Đặt vấn đề
Trợ giúp pháp lý là chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước, nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được tiếp cận công lý, bình đẳng trước pháp luật, đặc biệt, đối với các nhóm yếu thế. Hoạt động trợ giúp pháp lý được triển khai từ năm 1997 như một nhiệm vụ pháp lý - xã hội quan trọng[1]. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 tiếp tục hoàn thiện thể chế và khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người dân, đồng thời, huy động nguồn lực xã hội tham gia trợ giúp pháp lý. Hệ thống pháp luật hiện hành gồm 23 văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh toàn diện các nội dung của trợ giúp pháp lý[2], cùng với các bộ luật tố tụng quy định cơ chế bảo đảm trợ giúp pháp lý trong quá trình giải quyết vụ án.
Từ yêu cầu lý luận và thực tiễn trên, bài viết phân tích làm rõ một số nội dung: (i) vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả trợ giúp pháp lý; (ii) một số hạn chế, bất cập trong tiếp cận trợ giúp pháp lý tại cơ sở; (iii) một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức tổ chức và thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý.
1. Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý. Ngay từ sắc lệnh thành lập Đoàn luật sư đầu tiên (Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định tổ chức các đoàn thể luật sư), vai trò của luật sư đã được xác định để phụng sự công lý, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ quyền con người, quyền lợi hợp pháp của Nhân dân, là lực lượng không thể thiếu trong xây dựng Nhà nước pháp quyền và bảo đảm công lý, bình đẳng xã hội. Ngày nay, đội ngũ luật sư Việt Nam đang tham gia tích cực vào nhiều lĩnh vực hành nghề, từ tranh tụng, tư vấn đến trợ giúp pháp lý, phổ biến, giáo dục pháp luật. Những hoạt động của luật sư góp phần quan trọng bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, công dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân[3]. Trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, vai trò của luật sư thể hiện trên một số phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, luật sư là cầu nối, “phiên dịch” pháp luật cho người dân. Với lợi thế am hiểu pháp luật và kỹ năng giao tiếp, luật sư tham gia trợ giúp pháp lý giúp chuyển hóa ngôn ngữ pháp lý phức tạp thành ngôn ngữ đời thường, dễ hiểu với người dân. Tại nhiều vùng nông thôn, miền núi, người dân chỉ có các giấy tờ rời rạc hoặc ký ức truyền miệng về vụ việc của mình. Luật sư có nhiệm vụ thu thập, hệ thống hóa và sắp xếp thông tin theo trình tự pháp lý, xác định bản chất pháp lý của sự việc để hồ sơ vụ việc được rõ ràng, đầy đủ căn cứ. Không chỉ giải thích điều luật, luật sư còn phổ biến kiến thức pháp luật bằng ngôn ngữ gần gũi, giúp người dân hiểu quyền lợi của họ sẽ được bảo vệ thông qua những thủ tục, quy trình cụ thể, mà không bằng cảm tính về sự công bằng. Thông qua việc dẫn chiếu các vụ việc tương tự, hướng dẫn người dân cách đối chiếu giấy tờ, xác minh chứng cứ và tham khảo quy định liên quan, luật sư nâng cao hiểu biết và kỹ năng pháp lý cơ bản cho người dân, giúp họ tự tin hơn khi làm việc với cơ quan nhà nước. Về góc độ xã hội học pháp luật, luật sư trợ giúp pháp lý là cầu nối đưa pháp luật vào đời sống, tạo niềm tin cho người dân vào sự thượng tôn pháp luật và tính nhân văn của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ hai, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân yếu thế. Trong các vụ việc dân sự phức tạp (tranh chấp thừa kế, phân chia tài sản, quyền sử dụng đất, ly hôn…), người dân thường lúng túng trong việc xác định quyền, nghĩa vụ pháp lý của mình. Khi tham gia trợ giúp pháp lý, luật sư sử dụng kiến thức chuyên môn để hướng dẫn soạn thảo đơn từ, tư vấn thủ tục tố tụng và trực tiếp tham gia tranh tụng tại Tòa án nhằm bảo vệ quyền lợi cho người được trợ giúp pháp lý. Đối với vụ việc hành chính (khiếu nại quyết định thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng), luật sư trợ giúp pháp lý hỗ trợ soạn đơn khiếu nại, phân tích tính hợp pháp của quyết định hành chính và giúp người dân thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện đúng trình tự pháp luật. Thực tế cho thấy, nếu không có luật sư đồng hành xuyên suốt, người dân dễ bị thiệt thòi do không hiểu biết thủ tục và tiền lệ pháp lý. Do đó, sự có mặt của luật sư từ giai đoạn tiền tố tụng đến khi có phán quyết cuối cùng giúp bảo đảm nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và tăng cường niềm tin của người dân vào công lý, chính sách an sinh của Nhà nước. Luật sư là “chỗ dựa pháp lý” vững chắc, giúp tiếng nói của người yếu thế được lắng nghe và bảo vệ quyền lợi của họ trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, luật sư góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật và lan tỏa niềm tin pháp lý trong cộng đồng. Trong những hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động về cơ sở, luật sư không chỉ tư vấn giải quyết vụ việc cụ thể, mà còn kết hợp tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật cho người dân. Thông qua việc hướng dẫn người dân những công việc cụ thể, như: cách viết đơn, cách tra cứu bản đồ địa chính, cách đối chiếu quy định pháp luật, góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật cộng đồng, giúp người dân biết và tự xác định vấn đề pháp lý trong cuộc sống, chủ động lựa chọn phương án giải quyết hợp pháp. Từ đó, người dân hình thành thói quen chủ động tham vấn pháp luật, thay vì e dè, thụ động như trước. Kiến thức pháp luật được người dân tiếp thu còn được chia sẻ tới gia đình, hàng xóm, tạo hiệu ứng lan tỏa trong cộng đồng. Nhờ đó, nhiều địa phương có chuyển biến tích cực: từ chỗ ngại nhờ luật sư, chính quyền, người dân sẽ mạnh dạn đối thoại và hợp tác với chính quyền để giải quyết các vấn đề phát sinh. Đây là thước đo về sự phát triển bền vững của hoạt động trợ giúp pháp lý, không chỉ giải quyết từng vụ việc, mà còn kiến tạo cộng đồng dân cư hiểu biết và thượng tôn pháp luật.
Thứ tư, luật sư tham gia xây dựng mô hình tổ chức trợ giúp pháp lý linh hoạt, hiệu quả trên cơ sở xã hội hóa. Cùng với hệ thống trợ giúp pháp lý nhà nước (các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thuộc Sở Tư pháp), những mô hình trợ giúp pháp lý tự nguyện, phi lợi nhuận do các tổ chức hành nghề luật sư, các hội nghề nghiệp, câu lạc bộ luật sư khởi xướng đã trở thành “điểm sáng” đưa trợ giúp pháp lý đến gần người dân hơn. Cụ thể, Câu lạc bộ Cựu học viên Học viện Tư pháp thành lập ngày 22/02/2023 (tiền thân là Câu lạc bộ Luật sư Việt Nam) tập hợp các luật sư, chuyên gia pháp lý cùng có tâm huyết phục vụ cộng đồng, đã tổ chức nhiều đợt trợ giúp pháp lý lưu động miễn phí tại các địa bàn vùng sâu, hải đảo (như xã Khánh Lâm, tỉnh Cà Mau; xã Mộc Hóa, Long An). Các đoàn luật sư địa phương thường xuyên phối hợp với Bộ Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức tư vấn pháp luật miễn phí cho người dân thông qua Ngày truyền thống Luật sư Việt Nam (10/10), Ngày Pháp luật Việt Nam (09/11), các đợt tuyên truyền pháp luật lưu động. Vai trò của luật sư trong những hoạt động này vừa là nòng cốt chuyên môn, vừa lan tỏa tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp trong giới luật sư.
Như vậy, luật sư tham gia trợ giúp pháp lý không chỉ đơn thuần là hoạt động trợ giúp về pháp lý, mà còn thực hiện trách nhiệm xã hội, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào công lý và công bằng.
2. Một số hạn chế, bất cập trong tiếp cận trợ giúp pháp lý tại cơ sở
Hoạt động trợ giúp pháp lý hướng tới các nhóm yếu thế (người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em, người khuyết tật,…), những người dễ bị tổn thương về pháp lý do hạn chế hiểu biết và nguồn lực. Thực tiễn cho thấy, còn nhiều rào cản nên người dân thuộc đối tượng này chưa tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý hiệu quả. Mặc dù có khoảng 45 triệu người thuộc diện được trợ giúp pháp lý, nhưng số vụ việc trợ giúp pháp lý được thụ lý và giải quyết còn thấp so với nhu cầu. Tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/12/2024, toàn quốc thực hiện được 234.569 vụ việc trợ giúp pháp lý[4], phản ánh khoảng cách đáng kể giữa chính sách và khả năng tiếp cận thực tế của người dân, đặc biệt, tại khu vực vùng sâu, vùng xa.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là cần phân tích rõ các rào cản trong tiếp cận trợ giúp pháp lý tại cơ sở; đồng thời, làm rõ vai trò của luật sư, chủ thể quan trọng có khả năng khắc phục những hạn chế về pháp lý, kỹ năng, chứng cứ và thủ tục cho người dân yếu thế. Đây là định hướng phù hợp với nội dung, tinh thần Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Nghị quyết số 66/NQ-TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66/NQ-TW), Nghị quyết số 68/NQ-TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68/NQ-TW), tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới công tác pháp luật và hỗ trợ pháp lý về hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác pháp luật và nâng cao hiệu quả các dịch vụ pháp lý công.
2.1. Hạn chế về nhận thức pháp luật, khoảng cách địa lý và chi phí
Ở nhiều địa bàn vùng sâu, vùng xa (như xã Khánh Lâm, tỉnh Cà Mau; đặc khu Cát Hải, thành phố Hải Phòng), người dân còn thiếu thông tin pháp luật và kiến thức về thủ tục pháp lý. Khoảng cách địa lý xa, giao thông khó khăn, chi phí đi lại lớn và thời gian nhiều (đặc biệt, người khuyết tật gặp khó khăn không chỉ từ cơ sở vật chất, mà còn cách tiếp cận thông tin pháp luật)[5] tạo rào cản về kinh tế - xã hội cho yêu cầu trợ giúp pháp lý. Nhiều người dân có tâm lý e ngại “va chạm” với cơ quan công quyền, sợ phát sinh chi phí hoặc trách nhiệm, dẫn tới việc chậm yêu cầu hỗ trợ cho đến khi tranh chấp trở nên trầm trọng. Rào cản nhận thức và tâm lý này, dẫn đến tình trạng “nhu cầu tiềm ẩn” không được phản ánh kịp thời, người dân thuộc diện trợ giúp pháp lý nhưng không biết hoặc không dám tìm đến dịch vụ, làm giảm hiệu quả bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.
2.2. Thiếu hồ sơ, tài liệu chứng cứ và hạn chế về điều kiện vật chất
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, đường dây nóng trợ giúp pháp lý trung ương (024.6273.9631)[6] được thiết lập từ năm 2018 đã tiếp nhận hàng nghìn lượt phản ánh, yêu cầu hỗ trợ mỗi năm. Nhiều vụ việc trợ giúp pháp lý tại cơ sở gặp khó khăn ngay từ khâu thu thập và chuẩn hóa hồ sơ. Giấy tờ về quyền sử dụng đất, tài sản của người dân ở nông thôn thường bị hư hỏng, thất lạc do thời gian, thiên tai hoặc mua bán, chuyển nhượng bằng giấy viết tay qua nhiều thế hệ. Người dân chỉ lưu giữ các giấy tờ rời rạc, lời kể truyền miệng nên thiếu chứng cứ pháp lý đầy đủ. Việc không có giấy tờ gốc, ranh giới đất không rõ ràng, thiếu xác nhận chủ sở hữu qua các thời kỳ nên quá trình xác minh nguồn gốc và tình trạng pháp lý của tài sản khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp đất đai, thừa kế và làm tăng chi phí xã hội. Ngoài ra, điều kiện cơ sở vật chất ở một số địa phương còn hạn chế, điểm tư vấn pháp luật hoặc tủ sách pháp luật nghèo nàn, chưa có không gian thuận lợi để người dân tìm hiểu và trao đổi về vấn đề pháp lý của mình.
2.3. Bất cập về thể chế, phối hợp liên ngành và hạn chế về công nghệ, nhân lực
Khung pháp lý về trợ giúp pháp lý mặc dù tương đối đầy đủ nhưng còn có điểm chưa đồng bộ. Chẳng hạn, tiêu chí xác định người được trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 chưa hoàn toàn thống nhất với các văn bản dưới luật: Luật chỉ quy định chung “người có khó khăn về tài chính”, trong khi Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và Quyết định số 24/2021/QĐ-TTg ngày 16/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm và quy trình xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025 có quy định cụ thể theo chuẩn nghèo đa chiều từng giai đoạn. Sự thiếu nhất quán và cập nhật chậm giữa các văn bản dẫn tới nguy cơ bỏ sót một bộ phận người dân có thu nhập thấp nhưng chưa được công nhận là hộ nghèo, cận nghèo tại thời điểm nhất định. Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp liên ngành trong trợ giúp pháp lý còn yếu: giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước với Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai, Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp xã (trước thời điểm thực hiện sắp xếp tổ chức lại hệ thống bộ máy nhà nước)… chưa có đầu mối điều phối thống nhất, chưa chia sẻ dữ liệu hiệu quả. Việc tra cứu thông tin (hộ tịch, địa chính, tiền án, tiền sự…) chủ yếu thủ công, chưa liên thông giữa các cơ quan, khiến luật sư phải tốn nhiều thời gian xác minh chứng cứ.
2.4. Hạn chế về chuyển đổi số và nguồn nhân lực
Quá trình chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý mới ở giai đoạn đầu, hạ tầng công nghệ thông tin nhiều địa phương chưa đồng bộ. Sóng 3G/4G chưa phủ hết vùng sâu, vùng xa; nhiều người dân, đặc biệt, người già, người dân tộc thiểu số không thạo sử dụng điện thoại thông minh, nên việc gửi hồ sơ, tra cứu thông tin hoặc nhận tư vấn trực tuyến chưa thuận lợi. Các ứng dụng trợ giúp pháp lý quốc gia và địa phương hiện chưa kết nối dữ liệu theo thời gian thực, hạn chế khả năng thống kê, đánh giá hiệu quả. Về nhân lực, đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý (trợ giúp viên, luật sư cộng tác) chưa đồng đều về năng lực, nhất là trong lĩnh vực chuyên sâu như đất đai, thừa kế, định giá tài sản, khiếu nại hành chính. Việc đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với thực tiễn địa phương và kỹ năng công nghệ còn yếu. Hiện, cả nước có gần 21.000 luật sư[7] nhưng số luật sư tham gia trợ giúp pháp lý còn hạn chế: tính đến hết năm 2024, chỉ có khoảng 728 luật sư và cộng tác viên ký hợp đồng trợ giúp pháp lý, 177 tổ chức hành nghề luật sư đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý và 20 tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp. Thậm chí, trước khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, nhiều tỉnh không tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý như: An Giang, Bình Dương, Bắc Kạn, Bắc Giang, Bạc Liêu, Bình Định, Bình Phước, Bình Thuận, Đắk Nông…[8]. Như vậy, tiềm năng nguồn lực luật sư chưa được khai thác đúng mức, trong khi nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân rất lớn. Những hạn chế về nhân lực và công nghệ là nguyên nhân trực tiếp làm giảm hiệu quả giải quyết vụ việc, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào hệ thống trợ giúp pháp lý ở cơ sở.
3. Một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
Để phát huy hơn nữa vai trò và trách nhiệm của đội ngũ luật sư trong bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân yếu thế ở cơ sở, cần có những giải pháp đồng bộ về thể chế, cơ chế và phương thức tổ chức hoạt động trợ giúp pháp lý. Từ thực tế hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư, nghiên cứu đề xuất, kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật và thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý. Cụ thể:
3.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, mở rộng diện thụ hưởng và thúc đẩy xã hội hóa trợ giúp pháp lý
Một là, sửa đổi, bổ sung Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 theo hướng mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý và phạm vi lĩnh vực trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay. Ngoài các đối tượng t ruyền thống (hộ nghèo, người có công, trẻ em, người khuyết tật…), nên xem xét bổ sung những người thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn chưa đến mức hộ nghèo nhưng có nhu cầu chính đáng được trợ giúp (ví dụ, lao động tự do thu nhập không ổn định, người vừa thoát nghèo) nhằm phản ánh đúng thực tế biến động xã hội.
Hai là, sửa đổi, bổ sung Điều 8 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 để mở rộng trợ giúp pháp lý sang các vụ việc dân sự, hôn nhân - gia đình, đất đai, thừa kế có tính chất phức tạp hoặc ảnh hưởng lớn đến quyền nhân thân và tài sản công dân, thay vì giới hạn hẹp ở một số loại việc như hiện nay. Việc mở rộng này không chỉ thể hiện tính nhân văn mà, còn đáp ứng đòi hỏi của giai đoạn chuyển đổi số, khi quan hệ dân sự ngày càng đa dạng và phức tạp.
Ba là, sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 21 Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) để rõ hơn nghĩa vụ của luật sư theo hướng luật sư có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ xã hội thông qua việc tham gia các hoạt động trợ giúp pháp lý, tuyên truyền pháp luật, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy tiếp cận công lý, đặc biệt, cho các đối tượng yếu thế.
Bốn là, sửa đổi, bổ sung Điều 31 Luật Luật sư năm 2006 về hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí của luật sư khi tham gia đoàn luật sư theo hướng: luật sư có nghĩa vụ tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí hoặc theo yêu cầu phân công của tổ chức hành nghề luật sư, đoàn luật sư, nơi cá nhân, tổ chức đăng ký hành nghề luật sư để xem xét như một tiêu chí đánh giá[9] về trách nhiệm, đạo đức và kết quả hành nghề hàng năm.
Năm là, bổ sung nội dung xã hội hóa trong hoạt động trợ giúp pháp lý theo hướng cho phép luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, các câu lạc bộ luật sư tình nguyện tham gia cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý được thừa nhận chính thức, có cơ chế hỗ trợ tài chính và vinh danh tương xứng với công sức đóng góp. Nhà nước cần ban hành chính sách thu hút các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước cho công tác trợ giúp pháp lý, khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cá nhân đóng góp, tài trợ minh bạch vào Quỹ trợ giúp pháp lý. Đặc biệt, để tạo động lực cho các luật sư và tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, có thể xem xét miễn, giảm một phần thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân cho tổ chức hành nghề luật sư, luật sư hành nghề theo tư cách cá nhân, câu lạc bộ luật sư. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với tiêu chí khuyến khích doanh nghiệp xã hội quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung các năm 2022, 2025), khi các tổ chức hành nghề luật sư, luật sư hành nghề theo tư cách cá nhân cam kết phục vụ cộng đồng. Cụ thể, luật sư hành nghề theo tư cách cá nhân có thể được giảm thuế thu nhập cá nhân tương ứng với thời gian, khối lượng vụ việc trợ giúp pháp lý đã thực hiện; tổ chức hành nghề luật sư (công ty luật, văn phòng luật sư) tích cực tham gia trợ giúp pháp lý có thể được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như một hình thức khuyến khích trách nhiệm xã hội. Chính sách này phù hợp với tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW, về việc ban hành cơ chế, chính sách đặc biệt hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có biện pháp miễn thuế, giảm thuế để tạo xung lực cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển. Việc áp dụng ưu đãi thuế cho các tổ chức hành nghề luật sư hoạt động vì cộng đồng sẽ củng cố niềm tin và khích lệ giới luật sư đóng góp nhiều hơn cho công tác trợ giúp pháp lý, phù hợp với chủ trương xã hội hóa, mà vẫn bảo đảm nguyên tắc thị trường, minh bạch.
3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý
Trong kỷ nguyên số, việc đưa công nghệ vào trợ giúp pháp lý là giải pháp đột phá nhằm rút ngắn khoảng cách địa lý và giảm chi phí cho người dân yếu thế. Vì vậy, cần thực hiện một số đề xuất, giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, cần nâng cấp Cổng thông tin điện tử trợ giúp pháp lý quốc gia theo hướng tích hợp, liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia (dân cư, đất đai, hộ tịch, tư pháp…). Hệ thống trợ giúp pháp lý điện tử thống nhất từ trung ương đến địa phương sẽ giúp đơn giản hóa quy trình tiếp nhận, xử lý và lưu trữ hồ sơ, cho phép giám sát, đánh giá trực tuyến hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý theo thời gian thực. Đây là nền tảng để xây dựng “bản đồ số trợ giúp pháp lý” toàn quốc, người dân có thể dễ dàng tra cứu nơi cung cấp dịch vụ gần nhất và đăng ký trợ giúp pháp lý trực tuyến.
Thứ hai, phát triển ứng dụng di động về trợ giúp pháp lý (có thể tích hợp vào ứng dụng định danh cá nhân điện tử) cho phép người dân chụp, gửi hồ sơ yêu cầu trợ giúp pháp lý, đặt lịch hẹn, tham vấn qua video call hoặc tin nhắn thoại, với giao diện thân thiện, đa ngôn ngữ và có hỗ trợ người khuyết tật. Ứng dụng này giúp người dân tiếp cận dịch vụ 24/7, bảo mật thông tin và giảm thời gian, chi phí đi lại. Cùng với đó, triển khai chatbot tư vấn pháp luật tích hợp trên cổng trợ giúp pháp lý và mạng xã hội để hướng dẫn bước đầu về điều kiện được trợ giúp pháp lý, thủ tục đăng ký, cơ quan liên hệ, danh sách luật sư hỗ trợ gần nhất.
Thứ ba, trang bị cho đội ngũ luật sư và trợ giúp viên pháp lý bộ công cụ tra cứu pháp lý điện tử nội bộ, tích hợp dữ liệu văn bản pháp luật, án lệ, bảng giá đất địa phương, biểu mẫu tố tụng… giúp họ tra cứu nhanh và chính xác, nâng cao chất lượng tư vấn. Về lâu dài, cần phát triển hạ tầng trợ giúp pháp lý số nhằm minh bạch hóa dữ liệu, chuẩn hóa nghiệp vụ và xây dựng môi trường kết nối giữa người dân, luật sư và cơ quan quản lý. Mục tiêu bảo đảm mọi người dân đều có thể tiếp cận công lý chỉ bằng một thiết bị thông minh có kết nối internet.
3.3. Mở rộng hình thức trợ giúp pháp lý lưu động gắn với truyền thông pháp luật cộng đồng
Trợ giúp pháp lý lưu động (đưa luật sư, trợ giúp viên về trực tiếp tư vấn tại thôn, bản) đã chứng tỏ hiệu quả xã hội rõ nét, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Để phát huy hình thức này, cần thể chế hóa việc tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động định kỳ tại cơ sở. Chẳng hạn, mỗi xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn được đón đoàn trợ giúp pháp lý lưu động ít nhất 06 tháng một lần, có thể tổ chức linh hoạt tại nhà văn hóa xã, trụ sở Ủy ban nhân dân xã hoặc điểm sinh hoạt cộng đồng. Cách làm “đến tận nơi, gặp tận người” bảo đảm tính bao trùm của dịch vụ trợ giúp pháp lý, giảm chi phí và khắc phục rào cản địa lý cho người dân yếu thế. Cùng với đó, huy động sức mạnh của các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan truyền thông cơ sở (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Đài phát thanh xã…) để phối hợp tuyên truyền pháp luật trước, trong và sau mỗi đợt trợ giúp pháp lý lưu động. Có thể đa dạng hình thức truyền thông: phát tờ gấp tuyên truyền pháp luật, phát loa lưu động, dựng pano, biểu ngữ về trợ giúp pháp lý, thậm chí sân khấu hóa dưới dạng tiểu phẩm pháp luật để thu hút người dân. Cách tiếp cận “mang pháp luật đến tận nhà” giúp thu hẹp khoảng cách giữa cơ quan pháp luật và người dân, chuyển đổi tư duy từ “hành chính quản lý” sang “phục vụ, hỗ trợ” người dân chủ động. “Phấn đấu trợ giúp pháp lý cho 100% số người được trợ giúp pháp lý thuộc diện thụ hưởng chính sách phải được trợ giúp pháp lý khi có vướng mắc pháp luật phát sinh và có yêu cầu; đồng thời, trách nhiệm truyền thông chính sách cần giao cho chính quyền cấp xã (theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp) và phân bổ kinh phí của Chương trình về cho chính quyền xã thực hiện”[10].
Ngoài ra, cần xây dựng “ngân hàng tình huống trợ giúp pháp lý mẫu” nhằm tập hợp các vụ việc điển hình đã được trợ giúp pháp lý (tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai, thừa kế…) kèm theo hướng dẫn xử lý, để chia sẻ cho mạng lưới luật sư, trợ giúp viên trên toàn quốc, “gồm cả phương án nâng cao nhận thức cho người dân nói chung và các đối tượng nêu trên để hiểu biết và sử dụng dịch vụ trợ giúp pháp lý thông qua các phương thức truyền thông có hiệu quả trực tiếp hoặc qua sử dụng công nghệ truyền thông phù hợp với đặc điểm của người được trợ giúp pháp lý ở từng vùng miền”[11]. Việc chuẩn hóa tình huống và hướng dẫn xử lý góp phần nâng cao trình độ chuyên môn chung, đồng thời, tạo cơ sở dữ liệu thực hành phong phú phục vụ công tác đào tạo, tập huấn về sau. Về lâu dài, trợ giúp pháp lý lưu động kết hợp truyền thông cộng đồng sẽ hình thành thói quen tiếp cận pháp luật chủ động của người dân, tăng khả năng tự bảo vệ quyền lợi và củng cố niềm tin xã hội vào sự công bằng, minh bạch của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3.4. Đào tạo, bồi dưỡng trình độ, nâng cao năng lực cho luật sư tham gia trợ giúp pháp lý
Thứ nhất, yếu tố con người quyết định trực tiếp chất lượng trợ giúp pháp lý. Do đó, cần xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, hệ thống cho đội ngũ luật sư, trợ giúp viên làm công tác trợ giúp pháp lý. Trước hết, tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu theo từng nhóm lĩnh vực có nhiều vướng mắc: kỹ năng định giá đất đai, kỹ năng thương lượng với cơ quan hành chính, kỹ năng soạn thảo đơn khiếu nại, đơn khởi kiện, kỹ năng tham gia tố tụng trong vụ án dân sự, đất đai, hôn nhân gia đình. Nội dung huấn luyện phải gắn với tình huống thực tế tại địa phương, mời chuyên gia liên ngành (địa chính, Tòa án, Viện kiểm sát) tham gia để bảo đảm tính thực tiễn và đa chiều.
Thứ hai, chú trọng bồi dưỡng kỹ năng mềm và kỹ năng công nghệ cho luật sư trợ giúp pháp lý: kỹ năng lắng nghe, tư vấn tâm lý cho người yếu thế; kỹ năng truyền thông pháp luật cộng đồng; kỹ năng sử dụng thiết bị và ứng dụng số (chụp, lưu trữ hồ sơ, nộp tài liệu điện tử, quản lý vụ việc qua nền tảng trực tuyến). Sự kết hợp giữa chuyên môn pháp lý vững và năng lực số tốt sẽ giúp luật sư tham gia trợ giúp pháp lý thích ứng nhanh với yêu cầu chuyển đổi số, rút ngắn khoảng cách hỗ trợ người dân ở xa.
Thứ ba, khuyến khích mô hình “kèm cặp tại chỗ”: Đoàn luật sư tỉnh/thành phố phối hợp với Sở Tư pháp tổ chức các nhóm luật sư thực hành trợ giúp pháp lý, trong đó, luật sư giàu kinh nghiệm hướng dẫn trực tiếp luật sư trẻ qua những vụ việc thực tế tại địa phương. Hình thức “cầm tay chỉ việc” sẽ giúp luật sư trẻ tích lũy kinh nghiệm, nâng cao đạo đức hành nghề và nuôi dưỡng tinh thần đam mê công lý, phụng sự cộng đồng. Về lâu dài, cần coi việc đào tạo luật sư tham gia trợ giúp pháp lý tận tâm, vô tư và trách nhiệm[12] là một phần của chính sách phát triển nguồn nhân lực tư pháp. Nhà nước nên hỗ trợ ngân sách kết hợp huy động tài trợ xã hội cho công tác đào tạo này, đồng thời, có cơ chế khen thưởng, tôn vinh những luật sư có nhiều đóng góp trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý như trao tặng danh hiệu “Luật sư vì cộng đồng”. Sự ghi nhận trong hồ sơ hành nghề luật sư và thi đua, khen thưởng sẽ nâng cao uy tín xã hội của luật sư trợ giúp pháp lý, để luật sư thêm gắn bó với công tác này.
3.5. Tăng cường cơ chế tài chính, giám sát và đánh giá hoạt động trợ giúp pháp lý
Thứ nhất, để hoạt động trợ giúp pháp lý phát triển bền vững, cần có cơ chế tài chính minh bạch, linh hoạt và hệ thống giám sát, đánh giá đa tầng. Trước hết, cần ban hành quy chế khen thưởng và đãi ngộ đối với luật sư, tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý. Ngoài danh hiệu tôn vinh như đã phân tích, có thể quy định mức thù lao xứng đáng chi trả từ ngân sách nhà nước cho luật sư cộng tác theo vụ việc (hiện, mức hỗ trợ còn thấp, chưa hấp dẫn luật sư giỏi). Tiếp đó, xây dựng bộ chỉ số giám sát, đánh giá hiệu quả trợ giúp pháp lý định kỳ hằng năm, thực hiện ở hai cấp: cấp xã, cấp tỉnh. Các tiêu chí đánh giá cần cụ thể: số vụ việc đã giải quyết, thời gian xử lý trung bình, tỷ lệ vụ việc thành công, mức độ hài lòng của người dân (có thể lấy ý kiến sau mỗi vụ việc) và giá trị kinh tế - xã hội mang lại (ví dụ, giúp người dân đòi được bao nhiêu tiền bồi thường, giảm khiếu nại, tố cáo bao nhiêu vụ). Dữ liệu này được tổng hợp trên hệ thống điện tử dùng chung, giúp Bộ Tư pháp và địa phương có cơ sở hoạch định chính sách, phân bổ ngân sách hợp lý và điều chỉnh chiến lược phát triển mạng lưới trợ giúp pháp lý theo từng giai đoạn. Việc công khai kết quả đánh giá cũng tạo áp lực tích cực, nâng cao trách nhiệm giải trình của các đơn vị tham gia trợ giúp pháp lý, tránh hình thức.
Thứ hai, thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả trong hoạt động trợ giúp pháp lý ở cơ sở. Bộ Tư pháp cần ban hành quy chế phối hợp giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý với Ủy ban nhân dân cấp xã, Tòa án, cơ quan công an, tài nguyên - môi trường… nhằm xác định rõ đầu mối, trách nhiệm chia sẻ thông tin, hồ sơ vụ việc. Cơ chế này sẽ rút ngắn thời gian thu thập chứng cứ, nâng cao hiệu quả giải quyết vụ việc trợ giúp pháp lý và tránh tình trạng đùn đẩy giữa các cơ quan.
Thứ ba, lồng ghép, tích hợp hoạt động trợ giúp pháp lý vào các chương trình mục tiêu quốc gia “về giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, xây dựng nông thôn mới…”. Khi được tích hợp, trợ giúp pháp lý sẽ trở thành công cụ pháp lý hỗ trợ đắc lực cho các chương trình phát triển: giúp người dân hiểu quyền lợi khi tham gia dự án xóa đói giảm nghèo, tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai trong xây dựng nông thôn mới. Nhờ đó, trợ giúp pháp lý đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao năng lực tự chủ của người dân nghèo, phòng ngừa rủi ro pháp lý, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội và phát triển bền vững.
Kết luận
Trải qua hơn một thập kỷ gắn bó với công tác trợ giúp pháp lý, có thể khẳng định, đội ngũ luật sư là lực lượng nòng cốt, không thể thiếu để hiện thực hóa mục tiêu “công lý cho mọi người” trong chiến lược trợ giúp pháp lý quốc gia đến năm 2030. Những đóng góp của các luật sư tình nguyện, từ việc lắng nghe, chia sẻ câu chuyện pháp lý đời thường cho đến việc kiên trì, đồng hành để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào công lý. Mỗi vụ việc trợ giúp pháp lý thành công, mỗi người dân yếu thế tìm được công lý là minh chứng sống động cho giá trị nhân văn của hoạt động trợ giúp pháp lý: đó không chỉ là chính sách pháp lý đơn thuần, mà còn là biểu hiện của tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong kỷ nguyên số, trước những yêu cầu mới, Nhà nước và đội ngũ luật sư cần tiếp tục đồng hành, phối hợp chặt chẽ để đưa hoạt động trợ giúp pháp lý lên tầm cao mới. Nhà nước phát huy vai trò kiến tạo thể chế, hoàn thiện chính sách, khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi để các luật sư tham gia trợ giúp pháp lý; Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư địa phương làm tốt chức năng tập hợp, động viên luật sư xung kích trên mặt trận trợ giúp pháp lý; các bộ, ngành, đoàn thể cùng vào cuộc để trợ giúp pháp lý thực sự trở thành phong trào rộng khắp, gắn kết với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Khi mỗi người dân, dù ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, đều được tiếp cận dịch vụ pháp lý kịp thời, được lắng nghe và được bảo vệ công lý. Khi đó, hoạt động trợ giúp pháp lý không chỉ là dịch vụ công, chính sách an sinh, mà còn là biểu tượng của Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đó là mục tiêu mà đội ngũ luật sư tham gia trợ giúp pháp lý luôn hướng tới: mang công lý đến gần cuộc sống hơn, để pháp luật thực sự trở thành nền tảng của niềm tin và động lực phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
LS. Nguyễn Thị Thu Hà
Giám đốc Công ty Luật TNHH Vương Nguyễn Associates
[1]. Thanh Trịnh (2017), Một số điểm mới nổi bật Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các công việc cần triển khai, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=96&l=Nghiencuuvetgpl, truy cập ngày 09/11/2025.
[2]. Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2025), Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý - Kết quả đạt được và một số định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới, https://danchuphapluat.vn/cong-tac-pho-bien-giao-duc-phap-luat-tro-giup-phap-ly-ket-qua-dat-duoc-va-mot-so-dinh-huong-phat-trien-trong-ky-nguyen-moi-7702.html, truy cập ngày 09/11/2025.
[3]. Phát biểu của Chủ tịch nước Lương Cường tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/phat-bieu-cua-chu-tich-nuoc-tai-le-ky-niem-80-nam-ngay-truyen-thong-luat-su-viet-nam-a164402.html, truy cập ngày 09/11/2025.
[4]. Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2025), tlđd.
[5]. Trịnh Thị Tuyết Mai (2024), Quyền trợ giúp pháp lý của người khuyết tật theo quy định của pháp luật Việt Nam, https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/08/22/quyen-tro-giup-phap-ly-cua-nguoi-khuyet-tat-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-viet-nam/, truy cập ngày 09/11/2025.
[6]. Cổng thông tin trợ giúp pháp lý quốc gia, Bộ Tư pháp: Trang thông tin trợ giúp pháp lý, https://tgpl.moj.gov.vn; Tổng đài: 024.6273.9631.
[7]. Phát biểu của Chủ tịch nước Lương Cường tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/phat-bieu-cua-chu-tich-nuoc-tai-le-ky-niem-80-nam-ngay-truyen-thong-luat-su-viet-nam-a164402.html, truy cập ngày 09/11/2025.
[8]. Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2025), tlđd.
[9]. Bộ Tư pháp (2019), Một số suy nghĩ về nâng cao chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=66&l=Nghiencuuvetgpl, truy cập ngày 09/11/2025.
[10]. Phạm Quang Đại (2025), Hoàn thiện chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý trong kỷ nguyên mới Tạp chí điện tử Dân chủ và Pháp luật, https://danchuphapluat.vn/hoan-thien-chinh-sach-phap-luat-ve-tro-giup-phap-ly-trong-ky-nguyen-moi-6875.html, truy cập ngày 09/11/2025.
[11]. Phòng Chính sách và quản lý nghiệp vụ, Cục trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2022), Bàn về một số định hướng triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=1897&l=Nghiencuutraodoi, truy cập ngày 09/11/2025.
[12]. Dương Văn Quang (2023), trợ giúp pháp lý bằng sự tận tâm, vô tư và trách nhiệm của luật sư, https://lsvn.vn/tro-giup-phap-ly-bang-su-tan-tam-vo-tu-va-trach-nhiem1667835190-a126015.html, truy cập ngày 09/11/2025.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thanh Trịnh (2017), Một số điểm mới nổi bật Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các công việc cần triển khai, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=96&l=Nghiencuuvetgpl, truy cập ngày 09/11/2025.
2. Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2025), Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý - Kết quả đạt được và một số định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới, https://danchuphapluat.vn/cong-tac-pho-bien-giao-duc-phap-luat-tro-giup-phap-ly-ket-qua-dat-duoc-va-mot-so-dinh-huong-phat-trien-trong-ky-nguyen-moi-7702.html, truy cập ngày 09/11/2025.
3. Phát biểu của Chủ tịch nước Lương Cường tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/phat-bieu-cua-chu-tich-nuoc-tai-le-ky-niem-80-nam-ngay-truyen-thong-luat-su-viet-nam-a164402.html, truy cập ngày 09/11/2025.
4. Trịnh Thị Tuyết Mai (2024), Quyền trợ giúp pháp lý của người khuyết tật theo quy định của pháp luật Việt Nam, https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/08/22/quyen-tro-giup-phap-ly-cua-nguoi-khuyet-tat-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-viet-nam/, truy cập ngày 09/11/2025.
5. Bộ Tư pháp (2019), Một số suy nghĩ về nâng cao chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=66&l=NghiencuuveTGPL, truy cập ngày 09/11/2025.
6. Phạm Quang Đại (2025), Hoàn thiện chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý trong kỷ nguyên mới Tạp chí điện tử Dân chủ và Pháp luật, https://danchuphapluat.vn/hoan-thien-chinh-sach-phap-luat-ve-tro-giup-phap-ly-trong-ky-nguyen-moi-6875.html, truy cập ngày 09/11/2025.
7. Phòng Chính sách và quản lý nghiệp vụ, Cục trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2022), Bàn về một số định hướng triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=1897&l=Nghiencuutraodoi, truy cập ngày 09/11/2025.
8. Dương Văn Quang (2023), trợ giúp pháp lý bằng sự tận tâm, vô tư và trách nhiệm của luật sư, https://lsvn.vn/tro-giup-phap-ly-bang-su-tan-tam-vo-tu-va-trach-nhiem1667835190-a126015. html, truy cập ngày 09/11/2025.
(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý” năm 2025)