Từ khóa: đơn giản hóa thủ tục hành chính; hoạt động luật sư; thị trường dịch vụ pháp lý; chuyển đổi số; cải cách pháp luật.
Nhận bài: 31/5/2026 Hoàn thành biên tập: 06/10/2026 Duyệt đăng: 12/10/2026
Simplifying administrative procedures in legal practice: Emerging legal issues
Abstract: Simplifying administrative procedures in the practice of law is essential for enhancing the effectiveness of state management, reducing compliance costs, and fostering the development of the legal services market. Based on an analysis of current legal regulations and a comparison with the draft Law on Lawyers (amended), this study identifies five areas requiring further improvement: the integration of procedures for entry into the legal profession, the composition of registration dossiers for legal practice, methods for public disclosure of information, obligations to update registration details, and the sustainability of reform measures. Consequently, the study proposes several solutions to improve these aspects, thereby contributing to the development of the legal services market in a new era.
Keywords: Simplification of administrative procedures; legal practice; legal services market; digital transformation; legal reform.
Article received: 31/5/2026 Editing completed: 06/10/2026 Approved for publication: 12/10/2026
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cải cách thể chế, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tư nhân, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) trong hoạt động luật sư có ý nghĩa quan trọng đối với nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển thị trường dịch vụ pháp lý. Với chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, luật sư góp phần bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp phòng ngừa và giải quyết rủi ro pháp lý. Tuy nhiên, các thủ tục gia nhập nghề, thành lập tổ chức hành nghề, đăng ký thay đổi và thực hiện nghĩa vụ hành chính nếu thiếu liên thông hoặc yêu cầu cung cấp thông tin trùng lặp có thể làm gia tăng chi phí tuân thủ, ảnh hưởng đến khả năng gia nhập và hoạt động trên thị trường. Các nghiên cứu về thị trường dịch vụ pháp lý cho thấy, chi phí tiếp cận dịch vụ không chỉ chịu tác động của giá dịch vụ, mà còn liên quan đến cơ cấu tổ chức nghề nghiệp, điều kiện gia nhập thị trường và những hạn chế trong phương thức cung cấp dịch vụ[1]. Vì vậy, cải cách TTHC cần được xem xét trong mối quan hệ với yêu cầu bảo đảm chất lượng hành nghề, khả năng cạnh tranh và quyền tiếp cận dịch vụ pháp lý. Tại Việt Nam, Luật Luật sư năm 2006[2], cùng các văn bản hướng dẫn đã hình thành cơ sở pháp lý quản lý tổ chức và hoạt động luật sư. Đặc biệt, Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP[3] đã quy định một số biện pháp cắt giảm, đơn giản hóa TTHC liên quan đến hoạt động luật sư. Bên cạnh đó, dự thảo Luật[4] đề xuất thay đổi cơ chế tuyển chọn, cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề và xây dựng cơ sở dữ liệu luật sư. Những thay đổi này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm tính thống nhất giữa điều kiện hành nghề, trình tự thực hiện thủ tục và phương thức quản lý thông tin, qua đó tạo môi trường pháp lý thuận lợi để thị trường dịch vụ pháp lý phát triển.
1. Sự cần thiết đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động luật sư
Trong bối cảnh mới, đơn giản hóa TTHC trong hoạt động luật sư là cần thiết, xuất phát từ một số yêu cầu cụ thể sau:
Thứ nhất, đơn giản hóa TTHC trong hoạt động luật sư xuất phát từ yêu cầu bảo đảm sự cân bằng giữa quản lý nhà nước và tạo thuận lợi cho việc cung cấp dịch vụ pháp lý. Theo Điều 3 Luật Luật sư năm 2006, hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, pháp luật cần duy trì các điều kiện về trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và tư cách hành nghề. Tuy nhiên, việc kiểm soát những điều kiện này không đồng nghĩa với duy trì các TTHC phức tạp hoặc yêu cầu người thực hiện thủ tục phải nhiều lần cung cấp thông tin đã được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận. Nghiên cứu về điều chỉnh pháp luật đối với nghề luật sư cho thấy, quản lý nghề nghiệp cần được xem xét đồng thời trên các phương diện điều kiện gia nhập thị trường, quy tắc hành nghề, cơ cấu tổ chức nghề nghiệp và cơ chế giám sát[5]. Theo đó, đơn giản hóa TTHC không bãi bỏ những điều kiện cần thiết đối với nghề luật sư, mà hướng đến cải thiện phương thức xác minh điều kiện, giảm giấy tờ trùng lặp và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các chủ thể quản lý.
Thứ hai, quy mô hoạt động luật sư ngày càng mở rộng đòi hỏi đổi mới phương thức quản lý hoạt động luật sư. Theo Niên giám thống kê ngành Tư pháp năm 2025, cả nước có 6.343 tổ chức hành nghề luật sư, 28.362 người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, 22.470 người được cấp thẻ luật sư, 22.098 luật sư là thành viên các Đoàn Luật sư địa phương[6]. Sự khác nhau giữa các chỉ tiêu thống kê phản ánh những trạng thái pháp lý khác nhau trong quá trình gia nhập và hoạt động nghề nghiệp luật sư, qua đó, cho thấy yêu cầu quản lý thông tin chính xác, thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Đối với hoạt động luật sư, TTHC tập trung vào các nhóm chủ yếu như cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề luật sư; đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân; đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, chi nhánh; thay đổi nội dung đăng ký; chuyển đổi, hợp nhất, sáp nhập và chấm dứt hoạt động. Đây là những thủ tục cần thiết để xác định tư cách pháp lý và điều kiện hoạt động của các chủ thể. Tuy nhiên, hiệu quả quản lý sẽ bị hạn chế nếu các thủ tục được thực hiện riêng biệt, thiếu cơ chế chia sẻ dữ liệu hoặc phát sinh nghĩa vụ xác nhận lại thông tin đã có.
Từ yêu cầu cải cách hành chính, các nghiên cứu về đơn giản hóa TTHC chỉ ra rằng, việc giảm gánh nặng hành chính cần được thực hiện thông qua rà soát toàn bộ quy trình, xác định những nghĩa vụ thực sự cần thiết và đánh giá chi phí mà cá nhân, tổ chức phải bỏ ra để tuân thủ[7]. Điều này có ý nghĩa đối với hoạt động luật sư, vì việc giảm một loại giấy tờ sẽ không mang lại hiệu quả thực chất nếu người thực hiện vẫn phải tiến hành thủ tục khác để xác nhận cùng nội dung.
Thứ ba, chuyển đổi số tạo điều kiện thay đổi phương thức quản lý từ xử lý hồ sơ riêng lẻ sang quản lý dựa trên dữ liệu. Nghiên cứu về quản trị trong kỷ nguyên số nhấn mạnh vai trò của việc tích hợp hoạt động quản lý, tổ chức lại quy trình và phát triển dịch vụ công theo nhu cầu của người sử dụng[8]. Đối với lĩnh vực luật sư, cách tiếp cận này cho phép khai thác thông tin về chứng chỉ hành nghề, thẻ luật sư, tư cách thành viên Đoàn Luật sư và tình trạng hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư thông qua hệ thống dữ liệu, thay vì tiếp tục yêu cầu nộp bản sao giấy tờ trong mọi trường hợp.
Thứ tư, sự phát triển của công nghệ đang làm thay đổi cách thức tổ chức và cung cấp dịch vụ pháp lý, đặt ra yêu cầu nâng cao khả năng thích ứng của các chủ thể hành nghề[9]. Vì vậy, đơn giản hóa TTHC trong hoạt động luật sư không chỉ phục vụ hoạt động quản lý, mà góp phần tạo điều kiện để tổ chức hành nghề luật sư tập trung nguồn lực nâng cao chất lượng dịch vụ, đổi mới phương thức hoạt động và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
2. Thực trạng quy định thủ tục hành chính trong hoạt động luật sư và những tác động đến thị trường dịch vụ pháp lý
Hiện, pháp luật đã quy định các thủ tục quản lý hoạt động luật sư từ giai đoạn gia nhập nghề đến thành lập, thay đổi và chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư. Việc phân cấp thẩm quyền, đơn giản hóa hồ sơ và mở rộng phương thức giải quyết trực tuyến đã tạo cơ sở thuận lợi cho cải cách hành chính trong hoạt động luật sư. Tuy nhiên, so sánh các quy định pháp luật hiện hành với dự thảo Luật cho thấy, còn một số vấn đề cần hoàn thiện để bảo đảm hiệu quả quản lý và giảm chi phí tuân thủ trong hoạt động luật sư. Cụ thể:
Thứ nhất, chưa quy định đầy đủ cơ chế liên thông giữa các thủ tục gia nhập nghề luật sư.
Theo Điều 17, Điều 20 Luật Luật sư năm 2006, việc cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư và cấp thẻ luật sư thuộc những khâu khác nhau trong quá trình xác lập tư cách hành nghề luật sư. Từ ngày 01/7/2025, Nghị định số 121/2025/NĐ-CP[10] đã phân cấp thẩm quyền cấp, cấp lại và thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Sự điều chỉnh này góp phần phân định lại thẩm quyền quản lý nhưng chưa đồng nghĩa với việc hình thành quy trình liên thông giữa cơ quan cấp chứng chỉ và tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư. Dự thảo Luật tiếp tục quy định yêu cầu về chứng chỉ hành nghề và tư cách thành viên Đoàn Luật sư (khoản 3 Điều 7), đồng thời, đề xuất tổ chức kỳ thi quốc gia về luật sư (Điều 10) và điều chỉnh việc cấp chứng chỉ hành nghề (Điều 11). Bên cạnh đó, khoản 7 Điều 5 dự thảo Luật đã đặt ra định hướng xây dựng, quản lý và chia sẻ cơ sở dữ liệu luật sư. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa xác định cụ thể cơ chế chuyển giao, xác nhận và sử dụng kết quả tuyển chọn giữa Hội đồng tuyển chọn luật sư, cơ quan cấp chứng chỉ, Đoàn Luật sư và Liên Đoàn Luật sư Việt Nam. Vấn đề đặt ra không phải duy trì những điều kiện cần thiết để hành nghề, mà là nguy cơ lặp lại việc kê khai, kiểm tra hoặc xác nhận cùng một thông tin qua nhiều khâu. Khi chưa có cơ chế liên thông, việc phân cấp thẩm quyền hoặc ứng dụng công nghệ tại từng cơ quan riêng lẻ có thể chưa tạo ra sự thuận tiện cho người gia nhập nghề. Các nghiên cứu về mô hình giải quyết thủ tục theo cơ chế một cửa cho thấy, hiệu quả cải cách phụ thuộc đáng kể vào sự phối hợp giữa các cơ quan, khả năng tích hợp quy trình và chia sẻ thông tin, thay vì chỉ tập trung vào một đầu mối tiếp nhận hồ sơ[11].
Thứ hai, thành phần hồ sơ đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư yêu cầu cung cấp thông tin đã được xác nhận.
Theo khoản 2 Điều 35 Luật Luật sư năm 2006, hồ sơ đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư gồm: giấy đề nghị đăng ký hoạt động, dự thảo điều lệ đối với công ty luật, bản sao chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư của luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề, cùng giấy tờ chứng minh về trụ sở. Trong đó, thông tin về chứng chỉ hành nghề và thẻ luật sư đã được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận trước khi thực hiện thủ tục đăng ký. Vì vậy, việc tiếp tục yêu cầu cung cấp bản sao giấy tờ trong trường hợp dữ liệu có thể được khai thác hợp pháp là chưa phù hợp với định hướng đơn giản hóa TTHC. Hạn chế này đã được khắc phục một phần tại Mục I Phần A Phụ lục I.10 ban hành kèm theo Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP. Theo đó, thủ tục đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư được đơn giản hóa về thành phần hồ sơ, mở rộng phương thức thực hiện trực tuyến và rút ngắn thời hạn giải quyết từ 10 ngày xuống 07 ngày làm việc. Đây là bước điều chỉnh tích cực, nhưng cần tiếp tục bảo đảm sự thống nhất với hệ thống pháp luật về luật sư. Khoản 4 Điều 20 dự thảo Luật không tiếp tục quy định trực tiếp toàn bộ thành phần hồ sơ, mà giao Chính phủ quy định cụ thể việc cấp, cấp lại và thu hồi giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư. Cách tiếp cận này tạo điều kiện điều chỉnh trình tự, thủ tục đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa xác định rõ nguyên tắc không yêu cầu cung cấp lại dữ liệu đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận và có thể khai thác từ hệ thống quản lý. Vì vậy, nếu văn bản quy định chi tiết tiếp tục duy trì yêu cầu nộp những giấy tờ có thông tin đã được lưu trữ và xác minh, việc đơn giản hóa có thể chưa đạt hiệu quả thực chất, làm tăng nghĩa vụ hành chính trong quá trình thành lập tổ chức hành nghề, từ đó, ảnh hưởng đến thời gian và chi phí gia nhập thị trường dịch vụ pháp lý.
Thứ ba, phương thức công bố thông tin đăng ký hoạt động chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu công khai trên môi trường điện tử.
Theo Điều 38 Luật Luật sư năm 2006, tổ chức hành nghề luật sư phải công bố những nội dung chủ yếu về tổ chức và hoạt động trên báo hằng ngày của trung ương, địa phương hoặc báo chuyên ngành luật trong ba số liên tiếp nhằm bảo đảm tính công khai và tạo điều kiện để khách hàng nhận diện tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, phương thức đăng báo làm phát sinh chi phí công bố, trong khi, thông tin không phải lúc nào cũng thuận tiện cho việc tra cứu và cập nhật. Dự thảo Luật không tiếp tục thiết kế một điều luật riêng về nghĩa vụ đăng báo như Điều 38 Luật Luật sư năm 2006, đồng thời, đưa ra khái niệm cơ sở dữ liệu luật sư tại khoản 6 Điều 2 và chính sách xây dựng, chia sẻ dữ liệu tại khoản 7 Điều 5. Những nội dung này tạo tiền đề chuyển đổi phương thức quản lý thông tin sang môi trường điện tử. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa làm rõ phạm vi thông tin về tổ chức hành nghề được công khai, trách nhiệm cập nhật và giá trị sử dụng của thông tin được công bố. Đặc biệt, cần phân biệt dữ liệu phục vụ hoạt động quản lý với thông tin cần công khai để khách hàng xác minh tư cách pháp lý và tình trạng hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư. Bởi vì, nếu chỉ xây dựng cơ sở dữ liệu, mà chưa có cơ chế công khai phù hợp, yêu cầu minh bạch thông tin trên thị trường dịch vụ pháp lý vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ.
Thứ tư, nghĩa vụ đăng ký thay đổi và cập nhật thông tin hoạt động chưa được gắn với cơ chế chia sẻ dữ liệu thống nhất.
Điều 36 Luật Luật sư năm 2006 quy định, nghĩa vụ đăng ký khi tổ chức hành nghề luật sư thay đổi những nội dung thuộc diện đăng ký, đồng thời, thực hiện nghĩa vụ thông báo cho Đoàn Luật sư theo quy định. Các nghĩa vụ này cần thiết nhằm bảo đảm thông tin về tổ chức hành nghề được ghi nhận chính xác. Tuy nhiên, nếu thông tin thay đổi đã được cơ quan có thẩm quyền đăng ký nhưng vẫn phải thông báo lại cho chủ thể khác, mà không có cơ chế chia sẻ, tổ chức hành nghề có thể phải thực hiện nhiều lần nghĩa vụ cung cấp cùng một nội dung. Dự thảo Luật quy định, việc cấp lại giấy đăng ký hoạt động khi thay đổi thông tin trên giấy đăng ký (khoản 2 Điều 20); tiếp tục yêu cầu tổ chức hành nghề cập nhật danh sách luật sư thành viên và thông báo khi có thay đổi (điểm a khoản 2 Điều 22). Các quy định này duy trì trách nhiệm quản lý thông tin nhưng chưa phân định đầy đủ giữa trường hợp phải đăng ký thay đổi, trường hợp chỉ phải thông báo và trường hợp có thể cập nhật thông qua cơ chế chia sẻ dữ liệu. Vì vậy, vấn đề cần giải quyết không phải là loại bỏ nghĩa vụ đăng ký đối với những thay đổi ảnh hưởng đến tư cách pháp lý hoặc điều kiện hoạt động, mà là tránh việc tổ chức hành nghề phải cung cấp lại thông tin đã được cơ quan có thẩm quyền ghi nhận. Bởi vì, nếu không có sự phân định này, việc ứng dụng công nghệ có thể chỉ chuyển các nghĩa vụ hành chính từ hình thức giấy sang điện tử mà chưa thực sự giảm chi phí tuân thủ.
Thứ năm, tính thống nhất và ổn định của các biện pháp đơn giản hóa TTHC chưa được bảo đảm đầy đủ trong giai đoạn chuyển tiếp.
Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP đã quy định nhiều biện pháp cải cách TTHC liên quan đến hoạt động luật sư, gồm giảm thành phần hồ sơ, rút ngắn thời hạn giải quyết và mở rộng phương thức thực hiện trực tuyến. Tuy nhiên, theo Điều 19 Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP, thời hạn áp dụng được xác định từ ngày 15/4/2026 đến hết ngày 28/02/2027, trừ trường hợp các quy định tương ứng hết hiệu lực sớm hơn khi có văn bản quy phạm pháp luật mới điều chỉnh. Trong khi đó, khoản 1 Điều 35 dự thảo Luật đề xuất thời điểm có hiệu lực của Luật Luật sư (sửa đổi) là ngày 01/3/2027. Việc xác định thời điểm này tạo điều kiện kế thừa các biện pháp cải cách đã được áp dụng. Tuy nhiên, sự tiếp nối về thời gian chưa bảo đảm các quy định đơn giản hóa sẽ được duy trì đầy đủ nếu văn bản quy định chi tiết không được ban hành kịp thời hoặc không thống nhất với những nội dung đã cải cách. Bên cạnh đó, Điều 36 dự thảo Luật quy định về chuyển tiếp đối với người tập sự, người đã hoàn thành tập sự và người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Tuy nhiên, việc xử lý các hồ sơ đăng ký hoạt động, đăng ký thay đổi và cấp lại giấy đăng ký hoạt động đã được tiếp nhận nhưng chưa giải quyết xong tại thời điểm Luật Luật sư (sửa đổi) có hiệu lực cũng cần được làm rõ.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động luật sư
Trên cơ sở những hạn chế đã nhận diện, việc hoàn thiện pháp luật về đơn giản hóa TTHC trong hoạt động luật sư cần tập trung vào các vấn đề chưa được quy định đầy đủ trong pháp luật hiện hành, đồng thời, kế thừa những biện pháp đơn giản hóa đang áp dụng. Các giải pháp phải bảo đảm sự cân bằng giữa giảm chi phí tuân thủ, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và duy trì các điều kiện cần thiết đối với hoạt động hành nghề luật sư. Theo đó, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế liên thông trong giải quyết thủ tục gia nhập nghề luật sư.
Dự thảo Luật đã đề xuất cơ chế tuyển chọn luật sư thông qua kỳ thi quốc gia, điều chỉnh việc cấp chứng chỉ hành nghề và xây dựng cơ sở dữ liệu luật sư. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật cần tập trung vào phương thức kết nối các khâu, thay vì chỉ đơn giản hóa từng thủ tục riêng lẻ Theo đó, cần bổ sung nguyên tắc liên thông, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu trong giải quyết TTHC về luật sư. Thông tin về kết quả tuyển chọn, chứng chỉ hành nghề luật sư, tư cách thành viên Đoàn Luật sư và thẻ luật sư đã được chủ thể có thẩm quyền xác nhận phải được khai thác, sử dụng trong các thủ tục tiếp theo khi đáp ứng điều kiện pháp luật. Đồng thời, cần phân định rõ trách nhiệm của Hội đồng tuyển chọn luật sư, cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ, Đoàn Luật sư và Liên Đoàn Luật sư Việt Nam trong việc cung cấp, kiểm tra, cập nhật và bảo đảm tính chính xác của thông tin. Đối với các nội dung liên quan đến Điều 10 và Điều 11 dự thảo Luật, văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành cần thiết lập quy trình phối hợp giữa các chủ thể, bảo đảm kết quả tuyển chọn và thông tin về tư cách hành nghề được chuyển giao thống nhất. Trường hợp dữ liệu chưa được kết nối hoặc không đủ căn cứ xác minh, người thực hiện thủ tục được cung cấp giấy tờ thay thế phù hợp, mà không phải thực hiện thêm thủ tục xác nhận không cần thiết. Giải pháp này cần gắn với nguyên tắc không làm thay đổi thẩm quyền quản lý nhà nước và quyền tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư. Việc ứng dụng dữ liệu điện tử chỉ thay đổi phương thức kiểm tra, xác minh thông tin, không làm giảm yêu cầu về trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và điều kiện hành nghề. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu tổ chức quản lý nghề nghiệp dựa trên sự kết hợp giữa giám sát công và cơ chế tự quản nghề nghiệp[12].
Thứ hai, tiếp tục đơn giản hóa thành phần hồ sơ và phương thức đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư.
Khoản 4 Điều 20 dự thảo Luật giao Chính phủ quy định việc cấp, cấp lại và thu hồi giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư. Vì vậy, văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành cần tập trung hoàn thiện nguyên tắc đơn giản hóa hồ sơ và giao cơ quan có thẩm quyền cụ thể hóa thành phần hồ sơ, trình tự giải quyết trong văn bản quy định chi tiết. Cụ thể, cần bổ sung nguyên tắc không yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp lại thông tin, giấy tờ đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận và có thể khai thác hợp pháp từ cơ sở dữ liệu. Đối với chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư và thông tin về tư cách thành viên Đoàn Luật sư, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm chủ động tra cứu, đối chiếu khi dữ liệu đã đầy đủ, chính xác. Chỉ yêu cầu cung cấp giấy tờ trong trường hợp thông tin chưa có, chưa được kết nối hoặc chưa đủ căn cứ xác minh. Đồng thời, cần kế thừa các biện pháp cải cách phù hợp tại Mục I Phần A Phụ lục I.10 ban hành kèm theo Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP, nhất là việc giảm thành phần hồ sơ, tiếp nhận trực tuyến và rút ngắn thời hạn giải quyết thủ tục đăng ký hoạt động xuống 07 ngày làm việc. Văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành cần xác định rõ trách nhiệm khai thác dữ liệu, phương thức xử lý khi thông tin không thống nhất và thời hạn giải quyết (Điều 20 dự thảo Luật), bảo đảm việc đơn giản hóa được áp dụng ổn định. Đặc biệt, cần phân biệt điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư với giấy tờ chứng minh việc đáp ứng điều kiện. Những điều kiện cần thiết để bảo đảm chất lượng, trách nhiệm nghề nghiệp vẫn phải được duy trì nhưng không nhất thiết phải yêu cầu người đăng ký nộp lại các giấy tờ đã được xác nhận. Giải pháp này góp phần giảm chi phí gia nhập thị trường, mà không ảnh hưởng đến yêu cầu quản lý hoạt động luật sư.
Thứ ba, đổi mới phương thức công khai thông tin đăng ký hoạt động trên môi trường điện tử.
Dự thảo Luật đã xác định cơ sở pháp lý bước đầu cho việc xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu luật sư. Tuy nhiên, văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành khoản 6 Điều 2 và khoản 7 Điều 5 dự thảo Luật cần xác định rõ chức năng công khai thông tin của hệ thống dữ liệu điện tử, thay vì chỉ phục vụ hoạt động quản lý nội bộ. Theo đó, cần quy định trách nhiệm công khai những thông tin cơ bản về tổ chức hành nghề luật sư, gồm tên gọi, địa chỉ trụ sở, người đại diện theo pháp luật, hình thức tổ chức và tình trạng hoạt động. Các thông tin này phải được cập nhật sau khi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy đăng ký hoạt động hoặc ghi nhận thay đổi, bảo đảm người dân, doanh nghiệp có thể tra cứu để xác minh tư cách pháp lý của tổ chức cung cấp dịch vụ. Đồng thời, pháp luật cần xác định phạm vi thông tin được công khai, chủ thể chịu trách nhiệm cập nhật, thời hạn công khai và cơ chế sửa chữa dữ liệu sai lệch. Việc công khai phải giới hạn ở những thông tin cần thiết, bảo đảm phù hợp với pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và không làm ảnh hưởng đến những thông tin thuộc phạm vi bảo mật nghề nghiệp. Đặc biệt, cần xác định giá trị sử dụng của thông tin được công khai trên hệ thống điện tử chính thức, tạo điều kiện để khách hàng xác minh tình trạng hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, mà không phụ thuộc vào các nguồn thông tin riêng lẻ. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy định thay thế nghĩa vụ đăng báo trong 03 số liên tiếp bằng cơ chế công khai điện tử phù hợp, tránh duy trì đồng thời hai phương thức công bố có cùng mục đích. Việc đổi mới phương thức công khai không chỉ giảm chi phí thực hiện nghĩa vụ hành chính, mà còn nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và mức độ tin cậy của thị trường dịch vụ pháp lý. Điều này phù hợp với yêu cầu đổi mới phương thức cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp trong bối cảnh công nghệ làm thay đổi cách thức tổ chức, phân phối và tiếp cận dịch vụ[13].
Thứ tư, đơn giản hóa nghĩa vụ đăng ký thay đổi và cập nhật thông tin hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư.
Khoản 2 Điều 20 và điểm a khoản 2 Điều 22 dự thảo Luật quy định trách nhiệm đăng ký, cập nhật thông tin của tổ chức hành nghề luật sư. Đây là những nghĩa vụ cần thiết để bảo đảm tính chính xác của thông tin quản lý. Tuy nhiên, cần hoàn thiện cơ chế chia sẻ dữ liệu nhằm hạn chế việc cùng một nội dung phải được cung cấp tại nhiều cơ quan, tổ chức. Theo đó, văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 20, Điều 22 dự thảo Luật cần xác định rõ ba trường hợp: (i) đối với thay đổi ảnh hưởng đến tư cách pháp lý, điều kiện hoạt động hoặc nội dung giấy đăng ký hoạt động, tổ chức hành nghề phải thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi theo quy định; (ii) đối với thông tin phục vụ quản lý nhưng không làm thay đổi nội dung giấy đăng ký hoạt động, có thể áp dụng cơ chế thông báo hoặc cập nhật điện tử; (iii) đối với thông tin đã được cơ quan có thẩm quyền ghi nhận và chia sẻ hợp pháp qua cơ sở dữ liệu, không nên tiếp tục yêu cầu tổ chức hành nghề gửi lại cùng một nội dung nếu không có mục đích quản lý độc lập cần thiết. Đồng thời, cần quy định trách nhiệm của cơ quan đăng ký hoạt động trong việc chuyển giao thông tin cho Đoàn Luật sư và các chủ thể có liên quan, bảo đảm thông tin được cập nhật đầy đủ, kịp thời. Trường hợp dữ liệu chưa được kết nối, pháp luật cần cho phép áp dụng phương thức thông báo thay thế nhưng không phát sinh thêm những yêu cầu xác nhận ngoài phạm vi cần thiết. Việc hoàn thiện cơ chế này phải bảo đảm nguyên tắc giảm nghĩa vụ cung cấp thông tin trùng lặp nhưng vẫn duy trì trách nhiệm đăng ký những thay đổi có ảnh hưởng đến quyền lợi khách hàng và điều kiện hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư. Qua đó, tổ chức hành nghề luật sư có thể chủ động điều chỉnh quy mô, nhân sự và phương thức hoạt động mà không phải thực hiện những TTHC không cần thiết.
Thứ năm, bảo đảm tính thống nhất và ổn định của các quy định về đơn giản hóa TTHC.
Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP đã quy định nhiều biện pháp đơn giản hóa TTHC trong lĩnh vực luật sư, nhưng có thời hạn áp dụng đến hết ngày 28/02/2027, trừ trường hợp quy định tương ứng hết hiệu lực sớm hơn. Trong khi đó, dự thảo Luật đề xuất thời điểm có hiệu lực từ ngày 01/3/2027. Vì vậy, cần bảo đảm tính liên tục giữa các biện pháp cải cách đang được áp dụng và những quy định mới khi Luật Luật sư (sửa đổi) được thông qua. Trước hết, cần rà soát các nội dung đơn giản hóa tại Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP để kế thừa trong văn bản quy định chi tiết thi hành Luật, đặc biệt, đối với thành phần hồ sơ, thời hạn giải quyết, phương thức nộp trực tuyến và cơ chế khai thác thông tin đã có. Đồng thời, cần bảo đảm các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành được ban hành, có hiệu lực phù hợp với thời điểm thi hành Luật, tránh tình trạng thiếu căn cứ áp dụng hoặc khôi phục những nghĩa vụ hành chính đã được cắt giảm. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy định chuyển tiếp tại Điều 36 dự thảo Luật theo hướng xác định rõ phương thức xử lý hồ sơ đăng ký hoạt động, đăng ký thay đổi và cấp lại giấy đăng ký hoạt động đã được tiếp nhận hợp lệ nhưng chưa giải quyết xong. Đối với các hồ sơ này, cần hạn chế việc yêu cầu nộp lại hoặc bổ sung giấy tờ đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, trừ trường hợp cần thiết để kiểm tra điều kiện theo quy định pháp luật. Ngoài ra, cần định kỳ đánh giá hiệu quả đơn giản hóa TTHC dựa trên thời gian giải quyết thực tế, số lượng giấy tờ phải cung cấp, chi phí tuân thủ và mức độ sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Các nghiên cứu về cải cách TTHC cho thấy, việc đơn giản hóa chỉ đạt hiệu quả bền vững khi được theo dõi, đánh giá thường xuyên và gắn với cải thiện chất lượng thực thi[14]. Vì vậy, kết quả đánh giá cần được sử dụng để tiếp tục điều chỉnh những quy định chưa phù hợp, bảo đảm các biện pháp cải cách thực sự tạo thuận lợi cho hoạt động luật sư và phát triển thị trường dịch vụ pháp lý.
Kết luận
Đơn giản hóa TTHC trong hoạt động luật sư là yêu cầu cần thiết nhằm giảm chi phí tuân thủ, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường dịch vụ pháp lý. Quá trình này cần tập trung đổi mới phương thức giải quyết thủ tục, khai thác dữ liệu đã được xác nhận và tăng cường công khai thông tin, đồng thời, duy trì những điều kiện cần thiết đối với chất lượng và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư. Hiện, pháp luật đã có những điều chỉnh theo hướng đơn giản hóa hồ sơ, phân cấp thẩm quyền và mở rộng phương thức giải quyết trực tuyến. Dự thảo Luật xác định định hướng đổi mới cơ chế tuyển chọn, đăng ký hoạt động và quản lý dữ liệu luật sư. Tuy nhiên, để các biện pháp cải cách mang lại hiệu quả thực chất, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế liên thông giữa các thủ tục gia nhập nghề, đơn giản hóa hồ sơ đăng ký hoạt động, đổi mới phương thức công khai thông tin, hạn chế nghĩa vụ cập nhật trùng lặp và bảo đảm tính ổn định của các quy định trong giai đoạn chuyển tiếp. Việc thực hiện đồng bộ những giải pháp trên góp phần xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, thuận tiện, bảo đảm hiệu quả quản lý hoạt động luật sư, thúc đẩy thị trường dịch vụ pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, cạnh tranh lành mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
ThS. Trần Linh Huân
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Ảnh: Internet
[1]. Gillian K. Hadfield (2000), The Price of Law: How the Market for Lawyers Distorts the Justice System, Michigan Law Review, Vol. 98, No. 4, p.953-1006.
[2]. Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006).
[3]. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP ngày 07/4/2026 về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh (Nghị quyết số 66.16/2026/NQ-CP).
[4]. Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) kèm theo Tờ trình số 782/TTr-CP ngày 01/10/2026 của Chính phủ về Dự án Luật Luật sư (sửa đổi) (sau đây gọi là dự thảo Luật).
[5]. Mislav Mataija (2016), “The Learned Art: Regulating the Legal Profession”, trong Private Regulation and the Internal Market: Sports, Legal Services, and Standard Setting in EU Economic Law, Oxford University Press, pp. 189-223. DOI: 10.1093/acprof:oso/9780198746652.003.0006
[6]. Bộ Tư pháp (2025), Niên giám thống kê ngành Tư pháp năm 2025, https://data.moj.gov.vn/du-lieu-mo/du-lieu-thong-ke-nganh-tu-phap, truy cập ngày 30/9/2026.
[7]. Organisation for Economic Co-operation and Development (2010), Why Is Administrative Simplification So Complicated?, Looking beyond 2010, OECD Publishing, Paris. DOI: 10.1787/9789264089754-en.
[8]. Patrick Dunleavy, Helen Margetts, Simon Bastow và Jane Tinkler (2006), New Public Management Is Dead-Long Live Digital-Era Governance, Journal of Public Administration Research and Theory, Vol. 16, No. 3, p.467-494, DOI: 10.1093/jopart/mui057.
[9]. Richard Susskind (2023), Tomorrow’s Lawyers: An Introduction to Your Future, 3rd ed., Oxford University Press, p.1-8.
[10]. Chính phủ (2025), Nghị định số 121/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp (Nghị định số 121/2025/NĐ-CP).
[11]. Organisation for Economic Co-operation and Development (2020), One-Stop Shops for Citizens and Business, OECD Best Practice Principles for Regulatory Policy, OECD Publishing, Paris, DOI: 10.1787/b0b0924e-en.
[12]. Mislav Mataija (2016), tlđd, p.189-223.
[13]. Richard Susskind và Daniel Susskind (2015), The Future of the Professions: How Technology Will Transform the Work of Human Experts, Oxford University Press, p.9-45.
[14]. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD) (2010), Why Is Administrative Simplification So Complicated? Looking beyond 2010, OECD Publishing, Paris, p.91-93; Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD) (2020), One-Stop Shops for Citizens and Business, OECD Publishing, Paris, p.52-54.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Tư pháp (2025), Niên giám thống kê ngành Tư pháp năm 2025, https://data.moj.gov.vn/du-lieu-mo/du-lieu-thong-ke-nganh-tu-phap, truy cập ngày 30/9/2026.
2. Dunleavy, P., Margetts, H., Bastow, S., & Tinkler, J. (2006), New Public Management Is Dead-Long Live Digital-Era Governance, Journal of Public Administration Research and Theory, Vol. 16, No. 3.
3. Hadfield, G. K. (2000), The Price of Law: How the Market for Lawyers Distorts the Justice System, Michigan Law Review, Vol. 98, No. 4.
4. Mataija, M. (2016), The Learned Art: Regulating the Legal Profession, Private Regulation and the Internal Market: Sports, Legal Services, and Standard Setting in EU Economic Law, Oxford University Press, Oxford.
5. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD) (2010), Why Is Administrative Simplification So Complicated? Looking beyond 2010, OECD Publishing, Paris.
6. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD) (2020), One-Stop Shops for Citizens and Business, OECD Publishing, Paris.
7. Susskind, R. (2023), Tomorrow’s Lawyers: An Introduction to Your Future, 3rd ed., Oxford University Press, Oxford.
8. Susskind, R., & Susskind, D. (2015), The Future of the Professions: How Technology Will Transform the Work of Human Experts, Oxford University Press, Oxford.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (463) - tháng 10/2026)