Thứ hai 12/10/2026 13:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.

Đặt vấn đề

Ngày 19/02/2025, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) số 64/2025/QH15. Ngày 01/4/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành VBQPPL (Nghị định số 78/2025/NĐ-CP). Trên cơ sở tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới công tác xây dựng pháp luật, và xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, ngày 25/6/2025, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL (Luật số 87/2025/QH15). Để triển khai thi hành Luật, Chính phủ ban hành Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành VBQPPL và Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý VBQPPL.

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 (sau đây gọi tắt là Luật năm 2025) và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật. Luật không chỉ bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi mà còn phải tạo thuận lợi cho phát triển, khơi thông nguồn lực, tăng cường kiểm soát quyền lực và phòng chống tham nhũng. Việc nghiên cứu các điểm mới của Luật năm 2025 càng trở nên cấp thiết khi cả nước triển khai sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương theo Kết luận số 126-KL/TW ngày 14/02/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025. Đây là chủ trương lớn, đòi hỏi hệ thống VBQPPL phải đồng bộ từ trung ương đến địa phương. Các cơ quan liên quan cần nắm vững, áp dụng thống nhất Luật năm 2025 để hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý và giải quyết những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn.

1. Những điểm mới quan trọng của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP có nhiều điểm mới quan trọng ở tất cả các khâu, đoạn của quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng VBQPPL. Trong đó, các điểm mới cơ bản, quan trọng nhất tập trung vào khái niệm và hệ thống VBQPPL; nguyên tắc xây dựng, ban hành VBQPPL; quy trình xây dựng pháp luật; sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành VBQPPL, đính chính VBQPPL; hướng dẫn áp dụng VBQPPL dưới luật; bảo đảm nguồn lực trong công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật; hiệu lực của VBQPPL; trách nhiệm và sự tham gia của các cơ quan trong quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL.

1.1. Khái niệm và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Luật năm 2025 bổ sung, điều chỉnh về khái niệm và hệ thống VBQPPL. Trên cơ sở kế thừa Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, Luật năm 2025 định nghĩa: “văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật được ban hành đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật này”. Đồng thời, Luật năm 2025 cũng giải thích một số thuật ngữ cơ bản như: “Quy phạm pháp luật”, “Chính sách”, “Tham vấn chính sách”, “Đánh giá tác động của chính sách”, “Rà soát văn bản quy phạm pháp luật”, “Kiểm tra VBQPPL”, bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng trong quá trình áp dụng.

Về hệ thống VBQPPL và thẩm quyền ban hành, Luật năm 2025 có nhiều điểm mới. Đáng chú ý là việc bổ sung hình thức nghị quyết của Chính phủ là VBQPPL để giải quyết những vấn đề cấp bách phát sinh từ thực tiễn; chuyển hình thức quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước sang hình thức thông tư để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống VBQPPL; bỏ thẩm quyền ban hành VBQPPL của chính quyền cấp huyện, đồng thời, bổ sung thẩm quyền của chính quyền cấp xã nhằm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Bên cạnh đó, Luật bổ sung thẩm quyền ban hành VBQPPL của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho công tác chỉ đạo, điều hành ở địa phương.

1.2. Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Luật năm 2025 bổ sung và hoàn thiện một số nguyên tắc quan trọng trong xây dựng, ban hành VBQPPL. Bên cạnh việc kế thừa các nguyên tắc cơ bản từ Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, Luật năm 2025 nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia, lợi ích quốc gia, dân tộc; kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; phòng ngừa lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ. Đồng thời, việc xây dựng, ban hành VBQPPL phải tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo đảm thực hiện chủ trương phân quyền, phân cấp; kịp thời giải quyết các vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn; khuyến khích sáng tạo, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Bên cạnh đó, Luật năm 2025 còn tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực thông qua quy định về việc xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền của Đảng đối với xây dựng, ban hành VBQPPL trong trường hợp đặc biệt (Điều 52), cũng như trách nhiệm chung về xin ý kiến và báo cáo đối với cơ quan có thẩm quyền của Đảng (Điều 67). Người đứng đầu cơ quan, tổ chức được quy định rõ trách nhiệm trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện, chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tình trạng chậm tiến độ hoặc ban hành văn bản trái pháp luật. Đây là điểm nổi bật, thể hiện tư duy đổi mới, gắn xây dựng pháp luật với yêu cầu kiểm soát quyền lực, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật; nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác xây dựng, ban hành VBQPPL.

1.3. Đổi mới quy trình xây dựng pháp luật

Một điểm nhấn quan trọng của Luật năm 2025 là đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật, theo đó, quy trình xây dựng VBQPPL có nhiều điểm mới quan trọng nhằm tăng tính minh bạch, chủ động, linh hoạt và rút ngắn thời gian ban hành nhưng vẫn bảo đảm chất lượng văn bản, thể hiện ở các quy định như: phân định rõ quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo; bổ sung trường hợp trình Quốc hội các dự án, dự thảo luật, nghị quyết ngay trước hoặc khi kỳ họp của Quốc hội đang diễn ra trong trường hợp cấp bách, nhằm kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, xử lý ngay những vấn đề phát sinh từ thực tiễn quản lý, điều hành; mở rộng các trường hợp được áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn và thời điểm áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn; bổ sung việc xây dựng, ban hành VBQPPL trong trường hợp đặc biệt[1] bổ sung thành phần hồ sơ đề xuất chính sách, hồ sơ dự án, dự thảo VBQPPL bảo đảm đầy đủ, chất lượng; bổ sung quy định về trách nhiệm của các cơ quan trong quy trình xây dựng VBQPPL, nhất là trong hoạt động góp ý, thẩm định VBQPPL; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL; quy định trách nhiệm đến cùng của cơ quan chủ trì soạn thảo trong quy trình xây dựng, trình các dự án luật, nghị quyết, như: chịu trách nhiệm giải trình, tiếp thu đầy đủ các ý kiến thẩm định, thẩm tra và ý kiến của đối tượng chịu tác động; hoàn thiện hồ sơ, tài liệu kèm theo dự án, dự thảo trước khi trình cấp có thẩm quyền; trực tiếp tham gia, phối hợp chặt chẽ trong quá trình thảo luận, chỉnh lý tại Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đồng thời, có trách nhiệm báo cáo, làm rõ những vấn đề còn ý kiến khác nhau, qua đó nâng cao chất lượng dự án luật, nghị quyết, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi của văn bản sau khi được ban hành.

Luật năm 2025 đổi mới quan trọng các quy định liên quan đến phản biện xã hội, tham vấn, đăng tải, góp ý và truyền thông chính sách, cũng như dự thảo VBQPPL. Luật năm 2025 mở rộng đối tượng và đa dạng hóa hình thức lấy ý kiến chính sách, dự án, dự thảo văn bản, đồng thời rút ngắn thời gian đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì nhằm tăng tính linh hoạt, nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch và chất lượng xây dựng VBQPPL. Nghị định số 78/2025/NĐ-CP cụ thể hóa các quy định này bằng yêu cầu cơ quan soạn thảo phải xác định rõ nội dung lấy ý kiến phù hợp với từng nhóm đối tượng; lấy ý kiến đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách, dự thảo văn bản hoặc thông qua tổ chức đại diện hợp pháp của họ; đồng thời, quy định rõ thời điểm, thời hạn và trách nhiệm công khai bản tổng hợp tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý. Đặc biệt, Luật năm 2025 bổ sung quy định về phản biện xã hội do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện, trong đó, cơ quan soạn thảo có trách nhiệm tham gia, tiếp thu và giải trình ý kiến phản biện. Bên cạnh đó, Luật năm 2025 bổ sung quy định mới về tham vấn chính sách đối với Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội nhằm nâng cao chất lượng chính sách. Đặc biệt, Luật và Nghị định nhấn mạnh vai trò truyền thông chính sách và dự thảo VBQPPL, yêu cầu cơ quan đề xuất và cơ quan chủ trì soạn thảo phải chủ động truyền thông trong suốt quá trình xây dựng văn bản, đồng thời, khuyến khích áp dụng đa dạng hình thức truyền thông để tăng tính hiệu quả và lan tỏa.

1.4. Về sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật, đính chính văn bản quy phạm pháp luật

Thực tiễn quản lý nhà nước trong thời gian qua cho thấy, nhu cầu hoàn thiện quy định của pháp luật liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, đình chỉ và đính chính VBQPPL, xuất phát từ nhu cầu hoàn thiện, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống VBQPPL, đồng thời, những yêu cầu mới từ quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, sắp xếp địa giới hành chính trên phạm vi toàn quốc, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp và cắt giảm thủ tục hành chính cũng đặt ra yêu cầu cần quy định rõ ràng, linh hoạt về sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành VBQPPL, đính chính VBQPPL.

Điều 8 Luật năm 2025 và Điều 4 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định về sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành VBQPPL. Điều 9 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định cụ thể việc đính chính VBQPPL với những điểm mới quan trọng như: quy định rõ các trường hợp áp dụng hình thức sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành VBQPPL; quy định rõ các trường hợp ban hành văn bản hành chính hoặc ban hành VBQPPL để bãi bỏ VBQPPL; quy định cụ thể về việc đính chính VBQPPL, quy định rõ phạm vi và nguyên tắc, thẩm quyền và hình thức đính chính VBQPPL, việc đính chính thực hiện bằng hình thức ban hành quyết định hành chính hoặc nghị quyết, thay vì ban hành VBQPPL như quy định trước đây.

Đặc biệt, khoản 6 Điều 4 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định việc ban hành văn bản hành chính để quyết định việc áp dụng hoặc bãi bỏ VBQPPL theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 54 Luật năm 2025 như sau: (i) Hội đồng nhân dân các cấp ban hành nghị quyết hành chính để quyết định việc áp dụng hoặc bãi bỏ VBQPPL của Hội đồng nhân dân của đơn vị hành chính được nhập; (ii) Ủy ban nhân dân các cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định hành chính để quyết định việc áp dụng hoặc bãi bỏ VBQPPL của Ủy ban nhân dân các cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của đơn vị hành chính được nhập. Quy định này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cả nước tổ chức mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.

1.5. Bổ sung quy định hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật dưới luật

Luật năm 2025 bổ sung cơ chế hướng dẫn áp dụng VBQPPL dưới luật (Điều 61) nhằm bảo đảm sự thống nhất trong thi hành, thay vì phải thường xuyên sửa đổi, bổ sung pháp luật. Theo đó, hướng dẫn áp dụng được thực hiện đối với các VBQPPL (trừ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) do chính cơ quan, người ban hành VBQPPL thực hiện bằng văn bản hành chính, không đặt ra quy định mới mà chỉ làm rõ nội dung văn bản, bảo đảm các cơ quan, tổ chức hiểu và áp dụng thống nhất pháp luật. Quy định này giúp xử lý kịp thời vướng mắc phát sinh, giảm chi phí và nhân lực cho việc sửa đổi, bổ sung, đồng thời nâng cao tính khả thi của VBQPPL.

1.6. Về bảo đảm nguồn lực trong công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật

Luật năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định rõ hơn về bảo đảm nguồn lực cho xây dựng và thi hành pháp luật. Về tài chính, Luật năm 2025 coi đầu tư cho pháp luật là đầu tư phát triển, quy định cơ chế kinh phí đặc thù và giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết, thúc đẩy ứng dụng chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo. Về nhân lực, Luật và Nghị định đưa ra chế độ ưu đãi cho cán bộ, công chức và chuyên gia tham gia xây dựng pháp luật, gồm: bố trí công việc phù hợp, cơ hội đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm, phụ cấp đặc thù; chuyên gia được hưởng thù lao, hỗ trợ chi phí nghiên cứu, khảo sát, hội thảo và được khen thưởng theo mức độ đóng góp.

1.7. Về hiệu lực của văn bản

Luật năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP có quy định mới quan trọng về hiệu lực văn bản, đặc biệt phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính. Về hiệu lực không gian (khoản 2 Điều 54), Luật quy định rõ việc áp dụng VBQPPL trong trường hợp chia, nhập, điều chỉnh địa giới hành chính, bảo đảm văn bản hiện hành tiếp tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản thay thế, tránh tạo khoảng trống pháp luật. Luật năm 2025 cũng bổ sung quy định về xử lý văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện tại điều khoản chuyển tiếp và xác định rõ các trường hợp văn bản hết hiệu lực.

Đặc biệt, Luật năm 2025 bổ sung quy định trường hợp VBQPPL hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần do có VBQPPL khác thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung thì văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành văn bản đó hết hiệu lực, trừ trường hợp được công bố tiếp tục có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần. Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP hướng dẫn rõ hơn việc công bố văn bản tiếp tục có hiệu lực.

2. Những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Bối cảnh thế giới đang có những thay đổi mang tính thời đại, đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới; cùng với việc thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, phấn đấu tăng trưởng kinh tế “hai con số”, do đó, công tác xây dựng và thi hành pháp luật phải tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Trong đó, việc thi hành hiệu quả Luật năm 2025 và các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành là yêu cầu quan trọng, mang tính nền tảng, cơ bản để hoàn thiện hệ thống pháp luật, giúp khơi thông nguồn lực bị cản trở do thể chế, tháo gỡ nút thắt trong quản lý, nâng cao chất lượng chính sách công, tạo môi trường pháp lý ổn định, minh bạch cho đầu tư, đổi mới sáng tạo và phát triển xã hội.

Để triển khai thi hành Luật năm 2025, ngày 21/7/2025, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1574/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Ban hành VBQPPL trong đó xác định cụ thể công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành Luật, bảo đảm kịp thời, thống nhất và hiệu quả, tránh lãng phí; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Luật; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của bộ, ngành và địa phương trong việc triển khai thi hành Luật.

Căn cứ nội dung quy định của Luật năm 2025 và các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, Quyết định số 1574/QĐ-TTg, các chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, cần thực hiện những công việc cụ thể sau:

Thứ nhất, khẩn trương xây dựng, ban hành VBQPPL hướng dẫn thi hành Luật. Để Luật năm 2025 nhanh chóng đi vào cuộc sống, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản cần tập trung nguồn lực, ban hành kịp thời các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn công tác xây dựng, ban hành VBQPPL như: Nghị định quy định chi tiết Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn trách nhiệm, quy trình xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền của Đảng trong quá trình xây dựng và ban hành VBQPPL; Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về việc lập dự toán, quyết toán kinh phí cho công tác xây dựng pháp luật; Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng, ban hành VBQPPL để tạo cơ sở áp dụng thống nhất cho bộ, ngành và địa phương. Việc hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn là điều kiện tiên quyết để bảo đảm hiệu quả tổ chức thi hành Luật.

Thứ hai, bảo đảm đầy đủ, thực chất nguồn lực về tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất và công nghệ cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Luật năm 2025 cùng với Nghị định số 78/2025/NĐ-CP đã thiết lập cơ chế tương đối đầy đủ về bảo đảm nguồn lực cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, từ cơ chế tài chính, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, đến chế độ thu hút chuyên gia, nhà khoa học, cùng quy định về đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo. Để thực hiện cơ chế thực chất, đồng bộ, thống nhất trên phạm vi cả nước, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách, ngân sách; người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương phải thấm nhuần tinh thần “đầu tư cho xây dựng pháp luật là đầu tư cho phát triển”, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên. Khi cơ chế được thực hiện nghiêm túc, thống nhất và hiệu quả thì công tác xây dựng và thi hành pháp luật mới thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Thứ ba, nâng cao kỷ luật, kỷ cương, gắn trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức thi hành Luật. Một trong những yếu tố quyết định để Luật năm 2025 đi vào cuộc sống là việc chấp hành nghiêm túc, đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành VBQPPL, đặc biệt là quy định về xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền của Đảng trong quá trình soạn thảo. Đây không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà còn thể hiện sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc công tác xây dựng VBQPPL, coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng yếu gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội. Khi nhận thức đúng tầm quan trọng, coi việc ban hành VBQPPL là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo, quản lý thì việc triển khai thi hành Luật mới bảo đảm nghiêm túc, hiệu quả, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động xây dựng pháp luật.

Thứ tư, thực hiện thực chất, đẩy mạnh công khai, minh bạch, truyền thông chính sách, pháp luật và huy động sự tham gia của xã hội, doanh nghiệp, người dân trong quá trình xây dựng, thực thi VBQPPL. Luật năm 2025 bổ sung nhiều quy định mới về tham vấn chính sách, phản biện xã hội và truyền thông chính sách, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhằm kiểm soát từ sớm, từ xa để nâng cao chất lượng VBQPPL. Việc triển khai cần gắn chặt với quá trình xây dựng chính sách, soạn thảo và ban hành văn bản. Cơ quan chủ trì có trách nhiệm công khai dự thảo, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến nghiêm túc, đồng thời chủ động truyền thông chính sách qua báo chí, truyền hình, mạng xã hội và truyền thông cơ sở. Đây không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là giải pháp thiết thực để tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và huy động sự đồng thuận từ người dân, doanh nghiệp trong thực thi pháp luật.

Thứ năm, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế, xây dựng pháp luật có bản lĩnh chính trị, giỏi chuyên môn, đáp ứng yêu cầu mới. Một điểm nhấn quan trọng của Luật năm 2025 là đề cao vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao trong công tác xây dựng pháp luật. Luật năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP đã quy định chế độ ưu đãi, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, chuyên gia làm công tác này. Để triển khai hiệu quả, cần có kế hoạch dài hạn đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sử dụng nhân sự; lựa chọn, quy hoạch cán bộ pháp chế dựa trên tiêu chuẩn rõ ràng về phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm. Đồng thời, tạo điều kiện để đội ngũ này được đào tạo chuyên sâu trong và ngoài nước, tiếp cận phương pháp, kinh nghiệm quốc tế, hướng tới xây dựng đội ngũ cán bộ pháp chế chuyên nghiệp, tập trung. Đây là yếu tố then chốt quyết định chất lượng xây dựng pháp luật, góp phần hoàn thiện thể chế, phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Thứ sáu, thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá, theo dõi tiến độ thi hành Luật; xử lý kịp thời vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn. Luật năm 2025 nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong tổ chức thi hành pháp luật. Quyết định số 1574/QĐ-TTg phân công Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, tổng hợp tình hình triển khai thi hành Luật, định kỳ báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và trách nhiệm liên quan đến công tác xây dựng và thi hành VBQPPL cần thiết lập cơ chế giám sát nội bộ, giám sát chéo hoặc giám sát độc lập để bảo đảm việc tổ chức thi hành Luật đạt hiệu quả thực chất, tránh hình thức. Việc giám sát không chỉ tập trung ở cấp trung ương mà còn thực hiện đồng bộ ở từng cơ quan, địa phương, tạo thành mạng lưới giám sát đa tầng, kịp thời phát hiện, xử lý các vấn đề, bất cập, sai phạm, vướng mắc trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Đồng thời, phải có kênh tiếp nhận, xử lý nhanh chóng những phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp; tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành để phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp điều chỉnh, bảo đảm mọi khó khăn trong quá trình thi hành Luật đều được tháo gỡ kịp thời, không làm gián đoạn hoạt động quản lý và đời sống xã hội.

Thứ bảy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong công tác xây dựng, thẩm định, góp ý, truyền thông, quản lý, tra cứu và theo dõi tình trạng VBQPPL. Trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, rộng khắp trên toàn thế giới, yêu cầu về chuyển đổi số quốc gia, ứng dụng công nghệ hiện đại vào công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là xu hướng tất yếu, đồng thời là yêu cầu cấp bách nhằm đẩy nhanh tiến độ và bảo đảm chất lượng của VBQPPL. Để đáp ứng yêu cầu đó, cần sớm hoàn thiện, nâng cấp cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, bảo đảm đồng bộ với hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương; đẩy mạnh số hóa, kết nối, chia sẻ dữ liệu VBQPPL phục vụ tra cứu, áp dụng pháp luật. Các công cụ phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo cần được triển khai để hỗ trợ quá trình soạn thảo, thẩm định, góp ý, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL; đồng thời phục vụ công tác truyền thông chính sách, lấy ý kiến người dân, doanh nghiệp nhanh chóng, thuận tiện. Việc ứng dụng công nghệ hiện đại không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, nhân lực mà còn nâng cao chất lượng và tính minh bạch, khả năng tiếp cận và sức sống của pháp luật trong thực tiễn.

Kết luận

Luật năm 2025 và các nghị định hướng dẫn thi hành đánh dấu bước tiến quan trọng trong đổi mới công tác xây dựng pháp luật, tạo nền tảng cho việc hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Đây là một trong những công cụ quan trọng nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành, đồng thời, thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới mạnh mẽ tư duy và quy trình lập pháp.

Việc triển khai hiệu quả các quy định của Luật sẽ góp phần nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật, tạo nền tảng khơi dậy mọi tiềm năng, nguồn lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước, giúp đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp

Ảnh: Internet

[1]. Gồm trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp hoặc xảy ra sự cố, thảm họa theo quy định của pháp luật về phòng thủ dân sự hoặc sự kiện bất khả kháng hoặc các vấn đề cấp bách, quan trọng, cần thiết của đất nước.

(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025” xuất bản năm 2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra

Tóm tắt: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là vấn đề quan trọng cần xác định nhằm xử lý các vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra. Trên cơ sở nghiên cứu quy định pháp luật thanh tra và pháp luật xử lý vi phạm hành chính, nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trình tự, thủ tục thanh tra hiện hành làm cho việc thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra không khả thi. Đồng thời, hoạt động thanh tra chuyên ngành ở bộ, cơ quan ngang bộ (nơi không có Thanh tra Bộ) được chuyển giao cho Thanh tra Chính phủ (trừ một số trường hợp luật định), ở sở chuyển giao cho Thanh tra tỉnh nhưng quyết định thanh tra của Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính làm ảnh hưởng đến hiệu quả của việc xử lý kịp thời các hành vi vi phạm hành chính được phát hiện qua thanh tra. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác thi hành án dân sự

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác thi hành án dân sự

Qua hơn 03 năm triển khai Chương trình số 87-CTr/BCSĐ ngày 28/6/2023 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp về hành động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thi hành án dân sự giai đoạn 2023 - 2026, Cục Quản lý Thi hành án dân sự và các cơ quan trong Hệ thống đã triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, gắn phòng ngừa với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Những kết quả đạt được góp phần nâng cao hiệu lực quản lý, chất lượng thi hành án và tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong toàn Hệ thống.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tái cấu trúc quy trình thủ tục thi hành án dân sự: Cắt giảm 96,6% chi phí tuân thủ, nâng cao trải nghiệm trên môi trường số

Tái cấu trúc quy trình thủ tục thi hành án dân sự: Cắt giảm 96,6% chi phí tuân thủ, nâng cao trải nghiệm trên môi trường số

Ngày 18/9/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 2088/QĐ-BTP phê duyệt Phương án tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Đột phá này tập trung vào thủ tục "Yêu cầu thi hành án dân sự", loại bỏ gánh nặng hồ sơ giấy, tự động hóa kết nối dữ liệu và cắt giảm tới 96,6% tổng chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Phản ánh mức độ can thiệp của Nhà nước vào quan hệ hôn nhân và gia đình, ly thân pháp lý cấu thành cơ chế mà theo đó, các bên vợ chồng được phép sống riêng nhưng vẫn duy trì giá trị pháp lý của hôn nhân, gắn với các quyền và nghĩa vụ được xác định rõ ràng. Tại Việt Nam, dù trở thành hiện tượng xã hội phổ biến, song, ly thân hiện chưa được pháp luật điều chỉnh, làm cho các quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng trong thời gian ly thân thiếu căn cứ pháp lý để xác định. Khoảng trống pháp lý này tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, cũng như của chủ thể thứ ba do thiếu biện pháp pháp lý bảo đảm tương xứng. Nghiên cứu phân tích, làm rõ khoảng trống pháp lý thông qua các số liệu thực tế, kinh nghiệm quốc tế và nền tảng lý luận về quyền con người, từ đó, đề xuất xây dựng chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: