Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) đã tạo lập khuôn khổ pháp lý quan trọng trong tổ chức và hoạt động luật sư. Tuy nhiên, yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý, hội nhập quốc tế, ứng dụng công nghệ và nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư đặt ra một số vấn đề mới cần được quy định rõ hơn.
Theo TS. Bùi Thị Hà, dự thảo Luật được xây dựng theo hướng rà soát, sắp xếp lại toàn bộ luật, giảm từ 94 điều còn 36 điều, đồng thời tiếp tục kế thừa các nguyên tắc nền tảng và sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung về tiêu chuẩn luật sư, tuyển chọn, hành nghề, tổ chức luật sư và cơ chế quản lý, tự quản. Do đó, dự thảo Luật cần được đánh giá không chỉ ở việc rút gọn số điều, mà chủ yếu ở cách phân định quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện trong từng lĩnh vực.
Bổ sung tiêu chuẩn và mở rộng đối tượng có thể trở thành luật sư
Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo Luật là điều chỉnh cách thức đánh giá đầu vào của người muốn trở thành luật sư thông qua việc tổ chức kỳ thi quốc gia, đồng thời bổ sung tiêu chuẩn và mở rộng đối tượng có thể trở thành luật sư. Theo đó, thay vì cơ chế kiểm tra kết quả tập sự như hiện nay, dự thảo Luật đề xuất thành lập Hội đồng tuyển chọn luật sư và tổ chức kỳ thi quốc gia, đánh giá kiến thức pháp luật, đạo đức, ứng xử và kỹ năng hành nghề. Người đạt yêu cầu được cấp Chứng chỉ hành nghề; trường hợp được miễn tập sự sẽ được Hội đồng đánh giá điều kiện.
Ngoài ra, dự thảo Luật cũng bổ sung các tiêu chuẩn như bản lĩnh chính trị vững vàng, liêm chính, trung thực và kiên quyết bảo vệ công lý. Đáng chú ý, dự thảo Luật cũng đề xuất mở rộng đối tượng có thể trở thành luật sư đối với người có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật nhưng không có bằng cử nhân luật vẫn có thể hành nghề luật sư nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về đào tạo nghề, tập sự và kỳ thi theo quy định. Theo TS. Bùi Thị Hà, những đề xuất này có thể mở rộng nguồn tuyển chọn, nhưng tiêu chí đánh giá cần cụ thể, minh bạch và bảo đảm thống nhất giữa các kỳ thi.
![]() |
| Theo TS. Bùi Thị Hà, dự thảo Luật cần được đánh giá không chỉ ở việc rút gọn số điều, mà chủ yếu ở cách phân định quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện trong từng lĩnh vực |
Bảo đảm quyền hành nghề gắn với trách nhiệm nghề nghiệp
Dự thảo Luật kế thừa các quy định của Luật Luật sư hiện hành về quyền, nghĩa vụ cốt lõi của luật sư, đồng thời cụ thể hóa một số quyền như: Được bảo đảm hành nghề, bảo mật thông tin trao đổi với khách hàng, phối hợp hoặc chuyển giao vụ việc trong những điều kiện nhất định. Dự thảo Luật cũng ghi nhận luật sư có thể tham gia với tư cách hòa giải viên, trọng tài viên hoặc quản tài viên theo pháp luật có liên quan.
Ở chiều ngược lại, dự thảo Luật nhấn mạnh trách nhiệm thông tin đầy đủ cho khách hàng, không tự ý chuyển giao vụ việc, tham gia bồi dưỡng hằng năm và thực hiện trách nhiệm xã hội… của luật sư. Những yêu cầu này góp phần xác định rõ hơn trách nhiệm của luật sư trong quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý, đồng thời tăng cường cơ sở để khách hàng giám sát việc thực hiện thỏa thuận và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Dự thảo Luật cũng bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo vệ luật sư trước hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật, đe dọa hoặc xúc phạm trong quá trình hành nghề; xử lý hành vi mạo danh luật sư hoặc cung cấp dịch vụ pháp lý khi không đủ điều kiện. Theo Phó Giám đốc Học viện Tư pháp, đây là hướng phát triển cần thiết, song cần bảo đảm quy định mới được áp dụng hài hòa với nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng và các nghĩa vụ khác theo pháp luật.
Đối với hợp đồng dịch vụ pháp lý, dự thảo Luật đề xuất theo hướng thích ứng hơn với giao dịch điện tử và tình huống cấp bách trong thực tiễn. Hợp đồng dịch vụ pháp lý có thể được ký bằng phương tiện điện tử. Trong trường hợp cấp bách để bảo vệ quyền lợi khách hàng, các bên có thể thỏa thuận bằng lời nói trước, nhưng phải lập thành văn bản trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận vụ việc. So với quy định hiện hành nhấn mạnh hình thức văn bản, đề xuất này tạo sự linh hoạt trong quá trình tiếp nhận và xử lý vụ việc. Cùng với đó, dự thảo Luật yêu cầu hợp đồng thể hiện rõ phạm vi dịch vụ, công việc luật sư thực hiện và giới hạn công việc (nếu có); quy định phương thức tính thù lao và chi phí. Theo TS. Bùi Thị Hà, nếu được thông qua, những nội dung này có thể giúp khách hàng hiểu rõ hơn dịch vụ mình nhận, hạn chế tranh chấp về phạm vi công việc và thù lao.
Gắn trách nhiệm nghề nghiệp với việc ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số
Dự thảo đề xuất thay đổi đáng kể mô hình tổ chức hành nghề luật sư thông qua việc mở rộng một số phương thức tổ chức và phát triển tổ chức hành nghề. Cụ thể, công ty luật trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên có thể có thành viên góp vốn theo điều kiện do Chính phủ quy định; tổ chức có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật, thành lập công ty con và thực hiện một số hình thức hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hoặc hợp tác kinh doanh.
Việc mở rộng khả năng huy động nguồn lực có thể tạo điều kiện để các tổ chức hành nghề phát triển quy mô và nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, để bảo vệ đặc thù của nghề luật sư, dự thảo Luật đặt giới hạn đối với thành viên góp vốn: Không được cung cấp dịch vụ pháp lý, điều hành chuyên môn, can thiệp vào tính độc lập của luật sư hoặc tiếp cận bí mật khách hàng.
TS. Bùi Thị Hà cho biết, hiệu quả của cơ chế này phụ thuộc nhiều vào việc quy định cụ thể điều kiện góp vốn và cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích. Đây là những vấn đề cần được quan tâm trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật để việc bổ sung nguồn lực cho tổ chức hành nghề không ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư.
Cùng với đó, dự thảo Luật không chỉ yêu cầu tổ chức hành nghề cung cấp dịch vụ theo đăng ký và thực hiện đúng hợp đồng với khách hàng, mà còn quy định rõ hơn trách nhiệm quản trị nội bộ. Tổ chức cần kiểm tra xung đột lợi ích, quản lý hồ sơ vụ việc, bảo đảm người làm việc không tiết lộ thông tin khách hàng, mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và thực hiện nghĩa vụ báo cáo.
Đáng chú ý, dự thảo Luật gắn trách nhiệm nghề nghiệp với việc ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số: Tổ chức phải bảo đảm an toàn hệ thống thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo mật thông tin khách hàng. Đây là bước phát triển phù hợp với thực tiễn cung cấp dịch vụ pháp lý hiện nay. Tổ chức luật sư cần coi các yêu cầu này là một phần của quản trị chất lượng và trách nhiệm với khách hàng mà không phải chỉ là thủ tục hành chính.
![]() |
| Phó Giám đốc Học viện Tư pháp Bùi Thị Hà cho rằng, cơ quan chủ trì soạn thảo cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn về kỳ thi quốc gia, miễn, giảm đào tạo và tập sự, điều kiện đối với thành viên góp vốn, quản trị dữ liệu và giải quyết khiếu nại |
Xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư
Đối với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, dự thảo Luật tiếp tục kế thừa mô hình Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư, đồng thời quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng tổ chức. So với Luật hiện hành, dự thảo Luật bổ sung các nhiệm vụ như: Hỗ trợ luật sư ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, tiếp cận thị trường pháp lý; tổ chức bồi dưỡng về chuyên môn, đạo đức và nhận thức chính trị; hỗ trợ luật sư, tổ chức luật sư tại địa bàn khó khăn. Dự thảo Luật cũng đề cập đến việc Nhà nước hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất đối với nhiệm vụ được giao và đặt ra yêu cầu công khai, minh bạch trong quản lý tài chính.
Về quan hệ giữa tự quản và quản lý nhà nước, dự thảo Luật tiếp tục xác định tổ chức xã hội – nghề nghiệp thực hiện quyền tự quản trong khuôn khổ pháp luật, nhấn mạnh trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời bổ sung trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc bảo đảm quyền hành nghề và chia sẻ dữ liệu, cũng như vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo TS. Bùi Thị Hà, hướng tiếp cận này nhằm kết hợp tính chủ động, trách nhiệm của tổ chức nghề nghiệp với yêu cầu quản lý và giám sát. Khi hoàn thiện, cần quy định rõ ranh giới và phương thức phối hợp để vừa bảo đảm kỷ luật nghề nghiệp, vừa giữ gìn tính độc lập của hoạt động luật sư.
Liên quan đến quy trình xử lý kỷ luật và giải quyết khiếu nại, dự thảo Luật quy định rõ hơn các cấp giải quyết khiếu nại trong hệ thống tổ chức luật sư: Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư giải quyết lần đầu; nếu không đồng ý, luật sư, cá nhân hoặc tổ chức có thể khiếu nại đến Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Quyết định của Ban Thường vụ là quyết định cuối cùng trong hệ thống này. Riêng luật sư bị tạm đình chỉ tư cách thành viên hoặc bị xóa tên khỏi danh sách luật sư có thể khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự nếu cho rằng quyết định giải quyết khiếu nại có dấu hiệu vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Dự thảo Luật cũng nêu cụ thể hơn các căn cứ thu hồi Chứng chỉ hành nghề, trong đó có trường hợp luật sư không hành nghề liên tục 24 tháng mà không có lý do chính đáng. Những quy định này hướng tới tăng cường kỷ luật nghề nghiệp; đồng thời, việc xử lý cần bảo đảm trình tự rõ ràng và quyền giải trình, khiếu nại, khởi kiện của người bị ảnh hưởng.
Bảo đảm quy định chuyển tiếp, tạo thuận lợi khi triển khai
Luật Luật sư (sửa đổi) dự kiến có hiệu lực từ ngày 01/3/2027, đồng thời quy định chuyển tiếp đối với người tập sự hành nghề luật sư, người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư theo Luật hiện hành.
Để các quy định mới được triển khai đồng bộ, Phó Giám đốc Bùi Thị Hà cho rằng, cơ quan chủ trì soạn thảo cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn về kỳ thi quốc gia, miễn, giảm đào tạo và tập sự, điều kiện đối với thành viên góp vốn, quản trị dữ liệu và giải quyết khiếu nại; đồng thời, cần thông tin đầy đủ, rõ ràng về quy định chuyển tiếp để luật sư, tổ chức hành nghề và người đang tập sự chủ động chuẩn bị, tránh gián đoạn hoạt động.
Có thể thấy, dự thảo Luật đề xuất điều chỉnh tương đối toàn diện các quy định về tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư, từ điều kiện hành nghề, mô hình tổ chức đến cơ chế quản lý và bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp lý. Theo TS. Bùi Thị Hà, việc hoàn thiện các quy định cần hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Để đạt được mục tiêu đó, bên cạnh nội dung quy định, tính minh bạch, khả thi và sự đồng bộ trong tổ chức thực hiện sẽ là những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của lần sửa đổi Luật lần này.