Đặt vấn đề
Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Sau khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 được thông qua, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1355/QĐ-TTg ngày 12/9/2017 về Kế hoạch triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương đã ban hành kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, góp phần thực hiện quyền con người, quyền công dân. Qua 08 năm thực hiện, công tác trợ giúp pháp lý đã đạt được những kết quả đáng kể.
1. Kết quả đạt được
1.1. Thể chế trợ giúp pháp lý ngày càng hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho công tác trợ giúp pháp lý
Công tác xây dựng thể chế về trợ giúp pháp lý được chú trọng nhằm tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho việc triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý trên phạm vi cả nước. Trên cơ sở Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, nhiều văn bản pháp luật được ban hành để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật[1]. Bên cạnh đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật có quy định hoặc liên quan đến trợ giúp pháp lý như: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2019, 2025), Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024, Nghị định số 121/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp...
Ngoài ra, chính sách trợ giúp pháp lý được đưa vào các chương trình, kế hoạch chuyên đề để triển khai đồng bộ cùng các chính sách về an sinh xã hội khác. Ví dụ, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025; Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025; Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035; Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030; Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng đến năm 2030…
Các văn bản này không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai đồng bộ, thống nhất công tác trợ giúp pháp lý trong phạm vi toàn quốc, mà còn góp phần thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quy định của Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và nội luật hóa các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý, quyền bình đẳng trước pháp luật của người dân, nhất là nhóm người dễ bị tổn thương.
1.2. Tổ chức và nguồn nhân lực thực hiện trợ giúp pháp lý được củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Trên cơ sở quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, hệ thống tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý được kiện toàn.
- Cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý: ở trung ương, Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý trong phạm vi toàn quốc. Cục Phổ biến giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý (trước ngày 01/3/2025 là Cục Trợ giúp pháp lý) là đơn vị chuyên môn của Bộ Tư pháp có trách nhiệm tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành trợ giúp pháp lý.
Ở địa phương, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý trong phạm vi địa phương. Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn giúp UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ này.
- Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý: theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý gồm Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý.
+ Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước (Trung tâm) là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp, do UBND cấp tỉnh thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng[2]. Trung tâm có thể có Chi nhánh, là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm, do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập. Tính đến ngày 31/12/2024, cả nước có 63 Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và 97 Chi nhánh trực thuộc Trung tâm. Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, đến nay, có 53 Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và 81 Chi nhánh hoạt động tại 34 tỉnh, thành phố. Như vậy, một số tỉnh/thành phố có 03 Trung tâm như: Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Vĩnh Long, Phú Thọ; một số tỉnh/thành phố có 02 Trung tâm như: Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Ngãi…
+ Các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý gồm tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý. Hiện, có 147 tổ chức hành nghề luật sư, 30 tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố.
- Người thực hiện trợ giúp pháp lý: tính đến ngày 30/9/2025, số lượng người thực hiện trợ giúp pháp lý khoảng 1.440 người, trong đó có 712 trợ giúp viên pháp lý, 706 luật sư và 22 cộng tác viên ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm; 463 luật sư, tư vấn viên của các tổ chức đăng ký tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý[3].
Chất lượng nguồn nhân lực thực hiện trợ giúp pháp lý được quan tâm, chú trọng. Tiêu chuẩn của người thực hiện trợ giúp pháp lý được quy định cụ thể hơn so với quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006[4]. Việc quy định tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể đối với tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý đã thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý có chất lượng cho nhóm thuộc diện trợ giúp pháp lý. Hằng năm, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành và địa phương đã hướng dẫn và xây dựng các tài liệu, tổ chức các lớp tập huấn cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý. Ở trung ương, mỗi năm tổ chức trên 10 lớp, quy mô 40 - 60 học viên/lớp. Ở địa phương, trung bình mỗi tỉnh, thành phố tổ chức từ 04 - 05 lớp/năm. Nội dung tập huấn tập trung vào cập nhật kiến thức pháp luật, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ, kỹ năng mềm và ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý và cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, đặc biệt là trợ giúp pháp lý cho nhóm đặc thù. Qua đó, giúp đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý và những người tham gia phối hợp trong trợ giúp pháp lý nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp và công tác phối hợp đáp ứng nhu cầu trợ giúp pháp lý ngày càng đa dạng, phức tạp của người dân.
1.3. Công tác phối hợp trong trợ giúp pháp lý được tăng cường, bảo đảm chặt chẽ và hiệu quả
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc phối hợp bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người dân thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Cụ thể, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định trách nhiệm của Bộ Tư pháp[5] và các bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý[6]; UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý tại địa phương[7]; trách nhiệm của các cơ quan tố tụng như Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng... phối hợp trợ giúp pháp lý trong tố tụng[8]; các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư như Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn Luật sư tỉnh/thành phố, tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật… có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc quản lý, giám sát việc thực hiện trợ giúp pháp lý của các tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý[9].
Trên cơ sở quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Tiếp đó, Chương trình phối hợp số 1603/CTPH-BTP-TANDTC ngày 19/5/2022 giữa Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao quy định người thực hiện trợ giúp pháp lý trực tại Tòa án nhân dân; Chương trình phối hợp số 5789/CTPH-BTP-BCA ngày 27/11/2023 giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an về trực trợ giúp pháp lý trong hoạt động điều tra hình sự; Quy chế phối hợp số 4617/QCPH/BTP-LĐLSVN ngày 28/12/2016 giữa Bộ Tư pháp với Liên đoàn Luật sư Việt Nam về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư... Trên cơ sở các văn bản của trung ương, các địa phương đã ban hành kế hoạch, chương trình phối hợp tại địa bàn, tạo cơ sở triển khai công tác phối hợp trợ giúp pháp lý thống nhất và toàn diện trên phạm vi toàn quốc.
1.4. Các vụ việc trợ giúp pháp lý được tăng cường về số lượng và chất lượng
Số lượng và chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý được kiểm soát chặt chẽ, từng bước bảo đảm sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, góp phần giúp người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm người “dễ bị tổn thương” tiếp cận công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Kể từ khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực (ngày 01/01/2018) đến ngày 30/9/2025, toàn quốc có 258.225 vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện; trong đó, có 160.140 vụ việc tham gia tố tụng, chiếm 62.01%; còn lại là các vụ việc tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng[10].
Cùng với đó, chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý được quan tâm, chú trọng. Hầu hết các vụ việc trợ giúp pháp lý được đánh giá đạt chất lượng khá và tốt. Có 43.938 vụ việc tham gia tố tụng được đánh giá thành công (chiếm 31,6% tổng số vụ việc tham gia tố tụng). Trong đó, trợ giúp viên pháp lý thực hiện 86% tổng số vụ việc thành công. Vai trò của người thực hiện trợ giúp pháp lý được nâng cao. Nhiều lập luận của người thực hiện trợ giúp pháp lý được ghi nhận trong các bản án, quyết định của Tòa án.
1.5. Công tác truyền thông và ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong trợ giúp pháp lý được đổi mới, tăng cường
Hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý được thực hiện đồng bộ ở cả trung ương và địa phương; ngày càng đổi mới, đa dạng hơn về hình thức, phong phú về nội dung và cách thức thực hiện. Bên cạnh tổ chức các chương trình, chiến dịch truyền thông trực tiếp về cơ sở; trang bị hộp tin, bảng tin điện tử về trợ giúp pháp lý tại trụ sở cơ quan tố tụng, chính quyền cơ sở; phối hợp với báo nói, báo hình thực hiện các chương trình truyền thông diện rộng..., các hình thức truyền thông hiện đại đã được áp dụng như: xây dựng các phóng sự, video clip, thông điệp... theo chủ đề hoặc đối tượng tác động; phát huy tối đa công năng của đường dây nóng và internet qua Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp, Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Cổng Pháp luật quốc gia; sử dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong trợ giúp pháp lý; tích hợp thông tin trợ giúp pháp lý trên VNeID.
Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý được Bộ Tư pháp xây dựng, đưa vào hoạt động từ năm 2019, quản lý tập trung dữ liệu vụ việc, tổ chức, cá nhân thực hiện trợ giúp pháp lý trên phạm vi toàn quốc. Từ năm 2024, Hệ thống đã kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, giúp người dùng có thể tra cứu thông tin từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trên Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý khi nhập thông tin về người được trợ giúp pháp lý, người yêu cầu trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý. Nhiều địa phương đã thiết lập điểm cầu xét xử trực tuyến. Đến nay, nhiều trợ giúp viên pháp lý đã tham gia bào chữa hoặc bảo vệ trong các vụ việc xét xử trực tuyến do Tòa án tổ chức.
1.6. Kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác trợ giúp pháp lý được quan tâm bảo đảm
Kinh phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước để bảo đảm tính ổn định và bền vững cho hoạt động trợ giúp pháp lý. Kinh phí được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm của Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương liên quan. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên bố trí kinh phí để thực hiện trợ giúp pháp lý cho một số đối tượng đặc thù; đưa trợ giúp pháp lý là một trong các chính sách triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia[11] với nhiều hoạt động như truyền thông về trợ giúp pháp lý, tăng cường năng lực cho cán bộ cộng đồng, cán bộ cơ sở,… để tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng trợ giúp pháp lý của người dân, nhất là người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Trụ sở làm việc của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm được UBND cấp tỉnh quan tâm bố trí. Đa số các Trung tâm được bố trí các địa điểm phù hợp, thuận tiện cho người dân đến yêu cầu trợ giúp pháp lý nhà nước. Nhiều Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước được bố trí trụ sở riêng, tạo điều kiện thuận tiện để người dân tiếp cận. Các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý được cấp các trang thiết bị hiện đại như máy tính kết nối mạng với tốc độ cao, máy scan, máy quay, máy chiếu… phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ.
2. Định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Bước vào kỷ nguyên mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng, trong đó có công tác trợ giúp pháp lý như: Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW); Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW); Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới (Nghị quyết số 59-NQ/TW). Đặc biệt, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW) đặt ra yêu cầu: thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hệ thống dịch vụ pháp lý, hỗ trợ pháp lý, trợ giúp pháp lý, đăng ký biện pháp bảo đảm để người dân và doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật, quản trị rủi ro pháp lý; ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số đồng bộ trong phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý; ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định mục tiêu: năm 2025, cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật, trong đó có pháp luật trợ giúp pháp lý; năm 2027, hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền 03 cấp.
Các chủ trương của Đảng và Nhà nước đã tạo cơ sở chính trị quan trọng cho việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, trước tiên là sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản pháp luật có liên quan. Khi nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý, cần lưu ý một số nội dung sau:
Thứ nhất, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý trong giai đoạn mới cần bám sát tinh thần của Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW. Định hướng cốt lõi trong trợ giúp pháp lý là bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý trở thành một trong những quyền cơ bản của những người thuộc diện trợ giúp pháp lý; được thực thi hiệu quả, thiết thực, góp phần hiện thực hóa mục tiêu công bằng xã hội và bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý. Cần rà soát, tổng kết, đánh giá việc thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn nhằm phát hiện, tháo gỡ những “điểm nghẽn” về đối tượng, phạm vi, lĩnh vực, thủ tục trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, hướng tới mục tiêu năm 2027 cơ bản hoàn thành tháo gỡ các vướng mắc.
Thứ hai, mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý thông qua việc đẩy mạnh xã hội hóa và đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch vụ. Pháp luật cần tạo cơ chế khuyến khích, thu hút sự tham gia mạnh mẽ của các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật, các chuyên gia pháp luật trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí; cùng với việc nâng cao trách nhiệm, năng lực và hiệu quả của các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và người thực hiện trợ giúp pháp lý. Đặc biệt, cần ưu tiên nguồn lực và có cơ chế phù hợp để thực hiện tốt nhiệm vụ trợ giúp pháp lý có chất lượng cho đối tượng đặc thù theo yêu cầu của Nghị quyết số 66-NQ/TW. Điều này gồm việc hiện đại hóa và nâng cao vị trí, vai trò của các Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước; chuẩn hóa người thực hiện trợ giúp pháp lý; đổi mới phương thức quản lý, giám sát, đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý bảo đảm thực chất, hiệu quả; ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích, động viên nguồn nhân lực có chất lượng tham gia trợ giúp pháp lý, trong đó có khen thưởng, kỷ luật; chế độ thù lao, bồi dưỡng, thăng hạng… cho người thực hiện trợ giúp pháp lý bảo đảm đủ động lực và điều kiện hoạt động, kể cả ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Thứ ba, trong kỷ nguyên chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, pháp luật về trợ giúp pháp lý cần được hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện ứng dụng đồng bộ công nghệ số vào công tác quản lý và quy trình, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý. Điều này không chỉ gồm quy định số hóa hồ sơ vụ việc, mà còn phát triển hệ thống “trợ giúp pháp lý số”, tăng cường chuyển đổi số trong tiếp nhận yêu cầu trợ giúp pháp lý và thực hiện nghiệp vụ trợ giúp pháp lý. Đồng thời, với việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, cần thực hiện trợ giúp pháp lý từ xa qua các nền tảng trực tuyến, bảo đảm tính xác thực, an toàn thông tin và tiện lợi cho người dân, ứng dụng, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về trợ giúp pháp lý với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu chuyên ngành để tối đa hóa hiệu quả quản lý hoạt động, theo dõi chất lượng đồng bộ, minh bạch, nhanh chóng. Mục tiêu của nhóm giải pháp này để người dân, nhất là nhóm yếu thế dễ tiếp cận pháp luật và trợ giúp pháp lý, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.
Thứ tư, việc hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý phải gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết số 59-NQ/TW. Hệ thống pháp luật trợ giúp pháp lý cần được rà soát, hoàn thiện để kịp thời nội luật hóa các cam kết quốc tế, bảo đảm tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan đến quyền con người, quyền tiếp cận công lý và trợ giúp pháp lý. Đồng thời, cần tạo cơ sở pháp lý cho việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, trao đổi kinh nghiệm và hỗ trợ kỹ thuật để nâng cao chất lượng đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý, hiện đại hóa hệ thống trợ giúp pháp lý. Với định hướng này, trợ giúp pháp lý của Việt Nam không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển trong nước, mà còn phù hợp với các chuẩn mực tiến bộ của khu vực và thế giới về bảo đảm quyền công lý cho người dân, nhất là nhóm yếu thế, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về tích cực, chủ động hội nhập quốc tế sâu, rộng.
Kết luận
Trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu, rộng và yêu cầu đổi mới công tác xây dựng pháp luật, hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý cần tiếp tục được hoàn thiện. Trọng tâm là tháo gỡ các vướng mắc của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng dịch vụ; đẩy mạnh xã hội hóa; ứng dụng đồng bộ công nghệ số trong quản lý và cung cấp dịch vụ; đồng thời, bảo đảm sự phù hợp với các cam kết và chuẩn mực quốc tế. Với những định hướng trên, trợ giúp pháp lý sẽ tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững, công bằng và hiện đại của đất nước trong kỷ nguyên mới./.
ThS. Vũ Thị Hường
Phó Cục trưởng Cục Phổ biến giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý
[1]. 01 nghị định, 01 thông tư liên tịch và 15 thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
[2]. Điều 10, Điều 11 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
[3]. Số liệu do Cục Phổ biến giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý cung cấp.
[4.] Tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý tương đương với tiêu chuẩn của luật sư: có trình độ cử nhân luật trở lên; đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý. Tư vấn viên pháp luật phải có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý. Cộng tác viên trợ giúp pháp lý phải là những người có kinh nghiệm pháp luật lâu năm để bảo đảm chất lượng và có khả năng thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý.
[5]. Khoản 2 Điều 40 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
[6]. Khoản 3 Điều 40 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
[7]. Khoản 4 Điều 40 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
[8]. Điều 41 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
[9]. Điều 42, Điều 43, Điều 44 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
[10]. Số liệu thống kê của Cục Phổ biến giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý.
[11]. Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2020, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025; Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025; Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025; Nghị quyết số 162/2024/QH15 ngày 27/11/2024 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035 và Nghị quyết số 163/2024/QH15 ngày 27/11/2024 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc hội (2024), Nghị quyết số 162/2024/QH15 ngày 27/11/2024 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035.
2. Quốc hội (2024), Nghị quyết số 163/2024/QH15 ngày 27/11/2024 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030.
3. Chính phủ (2022), Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025.
4. Chính phủ (2022), Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22/02/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025.
5. Chính phủ (2021), Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2020, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.
6. Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2018), Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.
(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý” năm 2025)