Thứ năm 22/10/2026 22:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.

Từ khóa: đấu giá tài sản; đấu giá viên; trách nhiệm pháp lý; hoàn thiện pháp luật; dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi).

Đặt vấn đề

Đấu giá tài sản là phương thức bán tài sản thông qua cạnh tranh về giá, góp phần xác định giá trị tài sản theo cơ chế thị trường và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan. Đối với những tài sản pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá, phương thức này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực, hạn chế thất thoát, lãng phí. Trong hoạt động đấu giá tài sản, đấu giá viên giữ vai trò trực tiếp điều hành phiên đấu giá, thực hiện các nhiệm vụ nghề nghiệp và xử lý tình huống phát sinh theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc xác định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan của hoạt động đấu giá.

Luật Đấu giá tài sản năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2024 (Luật Đấu giá tài sản năm 2016), đã xác lập cơ sở pháp lý về quyền, nghĩa vụ, các hành vi bị nghiêm cấm và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động hành nghề. Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá, việc mở rộng phương thức đấu giá trực tuyến và yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước tiếp tục đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên, nhất là trong thực hiện quyền hạn nghề nghiệp, phân định trách nhiệm với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản và bảo đảm sự thống nhất với các quy định pháp luật có liên quan. Trong bối cảnh đó, dự thảo Luật tiếp tục kế thừa, sửa đổi và bổ sung các quy định nhằm nâng cao trách nhiệm của đấu giá viên, đáp ứng yêu cầu đổi mới hoạt động đấu giá tài sản. Định hướng này phù hợp với chủ trương đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW), trong đó nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, khả thi của hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên, làm rõ những nội dung được kế thừa, phát triển trong dự thảo Luật và ý nghĩa pháp lý của các quy định, đồng thời, đề xuất định hướng giải pháp nhằm bảo đảm việc tổ chức thi hành hiệu quả trong thực tiễn.

1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản

Việc hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên nhằm khắc phục những hạn chế trong xác định và xử lý trách nhiệm khi hành nghề, qua đó, bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch của hoạt động đấu giá. Yêu cầu này xuất phát từ chủ trương đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và việc thay đổi phương thức tổ chức đấu giá, thể hiện trên các phương diện sau:

Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật.

Nghị quyết số 66-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, minh bạch, khả thi, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội1. Trong lĩnh vực đấu giá tài sản, yêu cầu này đòi hỏi quy định về trách nhiệm của đấu giá viên phải xác định rõ nghĩa vụ, phạm vi trách nhiệm, căn cứ xử lý vi phạm và bảo đảm sự thống nhất với pháp luật có liên quan. Nếu chỉ quy định trách nhiệm theo hướng khái quát mà không làm rõ căn cứ áp dụng, việc xử lý vi phạm dẫn đến thiếu thống nhất. Vì vậy, hoàn thiện các quy định này là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục bất cập trong hoạt động hành nghề, đồng thời, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

Thứ hai, bảo đảm tính công khai, minh bạch và khách quan của hoạt động đấu giá tài sản.

Đấu giá viên trực tiếp điều hành phiên đấu giá, thực hiện thẩm quyền xử lý tình huống ảnh hưởng đến quyền tham gia, việc trả giá và kết quả đấu giá. Hiệu quả của cơ chế đấu giá phụ thuộc đáng kể vào việc thiết kế quy tắc phù hợp, trong đó có khả năng hạn chế thông đồng và cản trở cạnh tranh2. Dưới góc độ pháp lý, quy tắc điều hành cần gắn với cơ chế xác định trách nhiệm khi có vi phạm. Nếu trách nhiệm không được quy định rõ, việc xử lý hành vi lạm dụng quyền hạn hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ của đấu giá viên có thể gặp khó khăn, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người tham gia đấu giá. Do đó, hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên góp phần phòng ngừa vi phạm và bảo đảm tính khách quan, công bằng trong hoạt động đấu giá.

Thứ ba, xác định rõ căn cứ phát sinh và hình thức trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên.

Luật Đấu giá tài sản năm 2016 đã quy định về quyền, nghĩa vụ, hành vi bị nghiêm cấm và xử lý vi phạm đối với đấu giá viên.

Tuy nhiên, nghĩa vụ nghề nghiệp xác định những yêu cầu mà đấu giá viên phải tuân thủ, còn trách nhiệm pháp lý chỉ phát sinh khi đáp ứng điều kiện do pháp luật quy định. Có nghiên cứu cho rằng, việc làm rõ nội hàm trách nhiệm nghề nghiệp, phân biệt các loại nghĩa vụ và hậu quả pháp lý tương ứng là rất cần thiết3. Theo đó, không phải mọi hành vi vi phạm nghĩa vụ nghề nghiệp hoặc Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của đấu giá viên đều đương nhiên làm phát sinh trách nhiệm hành chính, hình sự hoặc dân sự. Việc không phân định rõ các trường hợp này có thể dẫn đến áp dụng hình thức xử lý thiếu căn cứ hoặc không tương xứng với tính chất vi phạm. Vì vậy, cần quy định trách nhiệm theo đúng căn cứ, điều kiện và hình thức xử lý của pháp luật tương ứng.

Thứ tư, phân định trách nhiệm giữa đấu giá viên và tổ chức hành nghề đấu giá tài sản.

Đấu giá viên trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nghề nghiệp nhưng thường hành nghề thông qua tổ chức hành nghề đấu giá tài sản. Khi xảy ra vi phạm hoặc thiệt hại, trách nhiệm của mỗi chủ thể phải được xác định theo nhiệm vụ, quyền hạn và quan hệ pháp luật có liên quan. Nếu không phân định rõ, có thể xác định sai chủ thể chịu trách nhiệm hoặc gặp khó khăn trong giải quyết yêu cầu bồi thường. Đặc biệt, phải làm rõ mối quan hệ giữa nghĩa vụ bồi thường của tổ chức hành nghề, nghĩa vụ hoàn trả của đấu giá viên và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, qua đó, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, đồng thời, hạn chế tình trạng chồng lấn hoặc bỏ trống trách nhiệm.

Thứ năm, đáp ứng yêu cầu phát sinh từ hoạt động đấu giá trực tuyến.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin làm thay đổi cách thức điều hành phiên đấu giá, xử lý thông tin và xác định kết quả thông qua hệ thống điện tử. Hoạt động này phụ thuộc vào hạ tầng kỹ thuật và sự tham gia của chủ thể quản lý, vận hành hệ thống. Vì vậy, khi phát sinh sai sót dữ liệu hoặc sự cố kỹ thuật, cần phân biệt hành vi thuộc trách nhiệm điều hành của đấu giá viên với lỗi thuộc phạm vi quản lý, vận hành hệ thống. Việc xác định đúng nghĩa vụ và chủ thể chịu trách nhiệm là điều kiện để kiểm tra, xử lý vi phạm, bảo vệ quyền lợi của người tham gia và củng cố sự tin cậy đối với đấu giá trực tuyến.

Như vậy, hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên xuất phát từ yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật và những vấn đề phát sinh trong thực tiễn đấu giá tài sản. Trọng tâm là xác định rõ căn cứ, hình thức và chủ thể chịu trách nhiệm, qua đó, bảo đảm phòng ngừa, xử lý vi phạm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan.

2. Một số điểm mới về trách nhiệm của đấu giá viên trong dự thảo Luật

Dự thảo Luật tiếp tục hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên theo hướng nâng cao tính chuyên nghiệp, công khai, minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động hành nghề. Trên cơ sở kế thừa những quy định hiện hành, dự thảo Luật cụ thể hóa thẩm quyền xử lý tình huống tại phiên đấu giá, tăng cường yêu cầu tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, phát triển quy định về đấu giá trực tuyến và xác định các cơ chế xử lý hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm. Những nội dung này góp phần củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm của đấu giá viên, đồng thời, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan.

Thứ nhất, tiếp tục xác định trách nhiệm của đấu giá viên gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ nghề nghiệp.

Điểm c khoản 2 Điều 15 dự thảo Luật4 quy định đấu giá viên chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước tổ chức hành nghề đấu giá tài sản về phiên đấu giá do mình thực hiện. Đồng thời, khoản 1 Điều 60 dự thảo Luật5 xác định đấu giá viên có hành vi vi phạm quy định về hành vi bị nghiêm cấm, nghĩa vụ nghề nghiệp hoặc quy định khác của Luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định pháp luật. Các quy định này tiếp tục khẳng định nguyên tắc gắn quyền hạn với trách nhiệm cá nhân, đồng thời, tạo cơ sở xác định hậu quả pháp lý tương ứng với hành vi vi phạm. Về bản chất, nghĩa vụ nghề nghiệp xác định những yêu cầu mà đấu giá viên phải tuân thủ, còn trách nhiệm pháp lý chỉ phát sinh khi đáp ứng điều kiện do pháp luật quy định. Nghiên cứu về trách nhiệm nghề nghiệp cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải xác định nghĩa vụ của người hành nghề trong mối quan hệ với đặc điểm hoạt động chuyên môn và lợi ích của những chủ thể có liên quan6. Vì vậy, việc xác định trách nhiệm của đấu giá viên theo căn cứ và tính chất của hành vi vi phạm góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời, hạn chế việc áp dụng trách nhiệm không phù hợp với phạm vi nghĩa vụ của từng chủ thể.

Thứ hai, cụ thể hóa thẩm quyền của đấu giá viên trong xử lý tình huống tại phiên đấu giá.

Điểm c khoản 1 Điều 15 dự thảo Luật quy định đấu giá viên có quyền truất quyền tham dự phiên đấu giá đối với người tham gia đấu giá có hành vi vi phạm khoản 5 Điều 10. Điểm d khoản 1 Điều 15 dự thảo Luật quy định quyền dừng phiên đấu giá khi phát hiện hành vi thuộc các điểm b, c hoặc d khoản 5 Điều 10 dự thảo Luật7 và thông báo cho tổ chức hành nghề đấu giá tài sản. Bên cạnh đó, điểm d khoản 2 Điều 15 dự thảo Luật xác định nghĩa vụ tạm dừng, dừng hoặc hủy bỏ phiên đấu giá theo yêu cầu của tổ chức hành nghề trong những trường hợp luật định. Việc quy định cụ thể các biện pháp xử lý tạo điều kiện để đấu giá viên chủ động ngăn chặn những hành vi ảnh hưởng đến trật tự, tính khách quan và cạnh tranh trong quá trình đấu giá. Nghiên cứu về thiết kế cơ chế đấu giá cho thấy, việc hạn chế thông đồng và bảo đảm cạnh tranh được xác định là những yếu tố quan trọng đối với hiệu quả đấu giá8. Đồng thời, các nghiên cứu về hành vi trả giá cũng cho thấy, nguy cơ gian lận và thiếu tin cậy vào cơ chế tổ chức có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tham gia đấu giá9. Dưới góc độ pháp lý, việc gắn thẩm quyền của đấu giá viên với từng hành vi và điều kiện áp dụng biện pháp xử lý góp phần bảo đảm quyết định được thực hiện đúng căn cứ, đồng thời, tạo điều kiện kiểm tra, giám sát và bảo vệ quyền lợi của người tham gia đấu giá.

Thứ ba, đề cao trách nhiệm tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của đấu giá viên. Điểm đ khoản 1 Điều 10 dự thảo Luật xác định việc vi phạm Quy tắc đạo đức nghề nghiệp đấu giá viên là hành vi bị nghiêm cấm; điểm a khoản 2 Điều 15 quy định nghĩa vụ tuân thủ quy tắc này, đồng thời, khoản 1 Điều 17 dự thảo Luật10 xác định vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong giám sát tuân thủ. Các quy định này góp phần tăng cường yêu cầu về tính trung thực, khách quan và độc lập trong hoạt động hành nghề, đồng thời, củng cố cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát nghề nghiệp. Tuy nhiên, việc xác định hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức cần được phân biệt với việc áp dụng trách nhiệm pháp lý, bởi mỗi cơ chế có căn cứ, điều kiện và hậu quả khác nhau. Các nghiên cứu về đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp cũng cho thấy sự cần thiết phải phân biệt việc đánh giá hành vi theo chuẩn mực đạo đức với việc xác định nghĩa vụ và trách nhiệm dựa trên quy tắc pháp lý11. Theo đó, việc đề cao nghĩa vụ tuân thủ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp có ý nghĩa phòng ngừa vi phạm, nâng cao trách nhiệm cá nhân và bảo đảm các biện pháp xử lý được thực hiện phù hợp với thẩm quyền, căn cứ pháp luật tương ứng.

Thứ tư, phát triển cơ sở pháp lý về trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá trực tuyến.

Điều 34 dự thảo Luật quy định việc tổ chức đấu giá thông qua hệ thống điện tử, sử dụng tài khoản định danh, phân công người điều hành phiên đấu giá và ghi nhận kết quả bằng phương tiện điện tử. Đặc biệt, điểm h khoản 4 Điều 34 dự thảo Luật12 quy định trường hợp tại phiên đấu giá không có người trả giá thì đấu giá viên lựa chọn ngẫu nhiên trên hệ thống để xác định người trúng đấu giá với giá trúng bằng giá khởi điểm, dưới sự giám sát của người có tài sản đấu giá. Quy định này xác định nhiệm vụ cụ thể của đấu giá viên trong trường hợp luật định, đồng thời đặt ra yêu cầu bảo đảm tính khách quan và khả năng kiểm tra đối với thao tác lựa chọn trên hệ thống. Nghiên cứu về thị trường giao dịch trực tuyến cho thấy cơ chế bảo đảm sự tin cậy, khả năng kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của chủ thể trung gian có ý nghĩa đối với hiệu quả giao dịch13. Đối với đấu giá trực tuyến, việc ghi nhận, lưu trữ và truy xuất dữ liệu góp phần kiểm tra thao tác nghiệp vụ, xác minh diễn biến phiên đấu giá và phân định trách nhiệm giữa đấu giá viên, tổ chức hành nghề với chủ thể quản lý, vận hành hệ thống. Qua đó, tạo cơ sở nâng cao tính minh bạch, khả năng kiểm chứng và trách nhiệm giải trình trong hoạt động đấu giá trên môi trường điện tử.

Thứ năm, tiếp tục bảo đảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại gắn với bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.

Khoản 1 Điều 60 dự thảo Luật quy định đấu giá viên có hành vi vi phạm gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định pháp luật. Đồng thời, Điều 16 dự thảo Luật14 xác định việc đấu giá viên tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thông qua tổ chức nơi hành nghề và nghĩa vụ mua bảo hiểm cho đấu giá viên của tổ chức đó. Các quy định này góp phần bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại, đồng thời, tăng cường điều kiện bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bồi thường. Tuy nhiên, do đấu giá viên thực hiện nhiệm vụ trong mối quan hệ với tổ chức hành nghề, việc xác định chủ thể có nghĩa vụ bồi thường cần căn cứ vào quan hệ pháp luật cụ thể. Theo Điều 597 và Điều 600 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong những trường hợp luật định, pháp nhân hoặc chủ thể sử dụng người thực hiện công việc có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thực hiện nhiệm vụ gây ra và có thể yêu cầu hoàn trả theo căn cứ tương ứng. Bên cạnh đó, điểm e khoản 2 Điều 20 dự thảo Luật15 tiếp tục ghi nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản khi thực hiện đấu giá theo quy định pháp luật. Sự kết hợp giữa các quy định này góp phần xác định trách nhiệm của từng chủ thể, trong khi bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hỗ trợ thực hiện nghĩa vụ bồi thường trong phạm vi được bảo hiểm, không thay thế căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự.

Thứ sáu, tăng cường sự gắn kết giữa xử lý vi phạm với hủy kết quả đấu giá và giải quyết hậu quả pháp lý.

Dự thảo Luật quy định việc xử lý vi phạm tại Điều 60, các trường hợp hủy kết quả đấu giá tại Điều 6316 và hậu quả pháp lý khi hủy kết quả đấu giá tại Điều 6417. Trong đó, điểm b khoản 4 Điều 63 xác định trường hợp người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, tổ chức hành nghề đấu giá tài sản hoặc đấu giá viên có hành vi thông đồng, móc nối, dìm giá dẫn đến làm sai lệch thông tin tài sản, hồ sơ tham gia đấu giá hoặc kết quả đấu giá thì bị hủy kết quả đấu giá. Việc quy định các trường hợp hủy kết quả đấu giá góp phần bảo vệ tính hợp pháp của hoạt động đấu giá và quyền lợi của các chủ thể có liên quan. Về phương diện pháp lý, xử lý trách nhiệm cá nhân và hủy kết quả đấu giá là những cơ chế khác nhau, được áp dụng theo căn cứ và điều kiện tương ứng. Theo Điều 64 dự thảo Luật, trong các trường hợp hủy kết quả quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 63, các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả những tài sản đã nhận; bên gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định pháp luật. Cơ chế này góp phần bảo đảm việc xử lý hành vi vi phạm gắn với khắc phục hậu quả, đồng thời, duy trì sự thống nhất với các quy định của pháp luật dân sự. Các nghiên cứu về thiết kế và tổ chức đấu giá cho thấy, tính minh bạch và khả năng kiểm soát hành vi ảnh hưởng đến cạnh tranh có ý nghĩa đối với hiệu quả của cơ chế đấu giá18.

Như vậy, các quy định được kế thừa, sửa đổi và bổ sung trong dự thảo Luật tiếp tục củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm của đấu giá viên, đồng thời, đáp ứng yêu cầu nâng cao tính chuyên nghiệp và đổi mới phương thức tổ chức đấu giá. Tuy nhiên, cần tiếp tục rà soát hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn hoạt động nghề nghiệp. Đặc biệt, cần sớm ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành để sớm đưa các quy định này vào thực hiện đồng bộ trên thực tế. Đồng thời, để những quy định này phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần chú trọng hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, nâng cao năng lực hành nghề, bảo đảm điều kiện kỹ thuật và tăng cường phối hợp, kiểm tra, giám sát trong quá trình tổ chức thi hành.

3. Giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả các quy định về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản

Việc hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của đấu giá viên trong dự thảo Luật đặt ra yêu cầu bảo đảm những quy định này được áp dụng thống nhất và hiệu quả trong thực tiễn. Bên cạnh việc xác định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên, cần chú trọng hoàn thiện điều kiện tổ chức thi hành, nâng cao năng lực hành nghề và tăng cường sự phối hợp giữa các chủ thể có liên quan. Trên cơ sở những nội dung được phân tích tại mục 2, các giải pháp cần tập trung vào những phương diện sau.

Thứ nhất, bảo đảm áp dụng thống nhất các quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên.

Trên cơ sở Điều 15 và Điều 60 dự thảo Luật, Bộ Tư pháp cần chú trọng hướng dẫn nghiệp vụ về việc xác định nghĩa vụ nghề nghiệp, hành vi vi phạm và căn cứ áp dụng từng hình thức trách nhiệm pháp lý. Nội dung hướng dẫn cần làm rõ cách xác định trách nhiệm của đấu giá viên đối với những công việc trực tiếp thực hiện, đồng thời, phân biệt trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản. Đặc biệt, việc không thực hiện đúng nghĩa vụ nghề nghiệp phải được xem xét theo tính chất của hành vi và điều kiện phát sinh trách nhiệm, không đồng nhất với việc đương nhiên phải chịu chế tài hành chính, hình sự hoặc trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đối với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, cần phân công cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của đấu giá viên, xác định trách nhiệm quản lý, kiểm tra của tổ chức và lưu giữ hồ sơ liên quan đến việc thực hiện công việc được giao. Khi xảy ra vi phạm, việc xác định trách nhiệm phải căn cứ vào hành vi thực tế, nghĩa vụ bị vi phạm và quan hệ pháp luật có liên quan. Cách thực hiện này góp phần bảo đảm trách nhiệm được xác định đúng chủ thể, đúng căn cứ và hạn chế những cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng pháp luật.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình xử lý tình huống phát sinh tại phiên đấu giá. Để bảo đảm thực hiện hiệu quả thẩm quyền của đấu giá viên, cần hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất về việc nhận diện hành vi vi phạm, lựa chọn biện pháp xử lý và ghi nhận quyết định được đưa ra trong quá trình điều hành phiên đấu giá. Đối với biện pháp truất quyền tham dự, đấu giá viên cần xác định rõ hành vi vi phạm, căn cứ luật định và phạm vi áp dụng, bảo đảm không ảnh hưởng đến quyền của người tham gia đấu giá ngoài những trường hợp pháp luật cho phép. Đối với việc tạm dừng, dừng hoặc hủy bỏ phiên đấu giá, cần phân biệt thẩm quyền chủ động của đấu giá viên với nghĩa vụ thực hiện yêu cầu hợp pháp của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản. Những quyết định ảnh hưởng đến diễn biến phiên đấu giá và quyền lợi của người tham gia cần được ghi nhận đầy đủ trong biên bản hoặc tài liệu có giá trị pháp lý tương ứng, làm căn cứ kiểm tra và giải quyết tranh chấp. Đồng thời, Bộ Tư pháp và các tổ chức hành nghề cần tăng cường bồi dưỡng kỹ năng nhận diện hành vi thông đồng, móc nối, cản trở cạnh tranh và xử lý những tình huống phức tạp. Việc bồi dưỡng nên gắn với các vụ việc thực tiễn để đấu giá viên có khả năng vận dụng pháp luật phù hợp, vừa bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp, vừa hạn chế nguy cơ lạm dụng hoặc thực hiện không đúng thẩm quyền.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả giám sát việc tuân thủ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp.

Việc thực hiện các quy định về đạo đức nghề nghiệp cần được gắn với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và giám sát thường xuyên đối với đấu giá viên. Theo đó, tổ chức xã hội nghề nghiệp của đấu giá viên cần phát huy vai trò phổ biến, hướng dẫn việc tuân thủ các chuẩn mực về tính trung thực, khách quan, độc lập và trách nhiệm trong hoạt động hành nghề. Nội dung bồi dưỡng cần chú trọng những tình huống dễ phát sinh xung đột lợi ích, như việc tiếp nhận lợi ích không phù hợp từ người tham gia đấu giá, sử dụng thông tin có được trong quá trình hành nghề hoặc chịu tác động từ các chủ thể có liên quan đến kết quả đấu giá. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế tiếp nhận, xác minh và xử lý thông tin phản ánh về hành vi vi phạm Quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong phạm vi thẩm quyền của tổ chức xã hội nghề nghiệp. Đối với hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, thông tin cần được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét theo quy định. Việc phối hợp này phải bảo đảm sự phân biệt giữa hoạt động giám sát đạo đức nghề nghiệp với việc áp dụng trách nhiệm pháp lý, tránh chồng lấn thẩm quyền hoặc áp dụng chế tài khi chưa có đủ căn cứ. Đồng thời, tổ chức hành nghề đấu giá tài sản cần tăng cường kiểm soát xung đột lợi ích và bảo đảm môi trường hành nghề độc lập, qua đó, nâng cao ý thức tuân thủ và uy tín của đội ngũ đấu giá viên.

Thứ tư, bảo đảm điều kiện kỹ thuật và phân định trách nhiệm trong hoạt động đấu giá trực tuyến.

Việc triển khai Điều 34 dự thảo Luật cần gắn với yêu cầu bảo đảm tính ổn định, an toàn và khả năng kiểm tra của hệ thống đấu giá trực tuyến. Theo đó, chủ thể quản lý, vận hành hệ thống phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kỹ thuật theo quy định, bảo đảm việc ghi nhận chính xác thời điểm trả giá, lưu trữ dữ liệu và khả năng truy xuất các thao tác có liên quan đến quá trình đấu giá. Đặc biệt, đối với trường hợp lựa chọn ngẫu nhiên người trúng đấu giá, hệ thống cần bảo đảm tính khách quan, khả năng kiểm tra lại quá trình lựa chọn và ngăn ngừa việc sửa đổi dữ liệu trái phép. Cùng với yêu cầu về kỹ thuật, cần xây dựng quy trình phối hợp xử lý sự cố giữa đấu giá viên, tổ chức hành nghề và chủ thể vận hành hệ thống, trong đó xác định rõ trách nhiệm thông báo, ghi nhận sự cố, bảo toàn dữ liệu và thực hiện biện pháp xử lý theo thẩm quyền. Khi phát sinh sai sót, trách nhiệm của từng chủ thể phải được xác định dựa trên nghĩa vụ pháp lý, nguyên nhân và phạm vi kiểm soát đối với hoạt động có liên quan. Đấu giá viên không đương nhiên chịu trách nhiệm đối với mọi sự cố kỹ thuật xảy ra trong phiên đấu giá do mình điều hành; ngược lại, hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ nghiệp vụ hoặc không xử lý, thông báo sự cố theo quy định phải được xem xét trên cơ sở căn cứ trách nhiệm tương ứng. Bên cạnh đó, cần thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng sử dụng hệ thống, kiểm tra thông tin và xử lý tình huống điện tử cho đấu giá viên, bảo đảm sự tương thích giữa năng lực hành nghề và yêu cầu chuyển đổi số trong hoạt động đấu giá tài sản.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.

Việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh từ hoạt động đấu giá cần bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật về đấu giá tài sản, pháp luật dân sự và pháp luật kinh doanh bảo hiểm. Khi có thiệt hại xảy ra, trước hết phải xác định hành vi gây thiệt hại, chủ thể thực hiện, quan hệ pháp luật có liên quan và những điều kiện phát sinh trách nhiệm theo quy định. Trường hợp đấu giá viên gây thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, cần xem xét nghĩa vụ bồi thường của tổ chức hành nghề và nghĩa vụ hoàn trả của đấu giá viên theo căn cứ tương ứng, không mặc nhiên xác định đấu giá viên phải trực tiếp bồi thường trong mọi trường hợp. Đối với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp phải được thực hiện đầy đủ và duy trì phù hợp với hoạt động hành nghề. Đồng thời, cần chủ động rà soát phạm vi bảo hiểm, các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm và quy trình giải quyết yêu cầu bồi thường để bảo đảm khả năng sử dụng cơ chế bảo hiểm khi phát sinh sự kiện thuộc phạm vi được bảo hiểm. Tổ chức hành nghề cũng cần xây dựng quy trình tiếp nhận yêu cầu bồi thường, lưu trữ hồ sơ và phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm trong xác minh thiệt hại. Những giải pháp này góp phần bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại, đồng thời giúp tổ chức hành nghề chủ động kiểm soát rủi ro và nâng cao trách nhiệm trong quản lý hoạt động của đấu giá viên.

Thứ sáu, tăng cường phối hợp trong xử lý vi phạm, hủy kết quả đấu giá và giải quyết hậu quả pháp lý.

Việc tổ chức thi hành Điều 60, Điều 63 và Điều 64 dự thảo Luật cần bảo đảm sự phân biệt giữa xử lý trách nhiệm của đấu giá viên, hủy kết quả đấu giá và giải quyết hậu quả của việc hủy. Khi phát hiện hành vi vi phạm, cơ quan hoặc chủ thể có thẩm quyền cần xác minh đầy đủ tình tiết, đánh giá chứng cứ và xác định đúng căn cứ pháp luật áp dụng. Trường hợp hành vi vi phạm đồng thời liên quan đến căn cứ hủy kết quả đấu giá, việc xem xét hủy phải được thực hiện theo thẩm quyền, trình tự và điều kiện luật định, không mặc nhiên hủy kết quả đấu giá chỉ vì đấu giá viên có hành vi vi phạm. Tương tự, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phải được xác định dựa trên căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự, thay vì chỉ căn cứ vào kết quả đấu giá bị hủy. Đối với hậu quả pháp lý của việc hủy kết quả đấu giá, cần bảo đảm sự phối hợp giữa tổ chức hành nghề, người có tài sản đấu giá và các chủ thể liên quan trong giải quyết nghĩa vụ hoàn trả, thanh toán chi phí và bồi thường thiệt hại khi có căn cứ. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường tổng kết thực tiễn xử lý vi phạm, lựa chọn các vụ việc điển hình để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, nhất là những trường hợp có liên quan giữa trách nhiệm cá nhân của đấu giá viên và quyền lợi của người tham gia đấu giá. Việc thực hiện các giải pháp này góp phần nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm, hạn chế tranh chấp và bảo đảm tính ổn định của các quan hệ pháp luật phát sinh từ hoạt động đấu giá tài sản.

Như vậy, bảo đảm thực hiện hiệu quả các quy định về trách nhiệm của đấu giá viên không chỉ là yêu cầu đối với hoạt động quản lý nhà nước, mà còn gắn với trách nhiệm của tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức hành nghề đấu giá tài sản và từng đấu giá viên. Việc kết hợp giữa hướng dẫn áp dụng pháp luật, chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, nâng cao năng lực hành nghề, bảo đảm điều kiện kỹ thuật và tăng cường kiểm tra, giám sát góp phần đưa các quy định vào thực tiễn, nâng cao tính chuyên nghiệp, công khai, minh bạch và hiệu quả của hoạt động đấu giá tài sản.

Kết luận

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan của hoạt động đấu giá tài sản. Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định hiện hành, dự thảo Luật tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên, nhất là xử lý tình huống tại phiên đấu giá, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm. Những quy định này góp phần nâng cao trách nhiệm cá nhân của đấu giá viên, đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan. Để các quy định của dự thảo Luật phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần chú trọng hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp, bảo đảm điều kiện kỹ thuật cho đấu giá trực tuyến và tăng cường phối hợp trong xử lý vi phạm, giải quyết hậu quả pháp lý. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả quản lý nhà nước và củng cố niềm tin đối với hoạt động đấu giá tài sản trong bối cảnh mới.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Ảnh: Internet

Dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) kèm theo Tờ trình số 434/TTr-CP ngày 24/7/2026 của Chính phủ về dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi), nguồn: https://danchuphapluat.vn/tailieu-du-an-luat-dau-gia-tai-san-sua-doi-10359.html, truy cập ngày 01/10/2026.

[1]. Mục II Nghị quyết số 66-NQ/TW.

[2]. Klemperer, P. (2002), What Really Matters in Auction Design, Journal of Economic Perspectives, 16(1), pp.169-170, https://doi.org/10.1257/0895330027166.

[3]. Delacroix, S. (2022), Professional Responsibility: Conceptual Rescue and Plea for Reform, Oxford Journal of Legal Studies, 42(1), p.1, https://doi.org/10.1093/ojls/gqab010.

[4]. Điều 15: Quyền và nghĩa vụ của đấu giá viên.

[5]. Điều 60: Xử lý vi phạm đối với đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, Hội đồng đấu giá tài sản, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng.

[6]. Delacroix, S. (2022), tlđd.

[7]. Điều 10: Các hành vi bị nghiêm cấm.

[8]. Klemperer, P. (2002), tlđd.

[9]. Rothkopf, M. H., Teisberg, T. J., Kahn, E. P. (1990), Why Are Vickrey Auctions Rare?, Journal of Political Economy, Vol. 98, No. 1, pp. 94–109, DOI: 10.1086/261670.

[10]. Điều 17: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của đấu giá viên.

[11]. Wendel, W. B. (2007), Moral Judgment and Professional Legitimation, Saint Louis University Law Journal, Vol. 51, No. 4, p. 1073.

[12]. Điều 34: Đấu giá bằng hình thức trực tuyến.

[13]. Pavlou, P. A. và Gefen, D. (2004), Building Effective Online Marketplaces with Institution-Based Trust, Information Systems Research, Vol. 15, No. 1, pp. 37–59, DOI: 10.1287/isre.1040.0015.

[14]. Điều 16: Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên.

[15]. Điều 20: Quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản.

[16]. Điều 63: Hủy kết quả đấu giá tài sản.

[17]. Điều 64: Hậu quả pháp lý khi hủy kết quả đấu giá tài sản.

[18]. Binmore, K., Klemperer, P. (2002), The Biggest Auction Ever: The Sale of the British 3G Telecom Licences, The Economic Journal, Vol. 112, No. 478, pp. C74–C96, DOI: 10.1111/1468-0297.00020; Vickrey, W. (1961), Counterspeculation, Auctions, and Competitive Sealed Tenders, The Journal of Finance, Vol. 16, No. 1, pp. 8–37, DOI: 10.1111/j.1540-6261.1961.tb02789.x.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Binmore, K. và Klemperer, P. (2002), The Biggest Auction Ever: The Sale of the British 3G Telecom Licences, The Economic Journal, Vol. 112, No. 478. https://doi. org/10.1111/1468-0297.00020.
  2. Delacroix, S. (2022), Professional Responsibility: Conceptual Rescue and Plea for Reform, Oxford Journal of Legal Studies, Vol. 42, No. 1, https://doi. org/10.1093/ojls/gqab010.
  3. Klemperer, P. (2002), What Really Matters in Auction Design, Journal of Economic Perspectives, Vol. 16, No. 1, https://doi.org/10.1257/0895330027166.
  4. Pavlou, P. A. và Gefen, D. (2004), Building Effective Online Marketplaces with Institution-Based Trust, Information Systems Research, Vol. 15, No. 1, https://doi. org/10.1287/isre.1040.0015.
  5. Rothkopf, M. H., Teisberg, T. J. và Kahn, E. P. (1990), Why Are Vickrey Auctions Rare?, Journal of Political Economy, Vol. 98, No. 1, https://doi.org/10.1086/261670.
  6. Vickrey, W. (1961), Counterspeculation, Auctions, and Competitive Sealed Tenders, The Journal of Finance, Vol. 16, No. 1, https://doi. org/10.1111/j.1540-6261.1961.tb02789.x.
  7. Wendel, W. B. (2007), Moral Judgment and Professional Legitimation, Saint Louis University Law Journal, Vol. 51, No. 4. https://scholarship.law.slu.edu/lj/ vol51/iss4/8/.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, ấn phẩm “Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản”, xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.

Theo dõi chúng tôi trên: