Từ khóa: luật sư; hành nghề luật sư; dịch vụ pháp lý; pháp luật về luật sư; bổ trợ tư pháp; Nhà nước pháp quyền.
Đặt vấn đề
Luật Luật sư năm 2006 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động luật sư, góp phần phát triển đội ngũ luật sư và thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam. Tuy nhiên, sau 20 năm thi hành, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, nhiều quy định của Luật đã không còn phù hợp; thậm chí, một số quy định mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu đồng bộ với pháp luật có liên quan. Đặc biệt, yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về luật sư, hành nghề luật sư, bảo đảm để luật sư thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định của pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư[1]; phát triển hệ thống dịch vụ pháp lý, đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ pháp lý bảo đảm để người dân, doanh nghiệp thuận lợi trong tiếp cận pháp luật, quản trị rủi ro pháp lý; ưu tiên nguồn lực hỗ trợ pháp lý cho khu vực kinh tế tư nhân[2]. Vì vậy, việc xây dựng và trình Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI là cần thiết. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá sự cần thiết phải hoàn thiện, xác định định hướng hoàn thiện pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về tổ chức và hoạt động luật sư, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Nghiên cứu không phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về luật sư công vì đã được quy định tại Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội khóa XVI về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; đồng thời, theo Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Luật sư (sửa đổi), các nội dung liên quan đến luật sư công không thuộc phạm vi điều chỉnh của dự án Luật.
1. Sự cần thiết và những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về luật sư
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về luật sư không chỉ xuất phát từ những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành mà trước hết bắt nguồn từ cơ sở chính trị, pháp lý và yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới. Những yếu tố này vừa tạo nền tảng cho việc hoàn thiện pháp luật, vừa xác định các vấn đề trọng tâm mà pháp luật về luật sư cần phải giải quyết trong giai đoạn hiện nay.
1.1. Bảo đảm phù hợp với quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và xây dựng, thi hành pháp luật trong bối cảnh mới
Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng, hoàn thiện pháp luật, trong đó, có những chủ trương, chính sách liên quan đến luật sư và nghề luật sư. Vì vậy, việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về luật sư phải bảo đảm phù hợp với các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Thứ nhất, bảo đảm phù hợp với chủ trương về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh mới. Trong nhiều văn kiện, nghị quyết, Đảng xác định tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam[3]. Đặc biệt, Đảng xác định, mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hệ thống pháp luật hoàn thiện, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, hiện đại, tiệm cận chuẩn mực, thông lệ quốc tế tiên tiến, phù hợp với thực tiễn đất nước[4]; tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến tư pháp, bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân…[5]. Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh mới đặt yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng pháp luật và hoạt động của các thiết chế bảo vệ pháp luật, thi hành pháp luật. Trong đó, quyền con người, quyền công dân phải được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ; quyền tiếp cận công lý và tiếp cận dịch vụ pháp lý của người dân phải được thực hiện đơn giản, thuận lợi trên thực tế[6]. Đồng thời, luật sư đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý, hỗ trợ, giúp người dân hiểu, thực hiện, tuân thủ và sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, qua đó, góp phần hình thành văn hóa tuân thủ pháp luật. Đặc biệt, luật sư còn có vai trò quan trọng trong đấu tranh, bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, góp phần bảo đảm công bằng, bình đẳng trước pháp luật cho các chủ thể trong xã hội.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, luật sư cần có điều kiện pháp lý thuận lợi để thực hiện chức năng nghề nghiệp và chức năng xã hội của mình. Là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật về luật sư giữ vai trò xác lập khuôn khổ pháp lý cho tổ chức, hoạt động hành nghề luật sư, bảo đảm luật sư thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp. Theo đó, pháp luật không chỉ cần quy định rõ điều kiện hành nghề đối với luật sư và tổ chức hành nghề luật sư mà còn phải bảo đảm cơ chế để luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý, tranh tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Đồng thời, cần có quy định phù hợp để luật sư thực hiện chức năng xã hội thông qua việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí, tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật, hỗ trợ người dân tiếp cận pháp luật và góp phần bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng trước pháp luật[7].
Thứ hai, bảo đảm phù hợp với quan điểm của Đảng về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đảng xác định cần đổi mới mạnh mẽ, căn bản công tác xây dựng và thi hành pháp luật, coi đây là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước; là một nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việc xây dựng pháp luật phải theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển, dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”; phải bám sát thực tiễn, “đứng trên mảnh đất thực tiễn của Việt Nam”, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại, đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Đặc biệt, việc xây dựng pháp luật phải bảo đảm đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, phải tạo điều kiện để nắm bắt mọi cơ hội, mở đường, khơi thông mọi nguồn lực, tạo nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số”, nâng cao đời sống của Nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước[8].
Đối với lĩnh vực luật sư, những định hướng này có ý nghĩa đặc biệt, bởi luật sư là chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý, hỗ trợ pháp lý cho người dân, doanh nghiệp trong việc nhận diện, quản trị rủi ro pháp lý, góp phần phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và trực tiếp tham gia giải quyết tranh chấp, qua đó, giúp cá nhân, tổ chức thực hiện đúng pháp luật và hình thành văn hóa tuân thủ pháp luật. Đồng thời, luật sư còn thực hiện chức năng xã hội, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các cá nhân, tổ chức. Đặc biệt, yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại đòi hỏi Việt Nam chuyển từ tư duy quản lý thuần túy sang tư duy kiến tạo phát triển, giảm thiểu các rào cản pháp lý không cần thiết; đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường trách nhiệm của chủ thể hành nghề. Vì vậy, pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư cần bảo đảm cơ chế pháp lý phù hợp để luật sư thực hiện hiệu quả các chức năng xã hội, đồng thời, thiết lập các chuẩn mực cần thiết nhằm bảo đảm tính chuyên nghiệp, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp. Đồng thời, các quy định pháp luật về luật sư phải bảo đảm dễ thực hiện, chi phí tuân thủ thấp, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; cần đơn giản hóa, cắt giảm tối đa thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho luật sư hoạt động và nghề luật sư phát triển.
Bên cạnh đó, pháp luật về luật sư phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Đối với nghề luật sư, yêu cầu này cần được thể hiện ở việc phân định rõ những vấn đề thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước với những vấn đề giao cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp thực hiện trên cơ sở tự quản và tự chịu trách nhiệm. Nhà nước cần tập trung vào việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, hoạch định chính sách, xây dựng môi trường, định hướng chiến lược phát triển, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phát huy vai trò giám sát theo chức năng, nhiệm vụ; tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quản lý nghề nghiệp, giám sát việc tuân thủ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định. Đặc biệt, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn luật sư được xác định là một trong những hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ[9] nên cần được tổ chức, hoạt động theo đúng Quyết định số 118-QĐ/TW[10], Chỉ thị số 11-CT/TW[11] và Kết luận số 230-KL/TW. Theo đó, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các Đoàn Luật sư địa phương cần thực hiện cơ chế tự chủ, tự quản, tự chịu trách nhiệm, bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình; Nhà nước chỉ hỗ trợ trên cơ sở nhiệm vụ cụ thể do Đảng, Nhà nước giao, sản phẩm đầu ra và hiệu quả hoạt động. Đồng thời, mở rộng cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu cung cấp dịch vụ công đối với các nhiệm vụ phục vụ lợi ích công và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với tổ chức, hoạt động của Liên đoàn Luật sư Việt Nam cũng như các Đoàn luật sư địa phương.
Thứ ba, bảo đảm phù hợp với định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong bối cảnh mới. Đảng xác định cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật có thứ bậc; các quy định của luật phải mang tính ổn định, có giá trị lâu dài; luật chỉ quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, không quy định thủ tục hành chính, trình tự, hồ sơ trong luật; các vấn đề thực tiễn, biến động thì giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với thực tiễn[12]. Đồng thời, cần xác định rõ quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư trong xây dựng pháp luật[13].
Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về luật sư phải bảo đảm thể chế hóa các quan điểm này. Luật Luật sư chỉ quy định những vấn đề chung, mang tính nguyên tắc; các quy định về thủ tục hành chính, trình tự, hồ sơ được quy định trong các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành theo thẩm quyền. Đồng thời, đối với các quy phạm pháp luật công, nhất là các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân và tố tụng, cần bảo đảm tính cụ thể, chặt chẽ, minh bạch; thẩm quyền quản lý nhà nước phải được quy định rõ ràng, gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực và phòng ngừa việc lạm dụng quyền lực; đối với các quy phạm pháp luật tư không mang tính quyền lực nhà nước chỉ quy định mang tính nguyên tắc[14]. Bên cạnh đó, pháp luật về luật sư phải quy định rõ mục đích ban hành, phạm vi điều chỉnh, hiệu lực áp dụng, quy định chuyển tiếp; hạn chế ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật khi không cần thiết.
1.2. Yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong tổ chức, hoạt động và quản lý luật sư
Phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số là yêu cầu cấp bách, xuất phát từ nhu cầu nội tại, là giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu. Vì vậy, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng về đẩy mạnh phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng chính quyền số, xã hội số, công dân số…[15]. Đồng thời, Đảng, Nhà nước xác định việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia phải gắn kết chặt chẽ với ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số để cải cách, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp[16].
Đồng thời, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo cũng đang làm thay đổi phương thức hành nghề luật sư và cung cấp dịch vụ pháp lý. Hồ sơ điện tử, giao dịch điện tử, tư vấn trực tuyến, cơ sở dữ liệu pháp luật và các công cụ trí tuệ nhân tạo đang từng bước được sử dụng trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư. Những ứng dụng này tạo cơ hội nâng cao năng suất, chất lượng dịch vụ pháp lý nhưng cũng đặt ra các vấn đề mới về bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu khách hàng, xác minh thông tin và xác định trách nhiệm nghề nghiệp khi sử dụng công nghệ.
Trong khi đó, pháp luật về luật sư hiện hành chưa có quy định chuyên biệt, đầy đủ để điều chỉnh các vấn đề phát sinh từ việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong hành nghề luật sư. Vì vậy, cần sửa đổi, hoàn thiện pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư. Đặc biệt, pháp luật về luật sư cần quy định theo hướng cắt giảm, đơn giản hóa các quy trình, thủ tục hành chính không cần thiết; đẩy mạnh giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số, khai thác dữ liệu để giảm yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý được tốt nhất, nhanh nhất, đồng thời, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư.
1.3. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng những thay đổi của nghề luật sư và định hướng phát triển đất nước trong bối cảnh mới
Kỷ nguyên mới là kỷ nguyên vươn mình phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu; mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu[17]. Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam đưa ra mục tiêu: đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa[18]. Để đạt được các mục tiêu này, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản, chủ trương, chính sách để xây dựng Nhà nước pháp quyền, đẩy mạnh phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, trong đó, có các chủ trương, định hướng phát triển luật sư và nghề luật sư. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về luật sư cần bám sát quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Thứ nhất, yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế. Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế đến nay, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng vào đời sống quốc tế. Hội nhập quốc tế trở thành nhu cầu và xu thế tất yếu. Vì vậy, thời gian qua, Đảng đã ban hành nhiều văn bản, nghị quyết liên quan đến xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, trong đó có hợp tác quốc tế về pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp[19]. Đồng thời, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức, định chế quốc tế và ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong đó có các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ pháp lý. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế đã tham gia. Đặc biệt, thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, chủ trương chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn, dễ thực thi; rà soát, loại bỏ những điều kiện kinh doanh không cần thiết, quy định chồng chéo, không phù hợp, cản trở sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân…[20].
Như vậy, quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế, nhất là hội nhập kinh tế làm gia tăng nhu cầu về các dịch vụ pháp lý chất lượng cao. Trong nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cần tư vấn pháp luật trong nước mà còn cần hỗ trợ về pháp luật quốc tế, đầu tư quốc tế, thương mại xuyên biên giới, giải quyết tranh chấp và quản trị rủi ro. Điều này đòi hỏi pháp luật về luật sư phải tạo điều kiện phát triển các tổ chức hành nghề luật sư theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng cung cấp dịch vụ pháp lý trong nước, quốc tế. Vì thế, với chính sách hội nhập quốc tế, đặt ra yêu cầu phát triển thị trường dịch vụ pháp lý minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, chuyên nghiệp và phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam; đồng thời, đội ngũ luật sư Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào các hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại, giải quyết tranh chấp, giao dịch xuyên biên giới và các lĩnh vực pháp luật chuyên sâu. Do đó, hoàn thiện pháp luật về luật sư không chỉ là yêu cầu của cải cách tư pháp mà còn góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ hai, yêu cầu phát triển nghề luật sư và đội ngũ luật sư trong bối cảnh mới. Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, Đảng đã có nhiều chủ trương, định hướng quan trọng về phát triển đội ngũ luật sư và nghề luật sư như nghiên cứu cơ chế có điều kiện cho phép viên chức được hành nghề luật sư[21]; nâng cao tiêu chuẩn chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư; hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút luật sư tham gia hoạt động tư vấn pháp luật, nhất là hoạt động tư vấn giải quyết tranh chấp quốc tế, phục vụ hội nhập quốc tế; tư vấn các chính sách thu hút đầu tư, dự án kinh tế - xã hội ở trung ương và địa phương; trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người dân ở vùng sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số, đối tượng chính sách và các công tác xã hội khác[22]; ưu tiên nguồn lực hỗ trợ pháp lý cho khu vực kinh tế tư nhân[23]…
Những chủ trương này đòi hỏi pháp luật về luật sư phải được hoàn thiện để tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển đội ngũ luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, tập trung vào các vấn đề sau:
(i) Hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm mở rộng đối tượng được tham gia hành nghề luật sư; phát triển đội ngũ luật sư đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong bối cảnh mới.
(ii) Đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, tập sự hành nghề luật sư, kiểm tra kết quả tập sự và các cơ chế tuyển chọn, phát triển đội ngũ luật sư; qua đó, xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, am hiểu pháp luật, giỏi về kỹ năng hành nghề và ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế[24].
(iii) Hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của luật sư; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời, phát huy trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động hành nghề luật sư.
Như vậy, các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về luật sư nhằm đáp ứng những thay đổi của nghề luật sư, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Việc hoàn thiện pháp luật cần được thực hiện trên cơ sở thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương, định hướng có liên quan, đồng thời giải quyết những bất cập của pháp luật hiện hành và những vấn đề phát sinh từ thực tiễn hành nghề luật sư.
2. Một số hạn chế, bất cập của pháp luật về luật sư
Kể từ khi được ban hành đến nay, Luật Luật sư năm 2006 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đã tạo lập khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ cho tổ chức, hoạt động luật sư; nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ pháp lý; đội ngũ luật sư Việt Nam đã phát triển nhanh cả về số lượng và phạm vi hoạt động[25]; một số tổ chức hành nghề đã bước đầu xây dựng được thương hiệu, tạo được uy tín trên thị trường dịch vụ pháp lý trong khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, kết quả đạt được, pháp luật về luật sư còn những tồn tại, hạn chế nhất định[26].
Một là, Luật Luật sư năm 2006 đã bộc lộ những hạn chế trước sự thay đổi của thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh mới. Một số quy định chưa phù hợp với quan điểm, chủ trương của Đảng về đổi mới tư duy xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật; chưa bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các quy định pháp luật có liên quan về tố tụng, tổ chức bộ máy, đầu tư, kinh doanh, doanh nghiệp, giao dịch điện tử, chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền, chính quyền địa phương hai cấp.
Hai là, một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề, đào tạo, tập sự và kiểm soát chất lượng luật sư không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay. Quy trình trở thành luật sư hiện còn nhiều khâu, trong khi chất lượng đội ngũ luật sư chưa đồng đều về trình độ chuyên môn, kỹ năng hành nghề và đạo đức nghề nghiệp. Việc tuân thủ quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp và cơ chế phát hiện, phòng ngừa, xử lý vi phạm còn những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hành nghề luật sư.
Ba là, cơ chế quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp còn những bất cập nhất định. Việc phân định trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước với tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong một số lĩnh vực chưa thực sự rõ ràng; năng lực tự quản của một số tổ chức nghề nghiệp chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn; nguyên tắc kết hợp giữa quản lý nhà nước với chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư chưa được phát huy đầy đủ trong một số hoạt động. Trong khi đó, yêu cầu quản lý hiện đại đòi hỏi Nhà nước vừa phải bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, vừa tạo điều kiện để nghề luật sư phát triển.
Bốn là, pháp luật về tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển thị trường dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, hiện đại, hội nhập quốc tế. Một số quy định về tổ chức hành nghề, cung cấp dịch vụ pháp lý và quan hệ với khách hàng chưa được quy định cụ thể dẫn đến cách hiểu, áp dụng chưa thống nhất, chưa phù hợp với thực tiễn. Bên cạnh đó, cần làm rõ ranh giới giữa hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư và các hoạt động tư vấn, hỗ trợ pháp lý do chủ thể khác thực hiện theo quy định của pháp luật; đồng thời, rà soát sự tương thích giữa điều kiện hành nghề luật sư và các điều kiện kinh doanh có liên quan. Những vấn đề này cần được nghiên cứu, xử lý phù hợp nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp lý và quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Năm là, pháp luật về luật sư chưa có các quy định chuyên biệt, đầy đủ để điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh từ ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong tổ chức, quản lý và hành nghề luật sư… Việc sử dụng nền tảng trực tuyến, dữ liệu điện tử và trí tuệ nhân tạo có thể làm phát sinh những rủi ro mới về bảo mật, trách nhiệm nghề nghiệp và chất lượng dịch vụ pháp lý. Vì vậy, việc chưa có quy định pháp luật phù hợp để điều chỉnh những vấn đề này tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng và xã hội.
Sáu là, năng lực hội nhập quốc tế của một bộ phận luật sư và tổ chức hành nghề luật sư còn hạn chế. Số lượng tổ chức hành nghề luật sư có khả năng cung cấp dịch vụ pháp lý xuyên biên giới và tham gia giải quyết các vụ việc phức tạp về thương mại, đầu tư quốc tế còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng của đất nước.
Bảy là, khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý của người dân, nhất là người thuộc nhóm yếu thế và người sinh sống tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn còn hạn chế. Điều này cho thấy, việc phát triển nghề luật sư và thị trường dịch vụ pháp lý chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực hiện chức năng xã hội của luật sư và yêu cầu bảo đảm công bằng trong tiếp cận công lý của người dân và xã hội.
Những hạn chế, bất cập nêu trên đặt ra yêu cầu rà soát, sửa đổi và hoàn thiện pháp luật về luật sư theo hướng đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển nghề luật sư và đất nước trong bối cảnh mới.
3. Định hướng hoàn thiện pháp luật về luật sư trong bối cảnh mới
Từ những cơ sở chính trị, pháp lý, yêu cầu phát triển của đất nước và thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về luật sư là yêu cầu khách quan, cần được thực hiện theo hướng đồng bộ, hiện đại, khả thi. Việc sửa đổi pháp luật cần bảo đảm tính kế thừa, đồng thời, loại bỏ những quy định không còn phù hợp và bổ sung quy định điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh.
3.1. Thể chế hóa đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng và đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đây là định hướng có tính nền tảng, xuyên suốt trong quá trình sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về luật sư. Theo đó, việc hoàn thiện pháp luật về luật sư cần bám sát các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và phát triển hệ thống dịch vụ pháp lý hiện đại, tiếp thu có chọn lọc các chuẩn mực, thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện của Việt Nam[27].
Pháp luật về luật sư cần tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa chức năng xã hội của luật sư, bảo đảm luật sư thực sự là một trong những chủ thể góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mang lại công bằng, bình đẳng về pháp luật cho xã hội. Đồng thời, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý nghề nghiệp theo hướng hành chính sang quản lý dựa trên tiêu chuẩn, trách nhiệm, chất lượng và hiệu quả.
Các quy định mới phải bảo đảm tính thống nhất với Hiến pháp và các luật về tố tụng, tư pháp, dân sự, kinh doanh, đầu tư, giao dịch điện tử và các lĩnh vực có liên quan. Việc hoàn thiện pháp luật cũng cần bảo đảm nguyên tắc minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận và dễ thực hiện, phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới theo Nghị quyết số 66-NQ/TW.
3.2. Bảo đảm đồng bộ giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp của luật sư
Quyền hành nghề là điều kiện cần thiết để luật sư thực hiện chức năng xã hội nhưng phải luôn gắn với trách nhiệm nghề nghiệp. Vì vậy, pháp luật cần xác định rõ hơn phạm vi quyền của luật sư trong quan hệ với khách hàng, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước và các chủ thể khác có liên quan; đồng thời, quy định tương xứng về trách nhiệm cung cấp dịch vụ, bảo mật thông tin, tránh xung đột lợi ích, trung thực và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Đạo đức nghề nghiệp luật sư cần được coi là một cấu phần không thể tách rời của chất lượng luật sư. Pháp luật cần tạo cơ sở để tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư xây dựng, cập nhật và giám sát thực hiện các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; đồng thời, hoàn thiện cơ chế phát hiện, xử lý vi phạm, bảo đảm tính nghiêm minh và phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm.
Theo hướng này, pháp luật về luật sư không chỉ mở rộng quyền hành nghề mà còn phải nâng cao chuẩn mực đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hành nghề luật sư, như lừa dối khách hàng; cung cấp tài liệu, chứng cứ giả; hướng dẫn khách hàng, người tham gia tố tụng khai sai sự thật; xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật… Đồng thời, cần làm rõ phạm vi hoạt động dịch vụ pháp lý mà cá nhân, tổ chức không phải là luật sư được phép thực hiện và cơ chế quản lý tương ứng, tránh xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp cũng như hạn chế hoạt động hợp pháp của các chủ thể khác. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng đội ngũ luật sư có năng lực chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm và ý thức tuân thủ chuẩn mực đạo đức, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh mới.
3.3. Đổi mới quy định về đào tạo, bồi dưỡng, tập sự và kiểm soát chất lượng đội ngũ luật sư
Chất lượng luật sư phụ thuộc trước hết vào chất lượng đầu vào, quá trình đào tạo nghề và bồi dưỡng kỹ năng năng nghề nghiệp, chuyên môn, nghiệp vụ. Vì vậy, pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện để tạo cơ sở cho việc đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tăng thực hành, kỹ năng nghề nghiệp, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng số, pháp luật quốc tế và kỹ năng giải quyết các vấn đề pháp lý mới.
Cần thiết lập cơ chế đánh giá thực chất năng lực hành nghề thay vì chỉ kiểm soát về hồ sơ, thời gian và thủ tục. Việc tập sự phải bảo đảm người tập sự được tiếp cận thực tế nghề nghiệp dưới sự hướng dẫn của những luật sư có kinh nghiệm, đủ năng lực và đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định, đồng thời được đánh giá thực chất, khách quan[28]. Muốn vậy, pháp luật cần quy định về việc trở thành luật sư, trong đó kiểm soát, đánh giá được kết quả các khâu từ gia nhập Đoàn luật sư, tập sự đến tổ chức kỳ thi quốc gia để cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, liên thông, khắc phục được tình trạng “cắt khúc” giữa đào tạo - tập sự - kiểm tra - cấp chứng chỉ hành nghề như hiện nay.
Đặc biệt, pháp luật về luật sư cần quy định kỳ thi quốc gia phải có sự thay đổi căn bản về bản chất, chuyển từ chỉ kiểm tra kết quả tập sự do Liên đoàn Luật sư Việt Nam tự tổ chức như hiện nay sang đánh giá toàn diện năng lực đầu vào từ nhận thức chính trị, pháp luật về luật sư, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, kỹ năng hành nghề luật sư. Muốn vậy, kỳ thi quốc gia phải do hội đồng tuyển chọn luật sư có tính liên ngành, độc lập, khách quan, có kết hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước với tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở đạo tạo và sự tham gia của các chuyên gia, luật sư.
Bên cạnh đó, pháp luật về luật sư cần rà soát cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục trở thành luật sư nhưng cần phân định rõ điều kiện hành nghề luật sư với điều kiện kinh doanh theo pháp luật về đầu tư và các điều kiện áp dụng đối với việc cung cấp dịch vụ pháp lý. Việc giảm số lượng các khâu, các bước không được đồng nghĩa với giảm yêu cầu về chuyên môn, bản lĩnh chính trị, đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp. Vì vậy, pháp luật về luật sư cần bảo đảm hài hòa giữa đơn giản hóa thủ tục, tăng cường tính liên thông trong quy trình trở thành luật sư và nâng cao chất lượng chất lượng cung cấp đội ngũ luật sư.
3.4. Bảo đảm cơ chế quản lý nhà nước gắn với nâng cao hiệu quả tự quản nghề nghiệp
Một trong những vấn đề quan trọng của pháp luật về luật sư là xác định hợp lý mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, nghề luật sư không thể phát triển bền vững nếu chỉ dựa vào quản lý hành chính; ngược lại, tự quản nghề nghiệp cũng không thể thay thế hoàn toàn trách nhiệm quản lý nhà nước. Theo đó, Nhà nước cần tập trung vào xây dựng chính sách, pháp luật, định hướng phát triển, kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm nghiêm trọng; đồng thời, phát huy vai trò tự quản của Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn luật sư theo quy định của pháp luật[29].
Đặc biệt, tự quản nghề nghiệp phải gắn với trách nhiệm giải trình. Vì thế, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cần có năng lực giám sát chất lượng hành nghề, bảo đảm tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, tiếp nhận, giải quyết khiếu nại và xử lý vi phạm trong phạm vi thẩm quyền, đồng thời, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên. Cơ chế này vừa nâng cao tính độc lập nghề nghiệp, vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đội ngũ luật sư. Bên cạnh đó, pháp luật cần quy định rõ cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin và phân định trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, bảo đảm quản lý thống nhất, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước đối với luật sư và hoạt động hành nghề luật sư.
3.5. Tạo điều kiện phát triển nghề luật sư theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và hội nhập
Việc hoàn thiện pháp luật về luật sư cần tạo môi trường pháp lý thuận lợi để các tổ chức hành nghề luật sư phát triển về quy mô, năng lực chuyên môn và phương thức quản trị hiện đại. Các quy định về điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức hoạt động và cung cấp dịch vụ pháp lý cần được rà soát theo hướng đơn giản, minh bạch, ổn định, dễ thực hiện và chi phí tuân thủ thấp.
Bên cạnh đó, pháp luật cần tạo điều kiện, khuyến khích hình thành các tổ chức hành nghề có năng lực chuyên môn sâu, khả năng cung cấp dịch vụ pháp lý trong các lĩnh vực phức tạp, xuyên biên giới và tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế pháp lý thúc đẩy hợp tác giữa các tổ chức hành nghề luật sư của Việt Nam với các tổ chức hành nghề luật sư trong khu vực và quốc tế, trên cơ sở tuân thủ pháp luật Việt Nam và bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia.
3.6. Tạo hành lang pháp lý phù hợp cho ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số trong hoạt động luật sư
Ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số đang tác động trực tiếp đến phương thức tổ chức, hành nghề luật sư, cung cấp dịch vụ pháp lý và quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư. Vì vậy, pháp luật về luật sư cần được hoàn thiện để điều chỉnh các vấn đề phát sinh từ việc sử dụng hồ sơ điện tử, giao dịch điện tử, cung cấp dịch vụ pháp lý trực tuyến, lưu trữ dữ liệu, bảo mật thông tin khách hàng và xác định trách nhiệm của luật sư khi sử dụng các nền tảng công nghệ. Đặc biệt, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu, phân tích và dự thảo tài liệu pháp lý cần được tiếp cận theo nguyên tắc công nghệ hỗ trợ hoạt động hành nghề nhưng không thay thế trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư. Luật sư phải có trách nhiệm kiểm chứng thông tin, bảo đảm tính chính xác của sản phẩm dịch vụ pháp lý và bảo vệ dữ liệu, bí mật thông tin của khách hàng.
Đồng thời, pháp luật về luật sư cần tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo trong cung cấp dịch vụ pháp lý, đồng thời xác lập các yêu cầu và giới hạn cần thiết để bảo vệ khách hàng, bảo đảm an toàn thông tin và duy trì chuẩn mực nghề nghiệp. Do tính chất mới và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, việc hoàn thiện các quy định trong lĩnh vực này cần gắn với thực tiễn ứng dụng, bảo đảm khả năng cập nhật và thích ứng với những thay đổi về công nghệ.
3.7. Tạo điều kiện nâng cao năng lực, khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế của đội ngũ luật sư
Hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận thị trường Việt Nam của luật sư nước ngoài mà còn phải nâng cao năng lực để luật sư Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường pháp lý quốc tế. Vì vậy, pháp luật về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về hoạt động của tổ chức luật sư nước ngoài và việc hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam. Đặc biệt, cần tạo cơ sở pháp lý thuận lợi để tổ chức hành nghề luật sư và luật sư Việt Nam cung cấp dịch vụ pháp lý xuyên biên giới phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Bên cạnh đó, việc hoàn thiện pháp luật về luật sư cần hướng tới phát triển đội ngũ luật sư có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu về pháp luật quốc tế, thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và giải quyết tranh chấp quốc tế. Đồng thời, chú trọng nâng cao năng lực ngoại ngữ, kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế và khả năng vận dụng các chuẩn mực nghề nghiệp quốc tế phù hợp.
Nghị quyết số 66-NQ/TW đã đặt yêu cầu nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về pháp luật, xây dựng năng lực xử lý các vấn đề pháp lý quốc tế và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam. Đây chính là cơ sở chính trị quan trọng để định hướng hoàn thiện pháp luật về luật sư gắn với nâng cao năng lực hội nhập quốc tế cho đội ngũ luật sư Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
3.8. Bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận công lý và dịch vụ pháp lý của người dân
Phát triển nghề luật sư phải hướng tới con người và bảo đảm công lý. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về luật sư không nên chỉ xem xét dưới góc độ phát triển thị trường dịch vụ pháp lý mà còn phải gắn với yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận công lý và dịch vụ pháp lý có chất lượng cao của người dân. Pháp luật về luật sư cần tạo điều kiện để người dân, nhất là người có hoàn cảnh khó khăn, người thuộc nhóm yếu thế và người sinh sống tại địa bàn còn hạn chế về khả năng tiếp cận dịch vụ pháp lý có thể tiếp cận luật sư và các dịch vụ pháp lý phù hợp. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế khuyến khích luật sư tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật và thực hiện các hoạt động hỗ trợ cộng đồng.
Bên cạnh đó, pháp luật về luật sư cần tạo cơ sở pháp lý cho việc đa dạng hóa phương thức cung cấp dịch vụ pháp lý, gồm tư vấn pháp luật trực tiếp và trực tuyến, góp phần giảm chi phí tiếp cận và mở rộng phạm vi phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đây cũng là hướng cụ thể hóa yêu cầu của Nghị quyết số 66-NQ/TW về phát triển hệ thống dịch vụ pháp lý, hỗ trợ pháp lý và trợ giúp pháp lý, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp dễ tiếp cận pháp luật.
Như vậy, các định hướng hoàn thiện pháp luật nêu trên không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nâng cao chất lượng luật sư phải gắn với quyền hành nghề và trách nhiệm nghề nghiệp; tự quản phải gắn với quản lý nhà nước; phát triển thị trường phải gắn với chức năng xã hội; chuyển đổi số phải gắn với bảo mật thông tin và trách nhiệm nghề nghiệp; hội nhập quốc tế phải gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc triển khai đồng bộ các định hướng này sẽ góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về luật sư, phù hợp với xu thế phát triển nghề luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
4. Một số điểm mới cơ bản của dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi)[30]
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) trình Quốc hội Khóa XVI xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai gồm 06 chương, 36 điều. So với Luật Luật sư năm 2006, gồm 09 chương, 94 điều, dự thảo Luật giảm 03 chương, 58 điều, với một số điểm mới cơ bản như sau:
Thứ nhất, dự thảo Luật giữ nguyên 01 điều của Luật Luật sư năm 2006 (nguyên tắc hành nghề luật sư); sửa đổi, bổ sung 91 điều (sửa đổi, bổ sung và tinh gọn còn 35 điều); lược bỏ 02 điều (Điều 59 và Điều 67).
Thứ hai, dự thảo Luật bổ sung tiêu chuẩn luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, kiên quyết bảo vệ công lý, liêm chính, trung thực và có nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về nhận thức chính trị hằng năm cùng với việc bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp (khoản 2 Điều 12). Bên cạnh quy định tiêu chuẩn chung của luật sư là có bằng cử nhân luật, dự thảo Luật còn quy định trường hợp ngoại lệ để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật nhưng chưa có bằng cử nhân luật tham gia hành nghề luật sư, với các điều kiện cụ thể, chặt chẽ hơn.
Thứ ba, dự thảo Luật đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Theo đó, quy trình, thủ tục trở thành luật sư được rút gọn từ 04 bước xuống còn 02 bước; đồng thời, thiết lập cơ chế tổ chức kỳ thi quốc gia về luật sư gắn với việc đánh giá điều kiện, tiêu chuẩn cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Những thay đổi này hướng tới khắc phục hạn chế, bất cập trong việc đánh giá năng lực và cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư theo các khâu riêng biệt, qua đó, nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư, giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân, xã hội.
Thứ tư, dự thảo Luật thay thế chế định người tập sự hành nghề luật sư bằng chế định luật sư tập sự. Luật sư tập sự được thực hiện các hoạt động nghề nghiệp theo sự phân công, giám sát của luật sư hướng dẫn và được khách hàng đồng ý nhưng không được ký văn bản tư vấn pháp luật; không được ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng và không được nhận thù lao từ khách hàng; đồng thời, luật sư hướng dẫn phải chịu trách nhiệm đối với hoạt động của luật sư tập sự theo quy định của dự thảo Luật. Quy định này hướng tới nâng cao chất lượng tập sự và tăng cường trách nhiệm trong quá trình đào tạo, hướng dẫn nghề nghiệp.
Thứ năm, dự thảo Luật bổ sung các quy định nhằm nâng cao chất lượng hành nghề luật sư và tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành nghề. Theo đó, dự thảo Luật quy định về đối tượng là giảng viên trong lĩnh vực pháp luật tại cơ sở đào tạo đại học chuyên ngành về pháp luật hoặc cơ sở đào tạo các chức danh tư pháp có thể trở thành luật sư (Điều 10 và Điều 11); xác định các hành vi bị nghiêm cấm đối với luật sư; nghiêm cấm cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cản trở hoạt động hành nghề của luật sư; đồng thời, quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện hành nghề luật sư nhưng quảng bá, giới thiệu, sử dụng tên gọi gây nhầm lẫn, mạo danh luật sư, tổ chức hành nghề luật sư để cung cấp dịch vụ pháp lý có thu thù lao (Điều 6)…
Thứ sáu, dự thảo Luật bổ sung các quy định nhằm phát triển thị trường dịch vụ pháp lý theo hướng minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện cho tổ chức hành nghề luật sư phát triển về quy mô và tính chuyên nghiệp. Các nội dung đáng chú ý gồm cho phép tổ chức hành nghề luật sư có thành viên góp vốn, hợp tác với các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài và ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý điện tử... Đồng thời, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung các quy định về tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài và việc hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hành nghề phù hợp với pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế.
Thứ bảy, dự thảo Luật có nhiều quy định đổi mới quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư theo hướng hiệu lực, hiệu quả, thực hiện phân cấp, phân quyền, nâng cao năng lực, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và vai trò phối hợp, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tăng cường cơ chế phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với nhau và với tổ chức xã hội - nghề nghiệp để nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý luật sư và hành nghề luật sư. Đáng chú ý, dự thảo Luật quy định về Hội đồng tuyển chọn luật sư liên ngành, độc lập do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định thành lập, với thành phần gồm lãnh đạo Bộ Tư pháp làm Chủ tịch, Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam làm Phó Chủ tịch thường trực, cùng đại diện Tòa án nhân dân tối cao, cơ sở đào tạo, chuyên gia và luật sư làm thành viên. Hội đồng có nhiệm vụ tổ chức đánh giá, tuyển chọn đầu vào của đội ngũ luật sư và tổ chức kỳ thi quốc gia về luật sư theo quy định của dự thảo Luật (Điều 10)…
Thứ tám, dự thảo Luật bổ sung các quy định nhằm đẩy mạnh ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản lý, tự quản, tổ chức và hoạt động luật sư, như xây dựng cơ sở dữ liệu luật sư (Điều 2)…, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, tăng cường khả năng khai thác thông tin và hỗ trợ quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực luật sư.
Như vậy, về cơ bản, dự thảo Luật đã thể chế hóa tương đối đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng và định hướng của Nhà nước về hoàn thiện pháp luật về luật sư, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển đất nước và đổi mới tư duy xây dựng thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới. Đặc biệt, dự thảo Luật đã khắc phục những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật về luật sư hiện hành, nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư, tăng cường trách nhiệm nghề nghiệp, phát triển thị trường dịch vụ pháp lý và thúc đẩy ứng dụng công nghệ, hội nhập quốc tế. Qua đó, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, tạo cơ sở xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, đáp ứng yêu cầu phát triển nghề luật sư trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, để bảo đảm các mục tiêu nêu trên được hiện thực hóa, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan và tính khả thi trong tổ chức thực hiện. Đồng thời, cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc thi hành Luật, nhất là xây dựng, ban hành kịp thời các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; bảo đảm nguồn lực và đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các quy định mới đến đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Kết luận
Mặc dù Luật Luật sư năm 2006 đã tạo lập cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động luật sư và sự phát triển của nghề luật sư, tuy nhiên, yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về luật sư. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về luật sư là yêu cầu khách quan, xuất phát từ các cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn thi hành Luật Luật sư năm 2006. Việc hoàn thiện pháp luật về luật sư cần được tiến hành đồng bộ, tập trung vào các quy định về vị trí, vai trò, chức năng xã hội, quyền và trách nhiệm của luật sư; chất lượng đội ngũ luật sư; tổ chức hành nghề; quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp; phát triển thị trường dịch vụ pháp lý; chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, cần bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu quản lý với quyền tự do hành nghề hợp pháp, giữa phát triển thị trường với trách nhiệm xã hội, giữa quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư với quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Vì vậy, việc xây dựng Luật Luật sư (sửa đổi) theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại, khả thi và thích ứng với sự phát triển của xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển của nghề luật sư. Qua đó, góp phần củng cố cơ chế bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao chất lượng môi trường pháp lý cho người dân và doanh nghiệp, đóng góp thiết thực vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phát triển đất nước nhanh, bền vững trong bối cảnh mới.
TS. Trương Thế Côn
Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp
Ảnh: Internet
[1]. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW).
[2]. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW).
[3]. Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập 1, tập 2), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật; Nghị quyết số 27-NQ/TW.
[4]. Nghị quyết số 66-NQ/TW.
[5]. Nghị quyết số 27-NQ/TW.
[6]. Võ Khánh Vinh (2026), Tư duy tiếp cận sửa đổi Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 460, tháng 9/2026.
[7]. Nghị quyết số 27-NQ/TW.
[8]. Nguyễn Hải Ninh (2026), Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới, số Xuân Bính Ngọ 2026 “Tư pháp vì Nhân dân - Xuân đoàn kết”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
[9]. Bộ Chính trị (2026), Kết luận số 230-KL/TW ngày 05/01/2026 về Đề án sắp xếp, tinh gọn các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ và Đề án đánh giá mô hình hoạt động của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (Kết luận số 230-KL/TW).
[10]. Ban Bí thư (2023), Quyết định số 118-QĐ/TW ngày 22/8/2023 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương.
[11]. Bộ Chính trị (2026), Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 20/7/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò của các hội quần chúng trong giai đoạn phát triển mới.
[12]. Bộ Chính trị (2025), Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật (Kết luận số 119-KL/TW).
[13]. Kết luận số 09-KL/TW.
[14]. Kết luận số 09- KL/TW.
[15]. Như: Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết 52-NQ/TW về ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW)…
[16]. Chính phủ (2025), Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 và năm 2026; Chính phủ (2026), Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP ngày 07/04/2026 về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh; Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030.
[17]. Tô Lâm, Cơ sở định vị mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới và những định hướng chiến lược, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=4376, truy cập ngày 10/11/2025.
[18]. Nghị quyết số 66-NQ/TW.
[19]. Như: Ban Bí thư (2026), Chỉ thị số 08-CT/TW ngày 20/7/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hợp tác với nước ngoài về pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp; Nghị quyết số 27-NQ/TW.
[20]. Nghị quyết số 68-NQ/TW.
[21]. Nghị quyết số 66-NQ/TW.
[22]. Ban Bí thư (2020), Kết luận số 69-KL/TW ngày 24/02/2020 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư.
[23]. Nghị quyết số 66-NQ/TW.
[24]. Nghị quyết số 27- NQ/TW.
[25]. Chính phủ (2026), Tờ trình số 782/TTr-CP ngày 01/10/2026 trình Dự án Luật Luật sư (sửa đổi), tính đến ngày 31/5/2026, cả nước có hơn 22.600 luật sư hoạt động trong hơn 6.500 tổ chức hành nghề luật sư, tăng hơn 18.000 luật sư so với năm 2006.
[26]. Chính phủ (2026), Tờ trình số 782/TTr-CP ngày 01/10/2026 về dự án Luật Luật sư (sửa đổi); Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 422/BC-BTP về tổng kết thi hành Luật Luật sư.
[27]. Võ Khánh Vinh (2026), Tư duy tiếp cận sửa đổi Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 460, tháng 9/2026.
[28]. Nguyễn Văn Tuân (2021), Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong Nhà nước pháp quyền, Nxb. Tư pháp.
[29]. Đặng Kim Hoa (2024), Định hướng sửa đổi Luật Luật sư, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề “Hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam”.
[30]. Dự thảo Luật Luật sư sửa đổi kèm theo Tờ trình số 782/TTr-CP ngày 01/10/2026 của Chính phủ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc hội (2006), Luật Luật sư số 65/2006/QH11 ngày 29/6/2006.
2. Quốc hội (2012), Luật số 20/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư.
3. Bộ Tư pháp (2026), Văn bản hợp nhất số 1343/VBHN-BTP ngày 09/3/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư.
4. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
5. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
6. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 về Chương trình lập pháp năm 2026.
7. Chính phủ (2026), Tờ trình số 782/TTr-CP ngày 01/10/2026 về dự án Luật Luật sư (sửa đổi).
8. Bộ Tư pháp (2026), Hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi).
9. Bộ Tư pháp (2026), các tài liệu, thông tin về quá trình xây dựng, hoàn thiện dự án Luật Luật sư (sửa đổi).
10. Võ Khánh Vinh (2026), Tư duy tiếp cận sửa đổi Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 460, tháng 9/2026.
11. Nguyễn Hải Ninh (2026), Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới, số Xuân Bính Ngọ 2026 “Tư pháp vì Nhân dân - Xuân đoàn kết”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.
12. Nguyễn Văn Tuân (2021), Thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong Nhà nước pháp quyền, Nxb. Tư pháp.
13. Đặng Kim Hoa (2024), Định hướng sửa đổi Luật Luật sư, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề “Hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam”.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, ấn phẩm “Hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, xuất bản năm 2026)