Thứ tư 21/10/2026 19:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.

Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) đã tạo lập khuôn khổ pháp lý quan trọng trong tổ chức và hoạt động luật sư. Tuy nhiên, yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý, hội nhập quốc tế, ứng dụng công nghệ và nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư đặt ra một số vấn đề mới cần được quy định rõ hơn.

Theo TS. Bùi Thị Hà, dự thảo Luật được xây dựng theo hướng rà soát, sắp xếp lại toàn bộ luật, giảm từ 94 điều còn 36 điều, đồng thời tiếp tục kế thừa các nguyên tắc nền tảng và sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung về tiêu chuẩn luật sư, tuyển chọn, hành nghề, tổ chức luật sư và cơ chế quản lý, tự quản. Do đó, dự thảo Luật cần được đánh giá không chỉ ở việc rút gọn số điều, mà chủ yếu ở cách phân định quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện trong từng lĩnh vực.

Bổ sung tiêu chuẩn và mở rộng đối tượng có thể trở thành luật sư

Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo Luật là điều chỉnh cách thức đánh giá đầu vào của người muốn trở thành luật sư thông qua việc tổ chức kỳ thi quốc gia, đồng thời bổ sung tiêu chuẩn và mở rộng đối tượng có thể trở thành luật sư. Theo đó, thay vì cơ chế kiểm tra kết quả tập sự như hiện nay, dự thảo Luật đề xuất thành lập Hội đồng tuyển chọn luật sư và tổ chức kỳ thi quốc gia, đánh giá kiến thức pháp luật, đạo đức, ứng xử và kỹ năng hành nghề. Người đạt yêu cầu được cấp Chứng chỉ hành nghề; trường hợp được miễn tập sự sẽ được Hội đồng đánh giá điều kiện.

Ngoài ra, dự thảo Luật cũng bổ sung các tiêu chuẩn như bản lĩnh chính trị vững vàng, liêm chính, trung thực và kiên quyết bảo vệ công lý. Đáng chú ý, dự thảo Luật cũng đề xuất mở rộng đối tượng có thể trở thành luật sư đối với người có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật nhưng không có bằng cử nhân luật vẫn có thể hành nghề luật sư nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về đào tạo nghề, tập sự và kỳ thi theo quy định. Theo TS. Bùi Thị Hà, những đề xuất này có thể mở rộng nguồn tuyển chọn, nhưng tiêu chí đánh giá cần cụ thể, minh bạch và bảo đảm thống nhất giữa các kỳ thi.

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý
Theo TS. Bùi Thị Hà, dự thảo Luật cần được đánh giá không chỉ ở việc rút gọn số điều, mà chủ yếu ở cách phân định quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện trong từng lĩnh vực

Bảo đảm quyền hành nghề gắn với trách nhiệm nghề nghiệp

Dự thảo Luật kế thừa các quy định của Luật Luật sư hiện hành về quyền, nghĩa vụ cốt lõi của luật sư, đồng thời cụ thể hóa một số quyền như: Được bảo đảm hành nghề, bảo mật thông tin trao đổi với khách hàng, phối hợp hoặc chuyển giao vụ việc trong những điều kiện nhất định. Dự thảo Luật cũng ghi nhận luật sư có thể tham gia với tư cách hòa giải viên, trọng tài viên hoặc quản tài viên theo pháp luật có liên quan.

Ở chiều ngược lại, dự thảo Luật nhấn mạnh trách nhiệm thông tin đầy đủ cho khách hàng, không tự ý chuyển giao vụ việc, tham gia bồi dưỡng hằng năm và thực hiện trách nhiệm xã hội… của luật sư. Những yêu cầu này góp phần xác định rõ hơn trách nhiệm của luật sư trong quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý, đồng thời tăng cường cơ sở để khách hàng giám sát việc thực hiện thỏa thuận và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Dự thảo Luật cũng bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo vệ luật sư trước hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật, đe dọa hoặc xúc phạm trong quá trình hành nghề; xử lý hành vi mạo danh luật sư hoặc cung cấp dịch vụ pháp lý khi không đủ điều kiện. Theo Phó Giám đốc Học viện Tư pháp, đây là hướng phát triển cần thiết, song cần bảo đảm quy định mới được áp dụng hài hòa với nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng và các nghĩa vụ khác theo pháp luật.

Đối với hợp đồng dịch vụ pháp lý, dự thảo Luật đề xuất theo hướng thích ứng hơn với giao dịch điện tử và tình huống cấp bách trong thực tiễn. Hợp đồng dịch vụ pháp lý có thể được ký bằng phương tiện điện tử. Trong trường hợp cấp bách để bảo vệ quyền lợi khách hàng, các bên có thể thỏa thuận bằng lời nói trước, nhưng phải lập thành văn bản trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận vụ việc. So với quy định hiện hành nhấn mạnh hình thức văn bản, đề xuất này tạo sự linh hoạt trong quá trình tiếp nhận và xử lý vụ việc. Cùng với đó, dự thảo Luật yêu cầu hợp đồng thể hiện rõ phạm vi dịch vụ, công việc luật sư thực hiện và giới hạn công việc (nếu có); quy định phương thức tính thù lao và chi phí. Theo TS. Bùi Thị Hà, nếu được thông qua, những nội dung này có thể giúp khách hàng hiểu rõ hơn dịch vụ mình nhận, hạn chế tranh chấp về phạm vi công việc và thù lao.

Gắn trách nhiệm nghề nghiệp với việc ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số

Dự thảo đề xuất thay đổi đáng kể mô hình tổ chức hành nghề luật sư thông qua việc mở rộng một số phương thức tổ chức và phát triển tổ chức hành nghề. Cụ thể, công ty luật trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên có thể có thành viên góp vốn theo điều kiện do Chính phủ quy định; tổ chức có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật, thành lập công ty con và thực hiện một số hình thức hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hoặc hợp tác kinh doanh.

Việc mở rộng khả năng huy động nguồn lực có thể tạo điều kiện để các tổ chức hành nghề phát triển quy mô và nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, để bảo vệ đặc thù của nghề luật sư, dự thảo Luật đặt giới hạn đối với thành viên góp vốn: Không được cung cấp dịch vụ pháp lý, điều hành chuyên môn, can thiệp vào tính độc lập của luật sư hoặc tiếp cận bí mật khách hàng.

TS. Bùi Thị Hà cho biết, hiệu quả của cơ chế này phụ thuộc nhiều vào việc quy định cụ thể điều kiện góp vốn và cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích. Đây là những vấn đề cần được quan tâm trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật để việc bổ sung nguồn lực cho tổ chức hành nghề không ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư.

Cùng với đó, dự thảo Luật không chỉ yêu cầu tổ chức hành nghề cung cấp dịch vụ theo đăng ký và thực hiện đúng hợp đồng với khách hàng, mà còn quy định rõ hơn trách nhiệm quản trị nội bộ. Tổ chức cần kiểm tra xung đột lợi ích, quản lý hồ sơ vụ việc, bảo đảm người làm việc không tiết lộ thông tin khách hàng, mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và thực hiện nghĩa vụ báo cáo.

Đáng chú ý, dự thảo Luật gắn trách nhiệm nghề nghiệp với việc ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số: Tổ chức phải bảo đảm an toàn hệ thống thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo mật thông tin khách hàng. Đây là bước phát triển phù hợp với thực tiễn cung cấp dịch vụ pháp lý hiện nay. Tổ chức luật sư cần coi các yêu cầu này là một phần của quản trị chất lượng và trách nhiệm với khách hàng mà không phải chỉ là thủ tục hành chính.

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý
Phó Giám đốc Học viện Tư pháp Bùi Thị Hà cho rằng, cơ quan chủ trì soạn thảo cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn về kỳ thi quốc gia, miễn, giảm đào tạo và tập sự, điều kiện đối với thành viên góp vốn, quản trị dữ liệu và giải quyết khiếu nại

Xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư

Đối với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, dự thảo Luật tiếp tục kế thừa mô hình Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư, đồng thời quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng tổ chức. So với Luật hiện hành, dự thảo Luật bổ sung các nhiệm vụ như: Hỗ trợ luật sư ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, tiếp cận thị trường pháp lý; tổ chức bồi dưỡng về chuyên môn, đạo đức và nhận thức chính trị; hỗ trợ luật sư, tổ chức luật sư tại địa bàn khó khăn. Dự thảo Luật cũng đề cập đến việc Nhà nước hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất đối với nhiệm vụ được giao và đặt ra yêu cầu công khai, minh bạch trong quản lý tài chính.

Về quan hệ giữa tự quản và quản lý nhà nước, dự thảo Luật tiếp tục xác định tổ chức xã hội – nghề nghiệp thực hiện quyền tự quản trong khuôn khổ pháp luật, nhấn mạnh trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời bổ sung trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc bảo đảm quyền hành nghề và chia sẻ dữ liệu, cũng như vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo TS. Bùi Thị Hà, hướng tiếp cận này nhằm kết hợp tính chủ động, trách nhiệm của tổ chức nghề nghiệp với yêu cầu quản lý và giám sát. Khi hoàn thiện, cần quy định rõ ranh giới và phương thức phối hợp để vừa bảo đảm kỷ luật nghề nghiệp, vừa giữ gìn tính độc lập của hoạt động luật sư.

Liên quan đến quy trình xử lý kỷ luật và giải quyết khiếu nại, dự thảo Luật quy định rõ hơn các cấp giải quyết khiếu nại trong hệ thống tổ chức luật sư: Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư giải quyết lần đầu; nếu không đồng ý, luật sư, cá nhân hoặc tổ chức có thể khiếu nại đến Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Quyết định của Ban Thường vụ là quyết định cuối cùng trong hệ thống này. Riêng luật sư bị tạm đình chỉ tư cách thành viên hoặc bị xóa tên khỏi danh sách luật sư có thể khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự nếu cho rằng quyết định giải quyết khiếu nại có dấu hiệu vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Dự thảo Luật cũng nêu cụ thể hơn các căn cứ thu hồi Chứng chỉ hành nghề, trong đó có trường hợp luật sư không hành nghề liên tục 24 tháng mà không có lý do chính đáng. Những quy định này hướng tới tăng cường kỷ luật nghề nghiệp; đồng thời, việc xử lý cần bảo đảm trình tự rõ ràng và quyền giải trình, khiếu nại, khởi kiện của người bị ảnh hưởng.

Bảo đảm quy định chuyển tiếp, tạo thuận lợi khi triển khai

Luật Luật sư (sửa đổi) dự kiến có hiệu lực từ ngày 01/3/2027, đồng thời quy định chuyển tiếp đối với người tập sự hành nghề luật sư, người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư theo Luật hiện hành.

Để các quy định mới được triển khai đồng bộ, Phó Giám đốc Bùi Thị Hà cho rằng, cơ quan chủ trì soạn thảo cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn về kỳ thi quốc gia, miễn, giảm đào tạo và tập sự, điều kiện đối với thành viên góp vốn, quản trị dữ liệu và giải quyết khiếu nại; đồng thời, cần thông tin đầy đủ, rõ ràng về quy định chuyển tiếp để luật sư, tổ chức hành nghề và người đang tập sự chủ động chuẩn bị, tránh gián đoạn hoạt động.

Có thể thấy, dự thảo Luật đề xuất điều chỉnh tương đối toàn diện các quy định về tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư, từ điều kiện hành nghề, mô hình tổ chức đến cơ chế quản lý và bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp lý. Theo TS. Bùi Thị Hà, việc hoàn thiện các quy định cần hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. Để đạt được mục tiêu đó, bên cạnh nội dung quy định, tính minh bạch, khả thi và sự đồng bộ trong tổ chức thực hiện sẽ là những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của lần sửa đổi Luật lần này.

TD

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 9/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 9/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn) Trong tháng 9/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: