Đặt vấn đề
Dưới tác động sâu, rộng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các quốc gia đang chuyển mình mạnh mẽ sang mô hình phát triển dựa trên công nghệ số, nền tảng trực tuyến và trí tuệ nhân tạo, đồng thời, đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Điều này đòi hỏi sự thích ứng và chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, gồm cả lĩnh vực pháp luật nói chung và trợ giúp pháp lý nói riêng. Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý. Tuy vậy, quá trình chuyển đổi số còn ở giai đoạn đầu, bộc lộ không ít khó khăn về hạ tầng, nhân lực, dữ liệu và cơ chế phối hợp. Điều này đặt ra yêu cầu nghiên cứu, đánh giá toàn diện để xác định giải pháp phù hợp, bảo đảm hoạt động trợ giúp pháp lý bắt kịp tiến trình chuyển đổi số quốc gia và phục vụ người dân ngày càng tốt hơn.
1. Khái quát về ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý
1.1. Khái niệm công nghệ số, nền tảng trực tuyến và trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025, công nghệ số là tập hợp các phương pháp khoa học, quy trình công nghệ, công cụ kỹ thuật để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ, trao đổi thông tin, dữ liệu số và số hóa thế giới thực. Công nghệ số trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý được hiểu là việc sử dụng các công cụ, thiết bị, phần mềm và hệ thống điện tử để quản lý, xử lý và chia sẻ thông tin liên quan đến người được trợ giúp pháp lý, vụ việc trợ giúp pháp lý, tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý. Việc ứng dụng công nghệ số giúp các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, chi nhánh, các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý và cộng tác viên trợ giúp pháp lý thực hiện quy trình nghiệp vụ trợ giúp pháp lý nhanh chóng, chính xác và minh bạch hơn, từ khâu tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý, xử lý hồ sơ yêu cầu, theo dõi tiến độ đến tổng hợp, báo cáo kết quả vụ việc. Đồng thời, công nghệ số còn giúp người dân, đặc biệt là người thuộc diện yếu thế ở vùng sâu, vùng xa được tiếp cận và sử dụng dịch vụ trợ giúp pháp lý thuận tiện và kịp thời hơn, khắc phục rào cản về địa lý và giảm thiểu chi phí đi lại.
Nền tảng trực tuyến (Online Platform) là các nền tảng cung cấp không gian để người dùng giao tiếp, chia sẻ thông tin, thực hiện giao dịch, kết nối và tương tác thông qua các trang web, ứng dụng hoặc dịch vụ điện tử. Những nền tảng này có thể là các trang web, ứng dụng hoặc dịch vụ. Ví dụ, mạng xã hội: Facebook, Instagram, Twitter; thương mại điện tử: Amazon, eBay, Shopee; video chia sẻ: YouTube, TikTok. Nền tảng trực tuyến trong hoạt động trợ giúp pháp lý là môi trường số cho phép kết nối, tương tác và cung cấp dịch vụ pháp lý giữa tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người dân thông qua internet. Các nền tảng này gồm: Cổng thông tin điện tử trợ giúp pháp lý, hệ thống tư vấn pháp luật trực tuyến, ứng dụng di động, đường dây nóng tích hợp dữ liệu điện tử, giúp người dân gửi yêu cầu, nhận tư vấn, tra cứu thông tin và phản hồi kết quả mà không cần trực tiếp đến Trung tâm.
Trí tuệ nhân tạo (AI) là việc phát triển các hệ thống máy móc có khả năng thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi trí tuệ con người như học tập, suy luận và giải quyết vấn đề[1]. AI trong trợ giúp pháp lý được hiểu là việc sử dụng các công cụ, thuật toán và hệ thống thông minh có khả năng hỗ trợ hoặc thay thế con người trong một số khâu của quá trình trợ giúp pháp lý, chẳng hạn: phân loại vụ việc, nhận dạng văn bản pháp luật liên quan, gợi ý hướng tư vấn hoặc vận hành chatbot tư vấn tự động cho các vấn đề pháp lý cơ bản.
Như vậy, ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý không chỉ là việc hiện đại hóa phương tiện kỹ thuật, mà còn là bước chuyển đổi về phương thức cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực này - từ mô hình truyền thống, trực tiếp, sang mô hình số hóa, lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm quyền tiếp cận công lý nhanh hơn, thuận tiện hơn và bình đẳng hơn. Điều này thể hiện sự đổi mới về tư duy quản lý và phương thức phục vụ của ngành Tư pháp trong thời kỳ chuyển đổi số.
1.2. Cơ sở chính trị, pháp lý về chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý
Trong bối cảnh Nhà nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, công tác trợ giúp pháp lý được xác định là một trong những lĩnh vực cần sớm ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả phục vụ người dân. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để ứng dụng công nghệ số trong hoạt động cung cấp dịch vụ công nói chung và trợ giúp pháp lý nói riêng. Cụ thể:
Ngày 10/5/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 678/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã xác định mục tiêu đến năm 2030: Xây dựng hệ thống quản lý người thực hiện trợ giúp pháp lý và giám sát chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý hiện đại bằng công nghệ tin học; người thuộc diện được trợ giúp pháp lý có thể tiếp cận và sử dụng dịch vụ trợ giúp pháp lý dễ dàng, đặc biệt thông qua việc sử dụng mạng internet và trực tuyến; đổi mới, nâng cấp hệ cơ sở dữ liệu vụ việc trợ giúp pháp lý, hướng đến việc thực hiện trợ giúp pháp lý qua các phương tiện truyền thông đại chúng, trực tuyến. Ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” nhấn mạnh yêu cầu phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, trong đó lĩnh vực pháp luật và tư pháp là một trong các trụ cột quan trọng.
Đặc biệt, Đảng đã ban hành nhiều chính sách về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Với chức năng này, là cơ quan tham mưu Chính phủ quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, ngày 10/6/2021, Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 983/QĐ-BTP phê duyệt Kế hoạch “Chuyển đổi số ngành Tư pháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. Đây là những văn bản quan trọng, định hướng nền tảng cho việc triển khai ứng dụng công nghệ trong hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động trợ giúp pháp lý nói riêng ở trung ương và địa phương.
Dưới góc độ là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh về trợ giúp pháp lý, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định hồ sơ điện tử của từng vụ việc trợ giúp pháp lý được số hóa, cập nhật vào hệ thống quản lý vụ việc trợ giúp pháp lý và lưu trữ tại cơ sở dữ liệu về trợ giúp pháp lý (khoản 3 Điều 39). Bên cạnh đó, các văn bản hướng dẫn của Bộ Tư pháp[2] đã tạo hành lang pháp lý cho việc hiện đại hóa hoạt động trợ giúp pháp lý, thông qua quy định về lưu trữ, quản lý vụ việc trợ giúp pháp lý, báo cáo thống kê điện tử, công khai danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý. Ví dụ: khoản 1 Điều 11 Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý quy định: “Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, Chi nhánh có trách nhiệm tạo hồ sơ vụ việc và người thực hiện trợ giúp pháp lý cập nhật lên phần mềm quản lý tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý”; khoản 3 Điều 2 Thông tư số 03/2021/TT-BTP[3] quy định: “Quản lý, cập nhật, khai thác hồ sơ điện tử về vụ việc trợ giúp pháp lý, dữ liệu về tổ chức, nhân sự trợ giúp pháp lý trên Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý”.
Cùng với đó, chủ trương xây dựng Hệ thống thông tin trợ giúp pháp lý nhằm mục tiêu số hóa toàn diện hoạt động trợ giúp pháp lý cho thấy định hướng rõ ràng của Nhà nước trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo điều kiện để người dân dễ dàng tiếp cận thông tin và được trợ giúp pháp lý trên môi trường mạng.
Như vậy, có thể thấy, khung pháp luật về chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý là nền tảng quan trọng để tiến tới xây dựng hệ sinh thái trợ giúp pháp lý số, nơi dữ liệu, quy trình và dịch vụ được kết nối, đồng bộ trên môi trường số, lấy người dân làm trung tâm, hướng tới mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau” trong tiếp cận công lý.
1.3. Vai trò, ý nghĩa của ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến và trí tuệ nhân tạo trong trợ giúp pháp lý
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến và trí tuệ nhân tạo mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong công tác trợ giúp pháp lý, cụ thể:
- Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý: Công nghệ số và nền tảng trực tuyến giúp người dân, đặc biệt là người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có thể tiếp cận dịch vụ tư vấn, hướng dẫn pháp luật mà không cần trực tiếp đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước.
- Nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành: Hệ thống quản lý vụ việc, cơ sở dữ liệu điện tử và phần mềm theo dõi tiến độ giúp các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước giám sát tốt hơn hoạt động của trợ giúp viên pháp lý, bảo đảm tính công khai, minh bạch và quản lý vụ việc, cơ sở dữ liệu điện tử trợ giúp pháp lý.
- Cải thiện chất lượng chuyên môn: Công nghệ hỗ trợ phân tích hồ sơ, tra cứu văn bản, tổng hợp án lệ... giúp người thực hiện trợ giúp pháp lý tiết kiệm thời gian, tập trung vào nội dung chuyên sâu.
- Giảm chi phí xã hội và tăng tính minh bạch: Hoạt động trực tuyến, số hóa quy trình làm việc và lưu trữ hồ sơ điện tử giúp giảm thiểu chi phí hành chính, đồng thời, tạo điều kiện kiểm tra, giám sát khách quan hơn.
- Hỗ trợ xây dựng chính sách và đánh giá chất lượng: Dữ liệu số hóa từ các vụ việc, người được trợ giúp pháp lý, phản hồi của người dân là nguồn thông tin quý giá phục vụ công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách và cải tiến chất lượng dịch vụ.
Bên cạnh các lợi ích trên, chuyển đổi số trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý không chỉ là trang bị công nghệ, mà là quá trình đổi mới toàn diện phương thức hoạt động, mô hình tổ chức và văn hóa nghề nghiệp. Việc tích hợp AI cho phép tự động hóa nhiều khâu như tiếp nhận, phân loại yêu cầu, rà soát và gợi ý quy định pháp luật phù hợp, thậm chí hỗ trợ đề xuất phương án tư vấn cơ bản. Điều này giúp các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tập trung nguồn lực cho các vụ việc phức tạp, đòi hỏi kỹ năng chuyên môn sâu và tư duy nghề nghiệp cao. Quá trình chuyển đổi số đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa cải cách hành chính, đào tạo nhân lực, đầu tư hạ tầng và hoàn thiện cơ chế, chính sách. Trong mô hình mới, người dân trở thành chủ thể tương tác, có thể gửi yêu cầu, tra cứu tiến độ và đánh giá chất lượng dịch vụ trực tuyến; cơ quan quản lý nhà nước có thể theo dõi tức thời việc thực hiện vụ việc, từ đó, nâng cao hiệu quả điều hành và giám sát chất lượng.
Như vậy, ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến và trí tuệ nhân tạo trong trợ giúp pháp lý vừa là yêu cầu tất yếu của thời đại chuyển đổi số, vừa là giải pháp chiến lược để hiện đại hóa hệ thống trợ giúp pháp lý Việt Nam, hướng tới mô hình “trợ giúp pháp lý thông minh”, bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho mọi người dân, nhất là nhóm yếu thế.
2. Thực trạng triển khai ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong công tác trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay
2.1. Kết quả triển khai ứng dụng công nghệ số và nền tảng trực tuyến
2.1.1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành công tác trợ giúp pháp lý
Từ 2017, Bộ Tư pháp đã xây dựng và triển khai Phần mềm trợ giúp pháp lý nhằm thiết lập hệ thống quản lý dữ liệu tập trung, thống nhất, giúp đồng bộ hóa thông tin và quy trình nghiệp vụ trên toàn quốc. Trên cơ sở đó, nâng cấp Phần mềm trợ giúp pháp lý thành Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý và chính thức vận hành đồng bộ trên toàn quốc từ tháng 01/2019 tại địa chỉ https://qltgpl.moj.gov.vn/. Hệ thống được cài đặt trên hạ tầng máy chủ tại Trung tâm Dữ liệu điện tử do Cục Công nghệ thông tin, Bộ Tư pháp quản lý và gồm 02 phân hệ chính: (i) Phân hệ quản lý tổ chức trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý, viên chức thuộc các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; (ii) Phân hệ quản lý vụ việc trợ giúp pháp lý.
Đây là phần mềm giúp Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, các chi nhánh, tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý cập nhật thông tin việc trợ giúp pháp lý, hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý, thông tin cơ bản của tổ chức, nhân sự, bước đầu số hóa hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý và thực hiện việc báo cáo thống kê nội bộ, báo cáo thống kê theo Biểu mẫu quy định về thống kê ngành Tư pháp.
Hệ thống còn cung cấp khả năng khai thác, tổng hợp và xuất dữ liệu (file excel) để phục vụ công tác báo cáo sơ kết, tổng kết của Bộ, ngành Tư pháp và một số báo cáo nội bộ phục vụ công tác quản lý chuyên môn như: thống kê về tổ chức nhân sự, việc, vụ việc, số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý có sự tham gia tố tụng của trợ giúp viên pháp lý, sổ thụ lý vụ việc…
Ngoài Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, dữ liệu điện tử về trợ giúp pháp lý còn bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã được số hoá và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật và các văn bản pháp luật, thông tin, video, hình ảnh bài viết, bài nghiên cứu về trợ giúp pháp lý trên trang thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam tại địa chỉ truy cập https://tgpl.moj.gov.vn/.
Năm 2024, Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý đã kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 cho phép khai thác một số trường thông tin liên quan đến người thực hiện trợ giúp pháp lý và người được trợ giúp pháp lý.
Thực hiện Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến và Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BCA-BQP-BTP ngày 15/12/2021 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Việt Kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực tuyến, các địa phương đã lập dự trù kinh phí, thiết lập điểm cầu thành phần tại các Trung tâm. Tính đến ngày 31/12/2024, có 57/63 tỉnh đã lập dự trù kinh phí trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; 45 địa phương đã được cấp kinh phí để thiết lập điểm cầu thành phần tại Trung tâm; trong đó 24 địa phương đã thiết lập điểm cầu thành phần tại Trung tâm. Số vụ việc Trung tâm tham gia phiên toà xét xử trực tuyến là 610 vụ[4].
Nhiều Trung tâm cập nhật liên tục Trang thông tin điện tử riêng về trợ giúp pháp lý của địa phương hoặc trên Trang thông tin của Sở Tư pháp để người dân dễ dàng nắm bắt và tiếp cận hoạt động trợ giúp pháp lý...
2.1.2 Phát triển các kênh tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý trực tuyến
Ứng dụng trợ giúp pháp lý trên điện thoại di động - một hoạt động được triển khai trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng yếu thế” do Ngân hàng Thế giới thông qua Quỹ Phát triển xã hội Nhật Bản tài trợ, được kỳ vọng trở thành cầu nối số để cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí nhanh chóng, thuận tiện và kịp thời. Ứng dụng di động này không chỉ là công cụ tra cứu tin tức, văn bản pháp luật về trợ giúp pháp lý, mà còn là kênh để người dân gửi yêu cầu trợ giúp pháp lý và giúp cơ quan quản lý tiếp nhận, xử lý các yêu cầu này.
Việc xây dựng ứng dụng trợ giúp pháp lý trên điện thoại di động là bước đệm quan trọng trong quá trình “số hóa” quy trình tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý, đặc biệt có ý nghĩa với người dân ở vùng sâu, vùng xa, nơi việc tiếp cận trực tiếp còn nhiều rào cản.
2.2. Khó khăn, thách thức
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, quá trình triển khai ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến và trí tuệ nhân tạo trong trợ giúp pháp lý đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, cụ thể:
Thứ nhất, về thể chế.
Các quy định tạo hành lang pháp lý cho trợ giúp pháp lý trực tuyến chưa hoàn thiện về giá trị pháp lý của hồ sơ trợ giúp pháp lý điện tử, bảo mật thông tin, lưu trữ dữ liệu điện tử hoặc sử dụng AI trong tiếp nhận và xử lý yêu cầu trợ giúp pháp lý. Điều này gây khó khăn cho các địa phương khi áp dụng hình thức trợ giúp pháp lý qua mạng hoặc qua chatbot.
Thứ hai, về hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực tài chính.
Nhiều Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và chi nhánh của Trung tâm chưa được đầu tư đầy đủ về trang thiết bị, máy chủ, phần mềm bản quyền hoặc đường truyền internet chưa ổn định. Kinh phí dành cho duy trì và nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin chưa đáp ứng nhu cầu thực tế, gây khó khăn cho việc bảo đảm khả năng vận hành liên tục.
Thứ ba, về nguồn nhân lực.
Năng lực chuyển đổi số của đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý chưa đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu. Phần lớn trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý và cộng tác viên trợ giúp pháp lý có chuyên môn pháp luật vững vàng nhưng chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng số. Việc thao tác trên hệ thống điện tử, cập nhật dữ liệu, hay sử dụng nền tảng trực tuyến đôi khi còn lúng túng, gặp khó khăn. Điều này làm giảm hiệu suất vận hành hệ thống, kéo dài thời gian xử lý vụ việc và ảnh hưởng đến độ chính xác của thông tin.
Thứ tư, về nhận thức xã hội và khả năng tiếp cận công nghệ số của người dân.
Đặc thù của đối tượng được trợ giúp pháp lý đặt ra những thách thức riêng biệt trong quá trình chuyển đổi số. Phần lớn người được trợ giúp pháp lý là người yếu thế như người nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, trẻ em… thường là nhóm đối tượng có mức độ tiếp cận công nghệ số và khả năng thao tác trên nền tảng trực tuyến còn nhiều hạn chế. Điều này làm cho mức độ bao phủ dịch vụ số chưa đồng đều, đòi hỏi phải có giải pháp phù hợp hơn về “chuyển đổi số toàn dân”.
Thứ năm, vấn đề bảo mật dữ liệu và đạo đức sử dụng AI.
Khi dịch chuyển lên môi trường số, vấn đề bảo mật dữ liệu và đạo đức nghề nghiệp trở nên phức tạp hơn. Thông tin trợ giúp pháp lý thường chứa dữ liệu nhạy cảm (về nhân thân, đời tư, hoàn cảnh cá nhân…). Khi ứng dụng AI, chatbot hoặc lưu trữ trên nền tảng đám mây, nguy cơ rò rỉ, xâm phạm dữ liệu là thách thức cần được kiểm soát nghiêm ngặt. Đồng thời, việc sử dụng AI trong phân tích vụ việc hoặc đề xuất hướng xử lý cũng phải bảo đảm nguyên tắc đạo đức, không được thay thế vai trò chuyên môn của người thực hiện trợ giúp pháp lý. Cần có cơ chế kiểm soát để AI chỉ đóng vai trò hỗ trợ, bảo đảm yếu tố nhân văn và tư duy pháp lý của con người luôn được ưu tiên.
3. Một số kiến nghị, giải pháp
Để bảo đảm công tác ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến và trí tuệ nhân tạo trong trợ giúp pháp lý được triển khai hiệu quả, đồng bộ và bền vững, cần quan tâm thực hiện một số nhóm giải pháp sau:
Thứ nhất, về thể chế, chính sách.
Hoàn thiện hành lang pháp lý cho trợ giúp pháp lý điện tử, trực tuyến, bao gồm quy định về quy trình tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý, phân loại yêu cầu trợ giúp pháp lý, thực hiện trợ giúp pháp lý, lưu trữ hồ sơ trợ giúp pháp lý trên môi trường mạng; bảo mật thông tin; xác định giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử trong trợ giúp pháp lý. Xây dựng và ban hành hướng dẫn chi tiết về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong trợ giúp pháp lý, quy định rõ phạm vi áp dụng, tiêu chuẩn kỹ thuật, nguyên tắc vận hành và cơ chế kiểm soát để bảo đảm an toàn dữ liệu, tính chính xác, tránh rủi ro sai lệch trong trợ giúp pháp lý. Xây dựng chính sách khuyến khích xã hội hóa và hợp tác công - tư trong chuyển đổi số trợ giúp pháp lý; huy động nguồn lực từ doanh nghiệp công nghệ, tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế.
Thứ hai, về hạ tầng kỹ thuật và cơ sở dữ liệu.
Tăng cường đầu tư đồng bộ hạ tầng công nghệ thông tin cho các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, gồm hệ thống máy chủ, trang thiết bị, đường truyền tốc độ cao và phần mềm chuyên dụng có bản quyền. Phát triển và hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về trợ giúp pháp lý, bảo đảm kết nối liên thông và chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu khác trong ngành Tư pháp, công an, Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan hữu quan nhằm tối ưu hóa công tác trợ giúp pháp lý. Thực hiện chuẩn hóa và số hóa hồ sơ trợ giúp pháp lý, từng bước hình thành “hồ sơ trợ giúp pháp lý điện tử”, giúp theo dõi xuyên suốt quá trình giải quyết vụ việc, tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao tính minh bạch, hiệu quả.
Thứ ba, về nguồn nhân lực và năng lực số.
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyển đổi số cho trợ giúp viên pháp lý và cộng tác viên trợ giúp pháp lý, gồm kỹ năng sử dụng phần mềm quản lý, tư vấn trực tuyến và vận hành hệ thống AI hỗ trợ. Khuyến khích mô hình “trợ giúp viên pháp lý số”, kết hợp kiến thức chuyên môn pháp lý và năng lực công nghệ thông tin, tạo lực lượng nòng cốt dẫn dắt chuyển đổi số trong hệ thống. Xây dựng đội ngũ kỹ thuật viên chuyên trách về công nghệ thông tin tại các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước lớn, có nhiệm vụ hỗ trợ vận hành, bảo trì và nâng cấp hệ thống, kịp thời khắc phục sự cố và bảo đảm hệ thống công nghệ thông tin vận hành thông suốt.
Thứ tư, về người dân và tiếp cận dịch vụ.
Đẩy mạnh truyền thông số, phổ biến, hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ trợ giúp pháp lý trực tuyến qua video, đồ họa thông tin (infographics), chatbot thông minh và nền tảng mạng xã hội. Xây dựng các điểm truy cập trợ giúp pháp lý số tại Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ sở bảo trợ xã hội, trung tâm văn hóa cộng đồng… nơi người dân có thể được hỗ trợ đăng ký trực tuyến và sử dụng các dịch vụ trợ giúp pháp lý số dễ dàng. Phát triển giao diện trợ giúp pháp lý thân thiện, đa ngôn ngữ, có hỗ trợ giọng nói và tính năng cho người khuyết tật, bảo đảm nguyên tắc “không ai bị bỏ lại phía sau” trong chuyển đổi số.
Thứ năm, về ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Xây dựng và phát triển hệ thống chatbot trợ giúp pháp lý quốc gia thống nhất, sử dụng AI để trả lời tự động câu hỏi cơ bản, hướng dẫn quy trình, đồng thời, chuyển tiếp các yêu cầu phức tạp cho trợ giúp viên pháp lý phụ trách. Ứng dụng AI trong phân tích dữ liệu vụ việc, nhận diện xu hướng và xác định các lĩnh vực pháp lý phát sinh nhiều nhu cầu để hoạch định chính sách và đào tạo, bồi dưỡng người thực hiện trợ giúp pháp lý cho phù hợp. Thí điểm sử dụng trợ lý ảo hỗ trợ trợ giúp pháp lý, đặc biệt trong khâu tiếp nhận hồ sơ, ghi chép biên bản, hoặc hướng dẫn người dân hoàn thiện giấy tờ. Thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá và bảo đảm đạo đức trong sử dụng AI, tránh tình trạng lạm dụng hoặc để thuật toán thay thế mà không có kiểm soát của con người trong tư vấn pháp lý.
Kết luận
Việc ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến và trí tuệ nhân tạo trong công tác trợ giúp pháp lý không chỉ là yêu cầu tất yếu của tiến trình chuyển đổi số quốc gia, mà còn là giải pháp chiến lược để hiện thực hóa quyền tiếp cận công lý cho mọi người dân. Để quá trình này phát huy hiệu quả, cần sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, các cơ quan, tổ chức xã hội và doanh nghiệp công nghệ.
Thực tiễn cho thấy, quá trình ứng dụng công nghệ số trong trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả, rút ngắn thời gian xử lý vụ việc, đồng thời, mở ra cơ hội để người dân ở mọi vùng miền đều có thể tiếp cận dịch vụ pháp lý thuận tiện. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công bước đầu, còn nhiều khó khăn, thách thức về thể chế, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực và bảo mật thông tin, đòi hỏi phải có cách tiếp cận toàn diện, mang tính chiến lược và dài hạn.
Để hướng tới hệ sinh thái trợ giúp pháp lý số hiện đại, thông minh và nhân văn, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng cường đầu tư hạ tầng, nâng cao năng lực chuyển đổi số cho đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, đồng thời, đẩy mạnh truyền thông và hỗ trợ người dân trong việc tiếp cận dịch vụ trực tuyến. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo cần được thực hiện có kiểm soát, bảo đảm nguyên tắc “AI hỗ trợ con người, không thay thế con người”, gắn với các tiêu chuẩn đạo đức và bảo mật nghiêm ngặt.
Trong tương lai, cùng với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, hoạt động trợ giúp pháp lý cần tiếp tục đổi mới sáng tạo, tăng cường kết nối dữ liệu, hợp tác công - tư và mở rộng hợp tác quốc tế để học hỏi mô hình, kinh nghiệm tiên tiến. Mục tiêu cuối cùng là hình thành nền tảng trợ giúp pháp lý toàn diện, thân thiện, hiệu quả, lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm mọi cá nhân đều có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận pháp luật và công lý, đúng với tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau” trong kỷ nguyên số./.
Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp
Ảnh: Internet
[1]. Khoản 18 Điều 2 Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Khung năng lực số cho người học.
[2]. Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018; Thông tư số 03/2019/TT-BTP ngày 20/3/2019; Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25/5/2021; Công văn số 06/TGPL-TTTTDL ngày 06/8/2019 của Cục Trợ giúp pháp lý về việc thống kê báo cáo vụ việc trợ giúp pháp lý và cập nhật dữ liệu lên Hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý; Công văn số 443/CTGPL-TTTTDL ngày 06/10/2021 của Cục Trợ giúp pháp lý về việc thống kê, cập nhật vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng kết thúc trên Hệ thống và tình hình thực hiện chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng năm 2021; Công văn số 261/CTGPL-TC&QLCL ngày 03/6/2022 của Cục Trợ giúp pháp lý về việc hướng dẫn báo cáo và cập nhật vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng thành công năm 2022; Các văn bản, tài liệu hướng dẫn sử dụng Hệ thống khác.
[3]. Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 15/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý; Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý.
[4]. Một số Trung tâm tham gia nhiều vụ việc xét xử trực tuyến như: Bắc Ninh (104 vụ việc); Bạc Liêu (70 vụ việc); Hà Nội (56 vụ việc); Hải Phòng (40 vụ việc); Nghệ An (39 vụ việc); Lai Châu (28 vụ việc); Hà Giang (27 vụ việc).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
3. Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Tư pháp; Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2021), Thông tư liên tịch số 05/2021/ TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP BTPngày 15/12/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn tổ chức phiên tòa trực tuyến.
4. Bộ Tư pháp (2018), Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý.
5. Bộ Tư pháp (2021), Thông tư số 03/2021/TT-BTP ngày 25/3/2021 quy định chế độ báo cáo thống kê về trợ giúp pháp lý.
6. Bộ Tư pháp (2021), Quyết định số 983/QĐ-BTP ngày 10/6/2021 phê duyệt Kế hoạch Chuyển đổi số ngành Tư pháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
7. Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
8. Chính phủ (2022), Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
9. Quốc hội (2017), Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
10. Quốc hội (2021), Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 về tổ chức phiên tòa trực tuyến.
11. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 phê duyệt Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
12. Cổng thông tin điện tử Trợ giúp pháp lý Việt Nam (2024), Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật và thông tin trợ giúp pháp lý, https://tgpl.moj.gov.vn, truy cập ngày 10/11/2025.
(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý” năm 2025)