tốt hơn và có khả năng phòng tránh bền vững, không tái diễn bạo lực.
3. Tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tiếp xúc và làm việc với nạn nhân bị bạo lực gia đình cho đội ngũ làm công tác trợ giúp pháp lý
Để nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý, việc đầu tư vào yếu tố con người, cụ thể là người thực hiện trợ giúp pháp lý là cốt lõi. Nạn nhân bị bạo lực gia đình là nhóm đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương, chịu tổn hại về thể chất và tâm lý do hành vi bạo lực, nếu người trợ giúp pháp lý thiếu kỹ năng, không có sự thấu hiểu sâu sắc, có thể dẫn đến nguy cơ tổn hại kép trong và sau quá trình hỗ trợ. Do đó, cần đặc biệt quan tâm đến kỹ năng mềm, kỹ năng sống và tư duy không định kiến cho đội ngũ trợ giúp pháp lý.
Năm 2020, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Liên minh châu Âu và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) biên soạn và ban hành tài liệu tập huấn kỹ năng trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình. Tài liệu này cần được rà soát, điều chỉnh, bổ sung kịp thời để phù hợp với sự thay đổi của pháp luật liên quan và những đòi hỏi chuẩn kỹ năng đối với từng nhóm phạm vi trợ giúp pháp lý. Trong đó, cần bảo đảm:
Thứ nhất, xây dựng quy trình tiếp xúc, làm việc rõ ràng với nạn nhân bị bạo lực gia đình, đặc biệt ở giai đoạn tiếp xúc ban đầu, bởi đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định mức độ hiệu quả trợ giúp pháp lý. Mục đích của giai đoạn này không chỉ để thu thập thông tin, mà quan trọng để thiết lập lòng tin và sự hy vọng từ nạn nhân. Theo đó, người thực hiện trợ giúp pháp lý cần tạo không khí giao tiếp thân thiện, tin tưởng, không có rào cản, trên tinh thần bạn với bạn; thiết lập cách thăm dò tâm lý, tình cảm của nạn nhân mang tính khách quan, khuyến khích; động viên nạn nhân tự trình bày vấn đề và lắng nghe, phản hồi tích cực những chia sẻ của nạn nhân.
Thứ hai, hướng dẫn cụ thể, rõ ràng về yêu cầu “đồng cảm, thấu hiểu” của người trợ giúp pháp lý với nạn nhân bị bạo lực gia đình, không chỉ là việc không phán xét hay đặt mình vào vị thế của nạn nhân, mà phải được cụ thể hóa thành các kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ và tâm lý. Người trợ giúp pháp lý cần rèn luyện kỹ năng lắng nghe bằng tai, mắt, đầu, khuôn mặt, bằng trái tim và đôi bàn tay. Trong đó, dùng tai để nghe nạn nhân nói, dùng mắt để giao tiếp với nạn nhân, dùng đầu để suy nghĩ, chuẩn bị thông tin trao đổi, phản hồi và phát hiện vấn đề, dùng khuôn mặt để thể hiện cảm xúc, dùng trái tim để thấu hiểu cung bậc cảm xúc và dùng bàn tay để ghi chép, đánh dấu thông tin. Đồng thời, người trợ giúp pháp lý cần biết và hiểu sâu sắc quy luật giao tiếp hiệu quả với 07% ngôn từ, 38% âm lượng, ngữ điệu của giọng nói và 55% cử chỉ, điệu bộ, nét mặt. Từ đó, có sự thấu hiểu những phản ứng thiếu nhất quán, tiêu cực của nạn nhân khiến họ có thể rơi vào tình trạng tâm lý im lặng, dè dặt, miễn cưỡng trả lời hoặc phủ nhận, giảm mức độ bị bạo lực thực tế hoặc nổi giận, sợ hãi… Ngoài ra, thấu hiểu, đồng cảm cũng làm cho người trợ giúp pháp lý tìm được phương pháp tốt nhất để hỗ trợ nạn nhân trấn tĩnh, có thể bằng chính kiểu hành vi nạn nhân đã và đang hành động (trừ trường hợp nguy hiểm) hoặc có thể khuyến khích nạn nhân khóc để giải tỏa tâm lý trước khi sẵn sàng nói về vấn đề của bản thân. Bên cạnh đó, người trợ giúp pháp lý cần rèn luyện phương pháp an ủi, động viên, tránh từ ngữ, thái độ động chạm đến những trải nghiệm không tốt đẹp khiến nạn nhân tiếp tục bị tổn thương.
Thứ ba, mở rộng phạm vi “tư vấn pháp luật” không chỉ tập trung vào những vấn đề để giải quyết tình trạng bạo lực, mà còn hướng đến việc hỗ trợ nạn nhân biết phòng, tránh bạo lực có thể tiếp tục xảy ra. Điều này đòi hỏi trợ giúp pháp lý phải bảo đảm hiệu quả ở cả ba giai đoạn: trước, trong và sau khi giải quyết tình trạng bạo lực của nạn nhân bằng pháp luật. Vì thế, quá trình tư vấn pháp luật phải kết hợp giữa quyền, nghĩa vụ pháp lý với các kỹ năng mềm, kỹ năng sống phù hợp với từng loại bạo lực (thể chất, tinh thần, kinh tế, tình dục) và mức độ thực tế của hành vi.
Thứ tư, cần bổ sung kiến thức, phương pháp hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình sau trợ giúp pháp lý để họ thật sự trở lại cuộc sống ổn định, không bạo lực, đồng thời, đóng vai trò là cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả bền vững của hoạt động trợ giúp pháp lý.
4. Nghiên cứu bổ sung sự tham gia của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp pháp lý
Nhân viên công tác xã hội có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thân chủ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình. Do đó, ngoài việc công nhận công tác xã hội là một nghề, nhiều quốc gia[6] đã ban hành luật với tên gọi khác nhau, nhưng đều nhấn mạnh vai trò của nhân viên công tác xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp. Mặc dù, Việt Nam chưa có luật về công tác xã hội, tuy nhiên, nghề công tác xã hội đã được công nhận lần đầu vào năm 2010 trong Quyết định số 32/2010/QĐ-TTG ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020.
Do đó, việc bổ sung sự tham gia của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình giúp hoạt động được tiến hành thuận lợi và cũng là cơ hội bảo đảm để nạn nhân tránh tổn thương khi tiếp xúc và làm việc. Nói cách khác, nhân viên công tác xã hội cần được Nhà nước công nhận trở thành chủ thể bổ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình ở tất cả các hình thức trợ giúp pháp lý. Nhân viên công tác xã hội sẽ giúp người trợ giúp pháp lý hiểu rõ hơn các khía cạnh xã hội của nạn nhân để phối hợp hiệu quả hơn với đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và luật sư.
5. Nghiên cứu mở rộng mô hình câu lạc bộ trợ giúp pháp lý trong cộng đồng cho nạn nhân bị bạo lực gia đình
Việc nghiên cứu mở rộng mô hình câu lạc bộ trợ giúp pháp lý trong cộng đồng cho nạn nhân bị bạo lực gia đình là giải pháp thiết thực nhằm đáp ứng đặc thù mối quan hệ giữa nạn nhân và người gây bạo lực (tiếp tục chung sống sau vụ việc bạo lực). Mô hình này không chỉ giúp tương tác với nạn nhân và người có hành vi bạo lực gia đình đã được trợ giúp pháp lý, mà còn là cầu nối quan trọng để tiếp cận người dân ở vùng sâu, vùng xa, khi không có điều kiện đến các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước.
Thống kê cho thấy, giai đoạn năm 2011 - 2019, có tổng số 169.946 lượt nạn nhân bị bạo lực gia đình được tư vấn về pháp lý (giai đoạn 2011 - 2015 có 120.452 lượt, năm 2016 có 18.104 lượt, năm 2017 có 14.972 lượt, năm 2018 có 8.580 lượt và năm 2019 có 7.838 lượt[7]). Tuy nhiên, như số liệu tại phần 2, từ năm 2016 - tháng 5/2019 chỉ có 736 nạn nhân được trợ giúp pháp lý[8], chứng tỏ phần lớn nạn nhân bị bạo lực gia đình đã được tư vấn pháp lý ở nhiều mô hình khác.
Mô hình câu lạc bộ trợ giúp pháp lý trong cộng đồng về bản chất không mới, vốn đã tồn tại trong cộng đồng với nhiều tên gọi khác nhau, nhưng chưa được công nhận. Trường hợp được Nhà nước công nhận, cần có quy định cụ thể về yêu cầu tiêu chuẩn, điều kiện của người tham gia để bảo đảm chất lượng và hiệu quả hoạt động trên thực tế. Đồng thời, nên tập trung bồi dưỡng đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở, phát triển thành đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý, chỉ thực hiện vai trò tư vấn pháp luật, giải đáp những vấn đề không quá phức tạp của người dân.
6. Ứng dụng công nghệ số trong hoạt động trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình
Trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, việc tối ưu hóa ứng dụng công nghệ là giải pháp then chốt nhằm vượt qua các rào cản về địa lý và tâm lý trong việc tiếp cận trợ giúp pháp lý của nạn nhân bị bạo lực gia đình. Mặc dù, các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý đã và đang thí điểm đường dây nóng trợ giúp pháp lý và ứng dụng trợ giúp pháp lý trên điện thoại di động để giúp đối tượng trợ giúp pháp lý nói chung và nạn nhân bị bạo lực gia đình nói riêng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghệ số phát triển, cần nghiên cứu sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình thiết thực hơn trong cả ba giai đoạn trước, trong và sau trợ giúp pháp lý, tập trung tư vấn trực tuyến, cung cấp dịch vụ thông tin pháp lý nhanh chóng, hỗ trợ thu thập chứng cứ an toàn, bí mật; kết nối nhanh với cộng đồng, qua đó, nâng cao ý thức xã hội trong việc phát hiện, báo tin về tình trạng bạo lực gia đình và học hỏi biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình. Đặc biệt, ứng dụng các công cụ trực tuyến kết nối nạn nhân sau xử lý vụ việc để tiếp tục hỗ trợ duy trì tình trạng không tiếp diễn bạo lực gia đình.
7. Kết nối sau trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bị bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình được ví như là một “cơn sóng ngầm”, luôn tiềm ẩn nguy cơ tái diễn nếu các thành viên không quan tâm đến sự hài hòa, hợp lý của cá nhân trong mối tương quan chung với các thành viên khác. Khi bạo lực gia đình đã xảy ra, cần có trợ giúp pháp lý cho nạn nhân để bảo vệ bảo đảm quyền và cơ hội được giải quyết thỏa đáng tình trạng thực tế.
Theo cách tiếp cận nghiên cứu của các chuyên gia về phòng, chống bạo lực gia đình, khi bạo lực đã xuất hiện lần đầu thì khả năng tái diễn rất cao. Do đó, sau khi vụ việc bạo lực gia đình đã được giải quyết bằng pháp luật, hoạt động trợ giúp pháp lý cần được kéo dài với các hoạt động tư vấn pháp luật kết hợp kỹ năng mềm, kỹ năng sống trong cộng đồng để nạn nhân thật sự thoát khỏi tình trạng bạo lực. Điều này đòi hỏi hoạt động trợ giúp pháp lý đối với nạn nhân bị bạo lực gia đình cần được thực hiện theo cơ chế mở, liên thông và kết nối hiệu quả hơn với các thiết chế cộng đồng.
Kết luận
Hoạt động trợ giúp pháp lý thực tế đã quan tâm đến nạn nhân bị bạo lực gia đình. Các cơ quan có thẩm quyền đã có hướng dẫn riêng về kỹ năng để thực hiện trong quá trình trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, thực tế chứng minh, dù mang giới tính nào, nạn nhân bị bạo lực gia đình cũng bị tổn thương nghiêm trọng về tinh thần và khả năng duy trì bền vững quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, cũng như khả năng phòng tránh tái diễn bị bạo lực. Theo đó, hoạt động trợ giúp pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng toàn diện hơn, bảo đảm người thực hiện trợ giúp pháp lý có năng lực tốt hơn, có nhạy cảm và trách nhiệm giới và cần có thêm hệ thống thiết chế mềm hỗ trợ nạn nhân để bảo đảm hiệu quả, góp phần chống tái diễn bạo lực, trả lại cuộc sống bình thường cho nạn nhân thông qua trách nhiệm của người bạo lực và trách nhiệm của chính họ./.
Hà Thị Thanh Vân
Phó Giám đốc Học viện Phụ nữ Việt Nam
(Ảnh: Internet)
[1]. Trần Nguyên Tú, Pháp luật và thực tiễn trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực gia đình và trẻ em bị bạo lực giới, phân biệt đối xử, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=42&l=NghiencuuveTGPL, truy cập ngày 16/11/2025.
[2]. Trần Nguyên Tú, ttđd.
[3]. Báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới của Chính phủ số 106/BC-CP ngày 24/4/2014; Báo cáo số 76/BC-CP ngày 16/3/2016; Báo cáo số 151/BC-CP ngày 25/4/2017; Báo cáo số 454/BC-CP ngày 17/10/2018 và Báo cáo số 85/BC-CP ngày 25/3/2019.
[4]. Trần Nguyên Tú,
[5]. Báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới của Chính phủ số 275/BC-CP ngày 15/8/2022; Báo cáo số 75/BC-CP ngày 01/3/2024 và Báo cáo số 102/BC-CP ngày 15/02/2025.
[6]. Ví dụ: Indonesia, Thái Lan, Philippines, New Zealand.
[7]. Báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới của Chính phủ số 106/BC-CP ngày 24/4/2014; Báo cáo số 76/BC-CP ngày 16/3/2016; Báo cáo số 151/BC-CP ngày 25/4/2017; Báo cáo số 454/BC-CP ngày 17/10/2018 và Báo cáo số 85/BC-CP ngày 25/3/2019.
[8]. Trần Nguyên Tú, tlđd.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Nguyên Tú, Pháp luật và thực tiễn trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực gia đình và trẻ em bị bạo lực giới, phân biệt đối xử, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=42&l=NghiencuuveTGPL, truy cập ngày 16/11/2025.
2. Chính phủ (2021), Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030.
3. Bộ Tư pháp (2018), Thông tư số 18/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý.
(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý” năm 2025)