Từ khóa: xử lý vật chứng; Bộ luật Hình sự; tố tụng hình sự; tịch thu vật, tiền; quyền tài sản; Điều 106.
IMPROVING THE MECHANISM FOR HANDLING PHYSICAL EVIDENCE IN VIETNAMESE CRIMINAL PROCEDURE
Abstract: The handling of physical evidence is a process that determines the legal status of such evidence, while directly impacting its probative value and property rights. This study analyzes the 2015 Criminal Procedure Code (as amended and supplemented in 2021 and 2025) in conjunction with the 2015 Penal Code (as amended and supplemented in 2017 and 2025) and relevant civil law. It focuses on clarifying the legal grounds for confiscation, the competent authorities, the forms and procedures for handling evidence, the criteria for identifying instruments and means used in the commission of a crime, and the assessment of the owner's culpability. Furthermore, it examines mechanisms for handling jointly owned property and mortgaged assets, the scope and procedures for transferring specific types of physical evidence to specialized agencies, and the protection of third-party rights. Based on the identified shortcomings, the study proposes amendments to Articles 85 and 106 of the 2015 Criminal Procedure Code, suggests improvements to procedures concerning secured assets, and recommends the issuance of inter-agency guidelines to ensure consistency in the transfer, receipt, preservation, and handling of physical evidence.
Keywords: Handling of physical evidence; Penal Code; criminal procedure; confiscation of property and funds; property rights; Article 106.
Đặt vấn đề
Vật chứng trong tố tụng hình sự vừa là nguồn chứng cứ quan trọng để giải quyết vụ án, vừa có thể là tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, việc xử lý vật chứng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chứng minh tội phạm và quyền tài sản của các chủ thể có liên quan. Việc tiếp tục lưu giữ tài sản có thể cần thiết để bảo toàn tính nguyên vẹn của thông tin chứng minh, nhưng kéo dài thời gian lưu giữ có thể làm cho tài sản hao mòn, giảm giá trị kinh tế, phát sinh chi phí bảo quản và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu hoặc người thứ ba ngay tình. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với cơ chế xử lý vật chứng là bảo đảm hài hòa các lợi ích này.
Điều 106 BLTTHS năm 2015 là quy phạm trung tâm, trực tiếp điều chỉnh thẩm quyền, thời điểm và hình thức xử lý vật chứng. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này có mối liên hệ chặt chẽ với Điều 47 và Điều 48 BLHS năm 2015; các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về quyền sở hữu, sở hữu chung và giao dịch bảo đảm; pháp luật về hôn nhân và gia đình và các quy định quản lý chuyên ngành. Vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng cần được đặt trong mối quan hệ giữa pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và pháp luật dân sự về tài sản. Trên cơ sở phân tích lý luận, quá trình hình thành và thực trạng quy định pháp luật, nghiên cứu làm rõ những bất cập, khoảng trống trong quy định về căn cứ xử lý vật chứng và bảo đảm quyền tài sản, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện.
1. Một số vấn đề về xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
Vật chứng là nguồn chứng cứ quan trọng, trực tiếp phản ánh dấu vết tội phạm. Việc xử lý vật chứng đòi hỏi cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng vừa phải khai thác triệt để giá trị chứng minh, vừa phải định đoạt chính xác số phận pháp lý của vật thể, bảo vệ quyền sở hữu và quyền quản lý hợp pháp của các chủ thể đối với tài sản. Vì vậy, việc làm rõ bản chất hoạt động này là cơ sở để áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn giải quyết vụ án.
1.1. Quan điểm xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
Theo điểm a khoản 1 Điều 87 và Điều 89 BLTTHS năm 2015, vật chứng là nguồn chứng cứ gồm công cụ, phương tiện, vật mang dấu vết, đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh vụ án. Về lý luận, tư cách vật chứng hình thành từ mối liên hệ khách quan với vấn đề cần chứng minh, không phụ thuộc duy nhất vào việc đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu giữ hay quản lý.
Theo BLTTHS năm 2015, xử lý vật chứng tách biệt với hoạt động thu thập vật chứng (Điều 105), bảo quản vật chứng (Điều 90) và kiểm tra, đánh giá chứng cứ (Điều 108). Nếu các hoạt động trên nhằm xác lập và duy trì giá trị chứng minh, thì xử lý vật chứng hướng tới quyết định số phận pháp lý cùng biện pháp xử lý đối với vật sau khi thông tin chứng cứ đã được bảo toàn.
Dưới góc độ thẩm quyền và trình tự tố tụng, có quan điểm cho rằng, xử lý vật chứng là hoạt động tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, với sự tham gia của các chủ thể liên quan, nhằm xác định địa vị pháp lý của vật chứng thông qua các hình thức xử lý theo trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng hình sự[1]. Quan điểm này làm rõ tính chất tố tụng, chủ thể, sự tham gia của người liên quan và mục tiêu xác định địa vị pháp lý, nhưng chưa phản ánh đầy đủ căn cứ, thời điểm, mục đích chứng minh và hậu quả đối với quyền tài sản.
Tuy nhiên, có quan điểm khác cho rằng, xử lý vật chứng là hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, tiến hành một số hoạt động điều tra, xem xét, quyết định về pháp lý đối với vật chứng theo hình thức, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm xóa bỏ điều kiện hỗ trợ hành vi phạm tội, khôi phục quyền lợi của chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp[2]. Quan điểm này làm rõ mục đích loại bỏ điều kiện hỗ trợ tội phạm và khôi phục quyền lợi hợp pháp, nhưng cụm từ “một số hoạt động điều tra” chưa bao quát việc xử lý ở giai đoạn truy tố, xét xử hoặc khi vụ án bị đình chỉ.
Bên cạnh đó, cần phân biệt xử lý vật chứng với kê biên tài sản theo Điều 128 BLTTHS năm 2015. Kê biên nhằm bảo đảm phạt tiền, tịch thu tài sản hoặc bồi thường thiệt hại, chưa định đoạt số phận pháp lý của tài sản; tài sản bị kê biên không mặc nhiên là vật chứng. Xử lý vật chứng cũng khác với biện pháp tư pháp tại Điều 47 BLHS năm 2015 quy định căn cứ, điều kiện tịch thu, còn Điều 106 BLTTHS năm 2015 xác định thẩm quyền, thời điểm và phương thức xử lý. Khác với thi hành án là khâu tổ chức thực hiện bản án sau cùng, vật chứng có thể được xử lý ngay trong các giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu, xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện trong các giai đoạn luật định. Căn cứ vào giá trị chứng minh, quan hệ sở hữu và yêu cầu giải quyết vụ án, chủ thể này quyết định áp dụng hình thức tịch thu, tiêu hủy, trả lại, bán hoặc giao cơ quan chuyên ngành; qua đó, định đoạt số phận pháp lý của vật chứng, đồng thời, bảo đảm yêu cầu chứng minh, lợi ích Nhà nước cùng quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan..
1.2. Đặc điểm của xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự
Việc làm rõ các đặc điểm của xử lý vật chứng giúp nhận diện bản chất pháp lý của hoạt động này giữa quan hệ công quyền và bảo vệ quyền tài sản.
Thứ nhất, xử lý vật chứng là hoạt động tố tụng mang tính quyền lực nhà nước, do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định theo Điều 106 BLTTHS năm 2015. Chủ sở hữu và người liên quan được trình bày ý kiến, cung cấp tài liệu, khiếu nại hoặc kháng cáo, nhưng không có quyền định đoạt hình thức xử lý. Quyết định xử lý hợp pháp có hiệu lực khôi phục, chuyển dịch hoặc chấm dứt quyền tài sản.
Thứ hai, xử lý vật chứng gắn liền với tiến trình tố tụng và có thể thực hiện trước khi vụ án kết thúc. Khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 cho phép trả lại, bán hoặc giao vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Việc xử lý sớm chỉ hợp pháp khi giá trị chứng minh được bảo toàn và không gây cản trở cho giải quyết vụ án hay thi hành án.
Thứ ba, đối tượng xử lý đa dạng về đặc tính vật lý và quan hệ pháp lý, từ công cụ phạm tội, vật cấm, hàng mau hỏng đến tài sản chung, thế chấp hay thuộc quyền của người thứ ba. Vì thế, có nghiên cứu cho rằng, tính chất, đặc điểm, hình thức, kích cỡ, số lượng vật chứng thu giữ trong quá trình chứng minh vụ án có ảnh hưởng mang tính quyết định đến hình thức xử lý vật chứng, khẳng định mối quan hệ biện chứng, trong đó, những dấu hiệu thuộc về bản chất của vật chứng, quyết định hình thức xử lý vật chứng[3]. Quan điểm này cho thấy, hình thức xử lý vật chứng phải được lựa chọn trên cơ sở tổng hợp đặc điểm pháp lý và thực tế, không chỉ dựa vào tên gọi của tài sản.
Thứ tư, xử lý vật chứng phải bảo đảm song hành giá trị chứng minh và quyền tài sản. Xử lý khi chưa đủ căn cứ chứng minh sẽ cản trở hoạt động giám định, định giá và tranh tụng; ngược lại, kéo dài lưu giữ không cần thiết làm suy giảm giá trị vật chất và xâm hại quyền tài sản. Vì vậy, các nguyên tắc bảo đảm pháp chế, bảo hộ quyền tài sản và xác định sự thật khách quan phải được thực thi đồng thời.
Thứ năm, mỗi hình thức xử lý phát sinh hệ quả pháp lý khác nhau: trả lại làm khôi phục quyền chiếm hữu, sở hữu; tịch thu làm chuyển dịch quyền sở hữu; tiêu hủy làm chấm dứt sự tồn tại vật chất; bán chuyển hiện vật thành tiền; giao cơ quan chuyên ngành chuyển giao trách nhiệm quản lý kỹ thuật. Vì vậy, quyết định xử lý bắt buộc phải có căn cứ, lập thành văn bản và bảo đảm khả năng kiểm tra.
2. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về xử lý vật chứng
BLTTHS năm 2015 đã xác lập khuôn khổ pháp lý điều chỉnh chế định xử lý vật chứng. Trong đó, căn cứ và nguyên tắc xử lý giữ vai trò định hướng, bảo đảm quyết định tố tụng vừa phục vụ yêu cầu chứng minh, vừa bảo vệ quyền sở hữu, quyền quản lý hợp pháp của các chủ thể đối với tài sản.
2.1. Căn cứ và nguyên tắc xử lý vật chứng
BLTTHS năm 2015 đã quy định về căn cứ và nguyên tắc xử lý vật chứng như sau:
Thứ nhất, xác định đúng tư cách vật chứng. BLTTHS năm 2015 quy định chặt chẽ từ thuộc tính (Điều 89), thu thập (Điều 105), bảo quản (Điều 90) đến kiểm tra, đánh giá chứng cứ (Điều 108). Chỉ đồ vật thỏa mãn các thuộc tính luật định mới là đối tượng xử lý vật chứng; tài sản bị thu giữ, tạm giữ không phải vật chứng phải được trả lại ngay theo điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015.
Thứ hai, căn cứ vào nguồn gốc, tính chất và giá trị của vật chứng. Khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 phân loại công cụ, phương tiện phạm tội; vật cấm tàng trữ, lưu hành; tài sản do phạm tội mà có; vật không còn giá trị sử dụng. Khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 điều chỉnh tài sản trả lại sớm, hàng mau hỏng, khó bảo quản, động vật hoang dã và thực vật ngoại lai. Việc phân loại này là cơ sở lựa chọn biện pháp và xác định hệ quả pháp lý tương ứng.
Thứ ba, bảo đảm yêu cầu chứng minh và thi hành án. Điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 chỉ cho phép trả lại vật chứng khi không cản trở giải quyết vụ án và thi hành án. Theo Điều 26 BLTTHS năm 2015, việc xử lý vật chứng phải được tranh luận, làm rõ tại phiên tòa; phán quyết của Tòa án phải căn cứ kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và tranh tụng. Do đó, quyết định xử lý vật chứng phải bảo đảm tính hợp pháp, cần thiết, tương xứng và tôn trọng quyền của chủ thể liên quan.
2.2. Thẩm quyền và thời điểm xử lý vật chứng
Khoản 1 Điều 106 BLTTHS năm 2015 phân định thẩm quyền xử lý vật chứng theo từng giai đoạn: Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định khi đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát khi đình chỉ truy tố; Chánh án Tòa án khi đình chỉ chuẩn bị xét xử; Hội đồng xét xử khi xét xử vụ án. Việc thi hành quyết định phải lập biên bản.
Khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 cho phép xử lý một số vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Quy định này kết hợp xử lý khi vụ án kết thúc với xử lý sớm đối với tài sản không cần tiếp tục tạm giữ, hàng mau hỏng hoặc đối tượng giao cơ quan chuyên ngành. Thời điểm xử lý cụ thể phải bảo đảm không làm mất giá trị chứng minh và không cản trở việc thi hành án.
2.3. Các hình thức xử lý vật chứng
BLTTHS năm 2015 quy định các hình thức xử lý vật chứng như sau:
Thứ nhất, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 đối với công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành, tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có. Việc áp dụng đối với công cụ, phương tiện cần đối chiếu chặt chẽ với Điều 47 BLHS năm 2015, đặc biệt, khi tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác.
Thứ hai, tịch thu, tiêu hủy áp dụng đối với công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm thuộc diện phải loại bỏ; vật chứng mất giá trị sử dụng (điểm c khoản 2) hoặc vật mau hỏng không bán được (điểm c khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015). Biện pháp này chấm dứt sự tồn tại vật chất của vật chứng, nên chỉ được thực hiện khi giá trị chứng minh của vật chứng đã được bảo toàn đầy đủ.
Thứ ba, trả lại tài sản theo khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 gồm hai trường hợp: (i) trả lại ngay tài sản thu giữ, tạm giữ nhưng không phải vật chứng nhằm chấm dứt biện pháp cưỡng chế không căn cứ (điểm a); (ii) trả lại vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu không cản trở việc giải quyết vụ án và thi hành án (điểm b), qua đó, kịp thời phục hồi quyền sở hữu, chiếm hữu tài sản.
Thứ tư, bán vật chứng áp dụng đối với hàng mau hỏng hoặc khó bảo quản theo điểm c khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015; tiền thu được chuyển vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước theo khoản 1 Điều 90 BLTTHS năm 2015. Bán vật chứng là biện pháp xử lý tạm thời nhằm chuyển hóa hình thái tài sản, hạn chế hao hụt và áp lực bảo quản, chưa định đoạt triệt để số phận pháp lý của vật chứng. Quyết định xử lý đối với khoản tiền phụ thuộc vào nguồn gốc tài sản và phán quyết giải quyết vụ án.
Thứ năm, giao vật chứng cho cơ quan quản lý chuyên ngành đối với động vật hoang dã, thực vật ngoại lai ngay sau khi có kết luận giám định theo điểm d khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Biện pháp này chuyển giao vật chứng cho cơ quan có năng lực chuyên môn quản lý để phục vụ cứu hộ, bảo tồn, ngăn ngừa phát tán sinh thái hoặc xử lý đúng quy định pháp luật chuyên ngành.
2.4. Trình tự, thủ tục xử lý vật chứng
BLTTHS năm 2015 quy định, vật chứng phải được mô tả, đưa vào hồ sơ hoặc chụp ảnh, ghi hình (Điều 105); đồng thời, niêm phong, bảo quản phù hợp (Điều 90) nhằm bảo toàn giá trị chứng minh.
Quyết định xử lý do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ban hành theo khoản 1 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Khi xét xử, việc xử lý phải được xem xét tại phiên tòa và ghi trong bản án. Việc thi hành phải lập biên bản, ghi rõ chủng loại, số lượng, hiện trạng, bên giao nhận và kết quả.
Khi trả lại tài sản, phải xác định đúng chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Khi bán vật chứng, phải bảo toàn giá trị chứng minh và gửi tiền vào tài khoản tạm giữ. Việc tiêu hủy hoặc giao cơ quan chuyên ngành phải tuân thủ yêu cầu kỹ thuật liên quan. Các thủ tục này bảo đảm xử lý đúng đối tượng, đúng hình thức và có thể kiểm tra.
2.5. Xử lý một số loại vật chứng đặc thù
BLTTHS năm 2015 quy định, vật chứng mau hỏng hoặc khó bảo quản được bán trong quá trình tố tụng, không bán được thì tiêu hủy (điểm c khoản 3 Điều 106); tiền bán chuyển vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước (khoản 1 Điều 90). Trước khi xử lý, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải bảo đảm đã thu thập, mô tả và bảo toàn trọn vẹn giá trị chứng minh của vật chứng.
Vật cấm tàng trữ, lưu hành thuộc trường hợp bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Hình thức xử lý cụ thể phụ thuộc vào tính chất của vật và chế độ quản lý chuyên ngành. Chủ sở hữu không được nhận lại vật, mà pháp luật cấm tàng trữ hoặc lưu hành.
Đối với động vật hoang dã, điểm d khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 yêu cầu giao cho cơ quan chuyên ngành sau khi có kết luận giám định. Điều 7 Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP[4] phân biệt động vật còn sống; cá thể chết hoặc sản phẩm thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản; các vật chứng khác để lựa chọn việc trả về tự nhiên, cứu hộ, giao cơ quan chuyên ngành, tịch thu hoặc tiêu hủy. Hoạt động xử lý vật chứng trong trường hợp này kết hợp quyết định tố tụng với yêu cầu bảo tồn và quản lý chuyên ngành[5].
Điều 106 BLTTHS năm 2015 chưa quy định độc lập về tài sản chung, tài sản thế chấp và tài sản của người thứ ba, việc giải quyết phải kết hợp pháp luật tố tụng hình sự với pháp luật về sở hữu. Với tài sản chung, khoản 4 Điều 106 BLTTHS năm 2015 cho phép chuyển tranh chấp sở hữu sang thủ tục tố tụng dân sự; các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 33, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là căn cứ định đoạt phần quyền của từng đồng sở hữu.
Đối với tài sản thế chấp, tư cách vật chứng độc lập với quyền sở hữu hay quyền bảo đảm. Việc xử lý căn cứ Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015 và các điều 297, 298, 317, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm xem xét thấu đáo quyền của bên nhận thế chấp đối với tài sản bảo đảm.
Đối với tài sản của người thứ ba, khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 yêu cầu trả lại ngay nếu không phải vật chứng (điểm a) hoặc trả lại khi không cản trở việc giải quyết vụ án và thi hành án (điểm b). Nếu tài sản bị sử dụng làm công cụ phạm tội, việc tịch thu phụ thuộc vào yếu tố lỗi của chủ sở hữu theo khoản 3 Điều 47 BLHS năm 2015. Quy trình này đòi hỏi phải phân định chính xác giá trị chứng minh, quan hệ sở hữu và lỗi của chủ thể liên quan.
3. Bất cập, vướng mắc trong xử lý vật chứng
Mặc dù, BLTTHS năm 2015 đã thiết lập khuôn khổ pháp luật điều chỉnh hoạt động xử lý vật chứng, tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy, cơ chế này tồn tại những khoảng trống và bất cập.
Thứ nhất, chưa phân định rõ căn cứ tịch thu với trình tự xử lý vật chứng.
Điều 47 BLHS năm 2015 xác định vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm có thể bị tịch thu hoặc tiêu hủy; Điều 48 điều chỉnh việc trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường; trong khi đó, khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 quy định việc tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy đối với một số vật chứng. Sự giao thoa này làm cho ranh giới giữa điều kiện tước quyền sở hữu với trình tự quyết định và thi hành chưa được thể hiện rõ.
Điều 47 BLHS năm 2015 xác định căn cứ nội dung của biện pháp tư pháp, trong khi Điều 106 BLTTHS năm 2015 quy định thẩm quyền, thời điểm và cách thức xử lý vật chứng. Đồng thời, Điều 106 quy định một số căn cứ xử lý mang tính nội dung. Khi thiếu quy tắc dẫn chiếu rõ ràng, có nguy cơ áp dụng khoản 2 Điều 106 như căn cứ độc lập để tịch thu mà không kiểm tra điều kiện về quyền sở hữu và lỗi theo Điều 47 BLHS năm 2015; hoặc chỉ viện dẫn Điều 47, mà chưa làm rõ tư cách vật chứng và trình tự tố tụng. Có thể thấy, quy định về hai biện pháp tư pháp trên có nhiều điểm tương đồng với quy định về xử lý vật chứng tại Điều 106 BLTTHS năm 2015, dẫn đến nguy cơ nhầm lẫn trong thực tiễn[6].
Bất cập này làm giảm khả năng dự báo của quyết định xử lý, đồng thời, ảnh hưởng đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Vì vậy, cần khắc phục để xác định rõ chức năng và trình tự dẫn chiếu giữa chúng.
Thứ hai, thiếu tiêu chí cụ thể để xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu.
Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 quy định, công cụ, phương tiện phạm tội thuộc nhóm có thể bị tịch thu hoặc tiêu hủy. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định cụ thể mức độ liên hệ cần thiết giữa tài sản và hành vi phạm tội; chưa có tiêu chí về mục đích sử dụng, vai trò trực tiếp hoặc thiết yếu và mối liên hệ chức năng, việc xác định công cụ, phương tiện phạm tội phụ thuộc đáng kể vào cách đánh giá của từng cơ quan. Vì vậy, cùng một loại tài sản có thể được xử lý khác nhau và quyền sở hữu có nguy cơ bị hạn chế vượt quá yêu cầu phòng ngừa tội phạm.
Đối với tài sản thuộc sở hữu của người khác, khoản 3 Điều 47 chỉ sử dụng khái niệm “có lỗi”, mà chưa xác định hình thức lỗi, thời điểm đánh giá và những tình tiết chứng minh nhận thức của chủ sở hữu. Việc tài sản bị sử dụng vào việc phạm tội chưa đủ để chứng minh chủ sở hữu đã biết hoặc phải biết mục đích sử dụng khi giao tài sản.
Về yêu cầu chứng minh yếu tố này, có nghiên cứu cho rằng, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự khi quyết định áp dụng các biện pháp tư pháp, phải làm rõ quá trình chuyển giao tài sản (dưới hình thức công cụ, phương tiện phạm tội), nhận thức của chủ sở hữu tài sản về việc chuyển giao và chỉ khi có căn cứ pháp lý rõ ràng mới được tiến hành áp dụng biện pháp tịch thu sung quỹ Nhà nước[7].
Vì vậy, việc đánh giá lỗi của chủ sở hữu cần căn cứ vào thời điểm, mục đích và điều kiện chuyển giao; thông tin mà chủ sở hữu đã biết; nghĩa vụ quản lý; khả năng ngăn chặn và hành vi tạo điều kiện. Thái độ thiếu hợp tác sau khi tội phạm xảy ra chỉ có thể được xem xét cùng các chứng cứ khác, tự nó không chứng minh nhận thức của chủ sở hữu tại thời điểm giao tài sản. Khoảng trống này có thể dẫn đến suy đoán lỗi từ hậu quả đã xảy ra, làm tăng nguy cơ tịch thu tài sản của người thứ ba khi chưa đủ căn cứ pháp lý.
Thứ ba, chưa có cơ chế thống nhất xử lý đối với vật chứng là tài sản chung.
Điều 106 BLTTHS năm 2015 chưa quy định cách xác định và xử lý phần quyền của người phạm tội trong tài sản chung. Việc tịch thu toàn bộ có thể xâm phạm quyền của đồng sở hữu không có lỗi; trả lại toàn bộ có thể không bảo đảm hiệu lực của biện pháp tư pháp; việc áp dụng tỷ lệ một nửa trong mọi trường hợp cũng không phản ánh đúng loại sở hữu và nguồn gốc tài sản.
Đối với tài sản chung của vợ chồng, việc xác định quyền cần căn cứ Điều 33 (tài sản chung của vợ chồng), Điều 59 (nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn) Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các quy định về sở hữu chung trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Công sức đóng góp, thỏa thuận về chế độ tài sản và nguồn hình thành có thể làm cho phần quyền không tương ứng với tỷ lệ cố định. Việc tách mọi tranh chấp sang vụ án dân sự có thể kéo dài thời gian lưu giữ và làm giảm giá trị tài sản.
Đồng thời, chưa có hướng dẫn về phạm vi thẩm quyền của Tòa án trong xác định phần quyền, cách xử lý tài sản không thể chia bằng hiện vật và mối quan hệ với thủ tục dân sự. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu thống nhất trước khi cân nhắc sửa đổi luật.
Thứ tư, chưa thống nhất việc xử lý vật chứng là tài sản thế chấp.
Việc xử lý vật chứng là tài sản thế chấp làm phát sinh xung đột giữa yêu cầu tịch thu công cụ, phương tiện phạm tội theo Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015 và quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận thế chấp theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, hiện, pháp luật chưa làm rõ thứ tự ưu tiên khi tài sản bảo đảm đồng thời là vật chứng và công cụ, phương tiện phạm tội.
Điều 47 BLHS năm 2015 chưa quy định hậu quả của việc tịch thu đối với giao dịch thế chấp được xác lập hợp pháp trước khi tài sản được sử dụng vào việc phạm tội. Trong khi đó, Điều 106 BLTTHS năm 2015 chưa quy định về việc xác định tư cách tố tụng của bên nhận thế chấp, nghĩa vụ thông báo việc thu giữ và dự kiến xử lý tài sản, cũng như hậu quả của quyết định tịch thu đối với quyền bảo đảm. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng áp dụng thiếu thống nhất xuất phát từ sự khác biệt trong hướng dẫn xử lý tại các văn bản pháp luật và văn bản của ngành[8].
Điều 65 BLTTHS năm 2015 ghi nhận quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gồm quyền đưa ra chứng cứ, yêu cầu định giá, trình bày ý kiến, khiếu nại và kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định rõ căn cứ và thời điểm xác định bên nhận thế chấp là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cũng như trách nhiệm thông báo và bảo đảm sự tham gia của chủ thể này trước khi vật chứng được xử lý.
Như vậy, bất cập chủ yếu là chưa có cơ chế thống nhất để xác định và bảo đảm tư cách tham gia tố tụng của bên nhận thế chấp, xác minh tình trạng pháp lý của giao dịch bảo đảm và giải quyết hậu quả của quyết định tịch thu đối với quyền, nghĩa vụ của các bên.
Thứ năm, phạm vi và trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành chưa đầy đủ.
Điểm d khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 quy định việc giao động vật hoang dã và thực vật ngoại lai cho cơ quan quản lý chuyên ngành. Trong khi, điểm b khoản 1 Điều 90 BLTTHS năm 2015 quy định một số vật chứng phải được chuyển đến cơ quan chuyên trách để bảo quản, như chất nổ, chất độc, chất phóng xạ, vũ khí quân dụng, vi khuẩn nguy hại, bộ phận cơ thể người và mẫu sinh học. Bên cạnh đó, pháp luật mới chỉ quy định về việc bảo quản chuyên trách, mà chưa thiết lập cơ chế giao, tiếp nhận và xử lý cuối cùng đối với toàn bộ vật chứng có tính chất đặc thù. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất giữa yêu cầu bảo quản và cơ chế xử lý vật chứng.
Đối với động vật hoang dã, pháp luật chưa làm rõ tính chất pháp lý của việc “giao” cho cơ quan chuyên ngành. Đây là biện pháp xử lý làm thay đổi địa vị pháp lý của vật chứng hay chỉ là việc chuyển giao để bảo quản, cứu hộ trong thời gian chờ quyết định cuối cùng. Đồng thời, pháp luật chưa xác định rõ có phải tịch thu trước khi giao hay không, cơ quan nào có thẩm quyền tiếp nhận, thời điểm được tái thả và những hoạt động tố tụng phải hoàn thành trước khi bàn giao.
Bên cạnh khoảng trống của pháp luật, việc thiếu cơ sở cứu hộ, kho lạnh, thiết bị chuyên dụng, kinh phí và nhân lực chuyên môn là những hạn chế trong tổ chức thực hiện. Hai nhóm vấn đề cần được phân biệt: (i) bất cập về phạm vi, thẩm quyền và trình tự giao vật chứng phải được khắc phục bằng sửa đổi, hướng dẫn pháp luật; (ii) hạn chế về điều kiện bảo quản phải được giải quyết bằng cơ chế phối hợp, phân bổ kinh phí và tăng cường năng lực của cơ quan chuyên ngành.
4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng
Từ những bất cập pháp luật và vướng mắc thực tiễn đã phân tích, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng như sau:
Thứ nhất, phân định căn cứ tịch thu với trình tự xử lý vật chứng.
Khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 đồng thời phân loại vật chứng và quy định hình thức tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy. Để tránh áp dụng Điều 106 BLTTHS năm 2015 như căn cứ độc lập nhằm tước quyền sở hữu tài sản, cần bổ sung đoạn đầu khoản 2 theo hướng:
“2. Việc áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu vật chứng quy định tại điểm a và điểm b khoản này chỉ được quyết định khi có đủ căn cứ, điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự. Thẩm quyền, thời điểm, trình tự và thủ tục xử lý vật chứng được thực hiện theo Bộ luật này”.
Đồng thời, bổ sung khoản 5 Điều 106 BLTTHS năm 2015 theo hướng:
“5. Quyết định xử lý vật chứng phải nêu rõ căn cứ xác định là vật chứng; nguồn gốc, quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản; căn cứ lựa chọn hình thức xử lý; căn cứ áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu theo quy định của Bộ luật Hình sự (nếu có); quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thi hành”.
Việc bổ sung này sẽ phân định rõ căn cứ pháp luật nội dung và thủ tục tố tụng, đồng thời, buộc cơ quan có thẩm quyền giải trình đầy đủ cơ sở của quyết định xử lý vật chứng.
Thứ hai, bổ sung yêu cầu chứng minh khi xử lý công cụ, phương tiện phạm tội và tài sản của người khác.
Để khắc phục tình trạng thiếu thống nhất trong xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu, cần bổ sung khoản 7 Điều 85 BLTTHS năm 2015 theo hướng:
“7. Những tình tiết làm căn cứ xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu tài sản, bao gồm: mục đích, phương thức và mức độ sử dụng vật vào việc thực hiện tội phạm; mối liên hệ trực tiếp giữa vật với hành vi phạm tội; nguồn gốc, quan hệ sở hữu, thời điểm và điều kiện chuyển giao tài sản; yếu tố lỗi, khả năng nhận thức và hành vi của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu của người khác”.
Việc bổ sung này không đặt ra tiêu chí tịch thu mới, mà xác định rõ phạm vi trách nhiệm chứng minh của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Theo đó, không được thuần túy suy đoán dựa vào việc tài sản xuất hiện tại hiện trường, được sử dụng để di chuyển đến địa điểm thực hiện tội phạm hoặc đã bị người khác sử dụng để kết luận tài sản là công cụ, phương tiện phạm tội hoặc suy đoán chủ sở hữu có lỗi.
Thứ ba, bổ sung cơ chế xử lý vật chứng là tài sản chung.
Khoản 4 Điều 106 BLTTHS năm 2015 quy định trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng được giải quyết theo pháp luật về tố tụng dân sự, nhưng chưa điều chỉnh trường hợp tài sản chung không có tranh chấp hoặc phần quyền sở hữu của các chủ thể đã được làm rõ. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 106 BLTTHS năm 2015 theo hướng:
"4. Đối với vật chứng là tài sản thuộc sở hữu chung, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định phần quyền sở hữu của từng chủ sở hữu chung trên cơ sở tài liệu, chứng cứ đã thu thập. Việc áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu chỉ thực hiện đối với phần quyền sở hữu của người phạm tội khi có đủ căn cứ theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp tài sản chung có thể phân chia bằng hiện vật thì phân chia để xử lý; trường hợp không thể phân chia bằng hiện vật thì quyết định xử lý phải xác định rõ phần giá trị bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước và hoàn trả phần giá trị tương ứng cho các chủ sở hữu chung khác.
Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc chưa đủ căn cứ xác định phần quyền sở hữu thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự".
Quy định này sẽ hạn chế tình trạng tịch thu toàn bộ tài sản chung hoặc áp dụng tỷ lệ phân chia cảm tính, đồng thời, chỉ chuyển giao sang thủ tục tố tụng dân sự khi thực sự phát sinh tranh chấp hoặc cơ quan tiến hành tố tụng không đủ căn cứ chứng minh phần quyền sở hữu của các bên.
Thứ tư, hoàn thiện thủ tục xử lý vật chứng là tài sản thế chấp.
Cần hoàn thiện căn cứ xác định tư cách người tham gia tố tụng, trách nhiệm thông báo và trình tự xem xét quyền xử lý tài sản bảo đảm trước khi xử lý vật chứng. Vì vậy, cần nghiên cứu bổ sung khoản 6 Điều 106 BLTTHS năm 2015 theo hướng:
"6. Trường hợp vật chứng là tài sản bảo đảm, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải đưa bên nhận bảo đảm tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nếu quyết định xử lý vật chứng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền bảo đảm; đồng thời, thông báo bằng văn bản về việc tạm giữ, thu giữ và xem xét xử lý vật chứng.
Trước khi xử lý vật chứng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác minh: thời điểm xác lập, hiệu lực và việc đăng ký biện pháp bảo đảm; hiệu lực đối kháng với người thứ ba; phạm vi và giá trị nghĩa vụ được bảo đảm còn lại; tính ngay tình và yếu tố lỗi của bên nhận bảo đảm trong việc để người phạm tội sử dụng tài sản vào việc thực hiện tội phạm.
Quyết định xử lý vật chứng phải làm rõ hiệu lực của biện pháp bảo đảm, quyền và nghĩa vụ tài sản của các bên liên quan, đồng thời phải được gửi ngay cho bên nhận bảo đảm".
Nội dung đề xuất không làm thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán theo luật định, mà bảo đảm cơ chế kiểm tra toàn diện tính hợp pháp của giao dịch bảo đảm cùng quyền tài sản của bên nhận bảo đảm ngay tình trước khi cơ quan tiến hành tố tụng định đoạt số phận pháp lý của vật chứng.
Thứ năm, ban hành văn bản hướng dẫn việc giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành.
Đối với vật chứng đặc thù, các cơ quan có liên quan như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và các bộ chuyên ngành có liên quan cần phối hợp xây dựng và ban hành văn bản để hướng dẫn việc giao vật chứng này. Văn bản này cần phân định rõ ràng, cụ thể việc chuyển giao để bảo quản (Điều 90 BLTTHS năm 2015) với giao để xử lý (điểm d khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015); quy định rõ cơ quan tiếp nhận, thời hạn bàn giao, hồ sơ và kinh phí. Trước khi bàn giao, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản, mô tả, chụp ảnh, niêm phong hoặc trích mẫu; hoàn thành giám định và chỉ yêu cầu định giá tài sản khi thực sự cần thiết cho việc giải quyết vụ án hoặc quyền lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Trường hợp cấp bách cần cứu hộ, cách ly hoặc triệt tiêu nguy hiểm, cho phép chuyển giao vật chứng sau khi đã bảo toàn đầy đủ giá trị chứng minh. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định số phận pháp lý và biện pháp xử lý; cơ quan chuyên ngành thực hiện các thao tác kỹ thuật như cứu hộ, thả về môi trường tự nhiên hoặc tiêu hủy theo quyết định tố tụng. Văn bản hướng dẫn phải bảo đảm thống nhất chặt chẽ với Nghị định số 142/2024/NĐ-CP ngày 30/10/2024 của Chính phủ về quản lý kho vật chứng và tài liệu, đồ vật.
Kết luận
Xử lý vật chứng không chỉ là hoạt động quản lý hiện vật, mà còn liên quan trực tiếp đến giá trị chứng minh, quyền sở hữu, quyền của người thứ ba và lợi ích của Nhà nước. Mặc dù, Điều 106 BLTTHS năm 2015 đã cơ bản quy định thẩm quyền, thời điểm và các hình thức xử lý, nhưng chưa phân định đầy đủ với căn cứ tịch thu tại Điều 47 BLHS năm 2015 và chưa điều chỉnh cụ thể nhiều quan hệ tài sản phức tạp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các vấn đề trọng tâm cần hoàn thiện gồm tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành. Theo đó, cần kết hợp ba nhóm giải pháp: phân định rõ căn cứ tịch thu theo BLHS năm 2015 với thẩm quyền, trình tự xử lý theo BLTTHS năm 2015; bổ sung yêu cầu chứng minh và cơ chế bảo đảm quyền của người thứ ba; ban hành hướng dẫn về giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng đặc thù. Cách tiếp cận này hướng tới xây dựng cơ chế xử lý vật chứng minh bạch, có khả năng dự báo và bảo đảm tính tương xứng, qua đó, vừa đáp ứng yêu cầu chứng minh và phòng ngừa tội phạm, vừa hạn chế việc xâm phạm quyền tài sản vượt quá mức cần thiết./.
Nguyễn Phi Hùng
Tòa án Quân sự, Quân khu 4
Ảnh: internet
[1]. Nguyễn Ngọc Chí, Bùi Thị Thu Hường (2022), Xử lý vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, VNU Journal of Science: Legal Studies, tập 38, Số 1, tr.1-11.
[2]. Lê Bảo Ngọc (2025), Xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.13.
[3]. Nguyễn Ngọc Chí, Bùi Thị Thu Hường (2022), tlđd, tr.1-11.
[4]. Nghị quyết số 05/2018/NQ-HĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 234 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật Hình sự.
[5]. Lê Bá Đức, Đinh Văn Đoàn (2025), Xử lý vật chứng trong các vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 10/2025, tr.31-33.
[6]. Nguyễn Ngọc Chí, Bùi Thị Thu Hường (2022), tlđd, tr.1-11.
[7]. Lương Khải Ân (2023), Thực thi các biện pháp tư pháp nhằm thu hồi có hiệu quả tài sản liên quan trực tiếp đến tội phạm, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 55/2023, tr.3.
[8]. Trần Văn Hùng (2025), Xử lý vật chứng là tài sản thế chấp tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng trong vụ án hình sự, https://kiemsat.vn/xu-ly-vat-chung-la-tai-san-the-chap-tai-ngan-hang-hoac-to-chuc-tin-dung-trong-vu-an-hinh-su-69965.html, truy cập ngày 14/8/2026.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Bá Đức, Đinh Văn Đoàn (2025), Xử lý vật chứng trong các vụ án vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, động vật nguy cấp, quý, hiếm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 10/2025, DOI: 10.59554/tckhks.v94i10.635.
2. Lê Bảo Ngọc (2025), Xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội.
3. Lương Khải Ân (2023), Thực thi các biện pháp tư pháp nhằm thu hồi có hiệu quả tài sản liên quan trực tiếp đến tội phạm, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 55/2023.
4. Nguyễn Ngọc Chí, Bùi Thị Thu Hường (2022), Xử lý vật chứng trong quá trình giải quyết vụ án theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, VNU Journal of Science: Legal Studies, tập 38, Số 1, DOI: 10.25073/2588-1167/vnuls.4404.
5. Trần Văn Hùng (2024), Xử lý vật chứng là tài sản thế chấp tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng trong vụ án hình sự, https://kiemsat.vn/xu-ly-vat-chung-la-tai-san-the-chap-tai-ngan-hang-hoac-to-chuc-tin-dung-trong-vu-an-hinh-su-69965.html, truy cập ngày 17/8/2026.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (461) tháng 9/2026))