Thứ hai 07/09/2026 16:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.

1. Cơ sở pháp lý về chứng cứ điện tử

Nếu như trước đây chứng cứ chủ yếu tồn tại dưới dạng văn bản giấy, tài liệu lưu trữ hoặc vật chứng hữu hình thì hiện nay với các giao dịch, hợp đồng trên môi trường số, phần lớn dấu vết của giao dịch lại được lưu giữ dưới dạng dữ liệu điện tử. Tin nhắn trên các ứng dụng OTT, email, nhật ký truy cập hệ thống, dữ liệu máy chủ, lịch sử giao dịch ngân hàng, bản ghi camera, dữ liệu định vị, chữ ký số hay nhật ký xác thực tài khoản… đều có thể trở thành nguồn chứng cứ quan trọng khi phát sinh tranh chấp.

Trong pháp luật tố tụng dân sự, Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định chứng cứ là những gì có thật được giao nộp hoặc do Tòa án thu thập theo trình tự luật định để xác định tình tiết khách quan của vụ việc. Điều 94 xác định dữ liệu điện tử là một trong các nguồn chứng cứ. Khoản 3 Điều 95 tiếp tục ghi nhận thông điệp dữ liệu điện tử dưới các hình thức như thư điện tử, chứng từ điện tử và các hình thức tương tự theo pháp luật về giao dịch điện tử là nguồn chứng cứ hợp pháp.

Song song với đó, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 khẳng định nguyên tắc không được phủ nhận giá trị pháp lý của thông tin chỉ vì thông tin được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu (Điều 8). Giá trị dùng làm chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, gửi, nhận hoặc lưu trữ thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo, gửi, nhận thông điệp dữ liệu và các yếu tố phù hợp khác (khoản 2 Điều 11).

Ngoài ra, khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự được xác lập thông qua phương tiện điện tử theo pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để công nhận hiệu lực của hợp đồng được xác lập, thực hiện trên môi trường điện tử.

Từ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 có thể xác định một số tiêu chí để dữ liệu điện tử có giá trị là chứng cứ như sau:

Thứ nhất, tính xác thực của dữ liệu điện tử. Tính xác thực chính là tính khách quan của dữ liệu. Dữ liệu phải có thật và phải được khởi tạo, gửi, nhận thông điệp dữ liệu bởi chủ thể xác định. Chứng cứ là dữ liệu điện tử phải phản ánh đúng các sự kiện, hiện tượng đã diễn ra trong thực tế, không phải là kết quả của sự suy diễn, hư cấu hay giả mạo.

Thứ hai, tính toàn vẹn và khả năng kiểm tra, đối chiếu của dữ liệu điện tử. Tính toàn vẹn không đòi hỏi dữ liệu phải hoàn toàn bất biến trong mọi trường hợp, mà yêu cầu nội dung thông tin không bị thay đổi ngoài những thay đổi phát sinh trong quá trình truyền gửi, lưu trữ và hiển thị thông thường. Đối với tin nhắn hội thoại, tính toàn vẹn không chỉ liên quan từng câu chữ mà còn bao gồm trình tự hội thoại và ngữ cảnh. Việc chỉ cung cấp một vài tin nhắn có lợi cho người xuất trình, trong khi loại bỏ nội dung trước và sau, có thể làm sai lệch ý nghĩa của toàn bộ trao đổi. Khả năng kiểm tra, đối chiếu chính là việc bên còn lại trong giao dịch và thậm chí cả bên thứ ba (như Tòa án, Cơ quan giám định,…) có khả năng kiểm tra nguồn gốc, cách thức hình thành và quá trình lưu giữ của dữ liệu được xuất trình. Bên cạnh việc giao nộp bản in hoặc ảnh chụp, người giao nộp cần bảo quản thiết bị gốc, xuất toàn bộ dữ liệu có liên quan, mô tả phương pháp trích xuất và đề nghị Tòa án trực tiếp xem xét thiết bị hoặc yêu cầu tổ chức quản lý hệ thống xác nhận. Thậm chí trong trường hợp có tranh chấp về tính xác thực, cần thông qua cơ quan có chuyên môn để trưng cầu giám định dữ liệu điện tử.

Thứ ba, tính liên quan của dữ liệu điện tử. Tính liên quan của dữ liệu chính là giá trị chứng minh của dữ liệu đó. Dữ liệu phải liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tình tiết cần chứng minh. Giá trị chứng minh của dữ liệu điện tử khá đặc thù bởi cần phối hợp với nhiều chứng cứ khác nhau để đi đến được một kết luận nào đó. Một lệnh chuyển tiền chứng minh việc chuyển tiền, nhưng chưa đương nhiên chứng minh đó là tiền vay. Nội dung chuyển khoản phải được đặt trong tổng thể thỏa thuận, email, tin nhắn, hóa đơn và hành vi thực hiện của các bên.

Thứ tư, tính hợp pháp của phương pháp thu thập dữ liệu điện tử. Chứng cứ phải được thu thập, giao nộp bởi chủ thể có thẩm quyền và theo trình tự pháp luật tố tụng quy định. Rõ ràng việc xâm nhập trái phép tài khoản, đánh cắp mật khẩu, cài đặt phần mềm theo dõi hoặc bí mật thu thập dữ liệu thuộc đời sống riêng tư không thể phù hợp để trở thành chứng cứ.

2. Thực tiễn sử dụng chứng cứ điện tử để giải quyết tranh chấp

Vấn đề pháp lý và thực tế đặt ra không chỉ là dữ liệu điện tử có được thừa nhận làm chứng cứ hay không. Câu hỏi khó hơn là dữ liệu nào đủ điều kiện trở thành chứng cứ; ai là người khởi tạo; dữ liệu có bị cắt ghép, sửa đổi hay không; phương pháp thu thập có hợp pháp không; Tòa án phải đánh giá giá trị chứng minh của dữ liệu theo tiêu chí nào. Việc Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 mới dừng ở việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ, nhưng chưa quy định quy trình riêng cho việc xác định, thu thập, đánh giá, sử dụng cho loại dữ liệu này khiến việc áp dụng trên thực tế có nhiều lúng túng.

Xuất phát từ đặc tính phi vật chất, khả năng sao chép gần như không giới hạn và nguy cơ bị chỉnh sửa mà không để lại dấu vết trực quan khiến chứng cứ điện tử khác căn bản với tài liệu giấy thông thường. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo tạo sinh, hình ảnh, giọng nói và video giả mạo ngày càng khó phân biệt bằng cảm quan thông thường. Chính vì vậy, khó khăn lớn nhất của chứng cứ điện tử không nằm ở việc thu thập mà ở việc chứng minh dữ liệu đó là thật. Một bức ảnh chụp màn hình có thể được chỉnh sửa chỉ trong vài phút; tin nhắn có thể bị xóa hoặc cắt ghép; email có thể bị giả mạo địa chỉ gửi; file ghi âm có thể được xử lý bằng trí tuệ nhân tạo để thay đổi nội dung; ngay cả dữ liệu camera cũng có thể bị can thiệp nếu không bảo đảm quy trình quản lý và lưu trữ…

Trên thực tế, tranh chấp liên quan các giao dịch được thực hiện trên môi trường số trong hoạt động ngân hàng thường phát sinh do xung đột từ việc khách hàng phủ nhận giao dịch, phủ nhận OTP, phủ nhận chữ ký điện tử,… Mặc dù ngân hàng đã thực hiện các nghĩa vụ theo chỉ lệnh phát sinh từ tài khoản khách hàng như giải ngân, chuyển tiền, phong tỏa,… nhưng khách hàng vẫn phủ nhận giao dịch vì cho rằng các chỉ lệnh này không đúng với ý chí của khách hàng với nhiều lý do như tài khoản bị hack, thiết bị bị chiếm đoạt, bị lợi dụng, lừa đảo, hoặc do nhầm lẫn, thiếu hiểu biết, thiếu kỹ năng công nghệ, chưa tiếp cận hợp đồng mẫu... Đối mặt với những xung đột nêu trên, những chứng cứ thường được ngân hàng sử dụng để bảo vệ quyền lợi của mình như: Hợp đồng tín dụng điện tử; dữ liệu eKYC; thông tin xác thực OTP hoặc Smart OTP; nhật ký đăng nhập Internet Banking/Mobile Banking; dữ liệu Core Banking; lệnh giải ngân điện tử; sao kê tài khoản điện tử; thư điện tử, tin nhắn xác nhận giao dịch; dữ liệu ghi âm cuộc gọi chăm sóc khách hàng, nhật ký hệ thống; IP; Device ID, hồ sơ mở tài khoản,… Các dữ liệu này ngân hàng cung cấp nhằm chứng minh cho việc thực hiện giao dịch của khách hàng và/hoặc khách hàng phải là người chịu trách nhiệm đối với các giao dịch phát sinh từ tài khoản khách hàng.

Việc Tòa án đánh giá giá trị chứng minh của dữ liệu được xuất trình, thu thập trong quá trình tố tụng không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà đã phát sinh ngày càng phổ biến trong thực tiễn xét xử. Điển hình là Bản án phúc thẩm số 79/2024/DS-PT ngày 03/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh BN về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ ngân hàng số. Trong vụ án này, nguyên đơn cho rằng mình bị các đối tượng giả danh cơ quan nhà nước lừa đảo, dẫn đến việc chuyển số tiền rất lớn từ tài khoản mở tại ngân hàng và yêu cầu ngân hàng bồi thường thiệt hại do cho rằng ngân hàng không bảo đảm an toàn trong quá trình cung ứng dịch vụ. Ngược lại, ngân hàng cho rằng toàn bộ các giao dịch đều được thực hiện đúng quy trình, thông qua tài khoản đã đăng ký, sử dụng đúng tên đăng nhập (User), mật khẩu và mã xác thực Smart OTP hợp lệ nên được coi là giao dịch hợp pháp theo điều kiện sử dụng dịch vụ đã được khách hàng chấp thuận. Tại Bản án phúc thẩm này, Hội đồng xét xử nhận định: “[12] Theo điều khoản sử dụng ngân hàng điện tử và phương thức xác thực dành cho khách hàng cá nhân mà V ban hành thì: Khi thực hiện dịch vụ chuyển tiền qua ứng dụng VCB digibank, bà C phải tiến hành đăng nhập trên hệ thống bằng User (người dùng) mà bà C đã đăng ký sử dụng với ngân hàng; mật khẩu đăng nhập do khách hàng tự thiết lập và mã OTP được khởi tạo thành công trên thiết bị điện thoại bà C đã đăng ký với ngân hàng (chỉ điện thoại của bà C mới tạo được các mã OTP này và mã OTP được bà C xác nhận và gửi thành công đến hệ thống ngân hàng). Một giao dịch được thực hiện hợp lệ phải đảm bảo các yếu tố bảo mật trên. Theo nguyên tắc bảo mật này, chỉ bà C mới có quyền được biết các mật khẩu đăng nhập cũng như mã OTP để thực hiện các giao dịch chuyển tiền. Vì vậy, việc bà C tự hoặc bị chiếm quyền đăng nhập vào hệ thống bằng User và mật khẩu do chính bà C tự thiết lập và xác nhận giao dịch bằng mã OTP, đã thể hiện ý chí thực hiện giao dịch của bà C và các giao dịch này được coi là hợp lệ, đúng quy định của pháp luật cũng như quy định của nội bộ V. Do đó, việc chuyển số tiền 11.900.000.000 đồng trên là phù hợp với điều khoản sử dụng ngân hàng điện tử và phương thức xác thực dành cho khách hàng cá nhân mà V ban hành. Ngân hàng V không được tự mình áp dụng các biện pháp nghiệp vụ khẩn cấp khi không có yêu cầu của khách hàng là phù hợp với Quy định số 1867/QĐ-VCB-DVNHDT ngày 16/10/2019 của Ngân hàng V”.

Từ vụ án trên có thể nhận thấy, trọng tâm của tranh chấp không còn nằm ở việc các bên có giao kết hợp đồng hay không, mà chuyển sang việc đánh giá giá trị chứng minh của chứng cứ điện tử. Hội đồng xét xử không chỉ xem xét hợp đồng mở tài khoản và đăng ký dịch vụ ngân hàng điện tử mà còn đánh giá đồng thời các dữ liệu điện tử phát sinh trong quá trình giao dịch như phương thức xác thực OTP, thông tin đăng nhập, số điện thoại đã đăng ký, điều khoản sử dụng dịch vụ và dữ liệu ghi nhận trên hệ thống ngân hàng. Cách tiếp cận này cho thấy chứng cứ điện tử không được đánh giá một cách độc lập mà phải được xem xét trong tổng thể các chứng cứ và trong mối liên hệ với quy trình của hệ thống thanh toán điện tử.

Theo Bản án, Hội đồng xét xử cho rằng khách hàng đã ký Giấy đề nghị mở tài khoản, đăng ký sử dụng dịch vụ VCB Digibank và lựa chọn phương thức xác thực Smart OTP; đồng thời không chứng minh được việc ngân hàng vi phạm quy trình mở tài khoản hoặc cung ứng dịch vụ. Tòa án cũng nhấn mạnh rằng, các giao dịch được thực hiện thông qua đúng User, mật khẩu và mã OTP hợp lệ trên thiết bị đã đăng ký. Từ đó, Hội đồng xét xử coi đây là căn cứ quan trọng để xác định giao dịch được thực hiện theo đúng quy trình của ngân hàng. Như vậy, Hội đồng xét xử đánh giá rằng, khi giao dịch được thực hiện đúng quy trình xác thực bằng User, mật khẩu và OTP trên thiết bị đã đăng ký thì về nguyên tắc, giao dịch được coi là hợp lệ, trừ khi khách hàng chứng minh được có lỗi của ngân hàng hoặc hệ thống bảo mật.

Thực tế, không phải dễ dàng để Tòa án có những nhận định và hướng giải quyết nêu trên. Hiện nay, pháp luật chưa có các quy định cụ thể và cả hệ thống án lệ của Việt Nam cũng chưa có tình huống, giải pháp pháp lý trực tiếp về tiêu chí công nhận, loại trừ hoặc đánh giá giá trị chứng minh của dữ liệu điện tử trong vụ án dân sự. Điều đó dẫn đến nguy cơ cùng một loại dữ liệu nhưng được các Tòa án đánh giá khác nhau như nơi chấp nhận ảnh chụp màn hình nếu phù hợp với lời khai và chứng cứ khác; nơi yêu cầu vi bằng; nơi yêu cầu xác nhận của nhà cung cấp dịch vụ; nơi lại không chấp nhận vì không có thiết bị gốc.... Từ đó xác định nghĩa vụ chứng minh, cung cấp các chứng cứ của các đương sự cũng khác nhau. Chính vì vậy, không ít thẩm phán còn nhiều lúng túng, không đồng nhất trong việc giải quyết các vụ việc liên quan giao dịch điện tử.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Có thể thấy, chứng cứ điện tử sẽ ngày càng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng khi nền kinh tế số tiếp tục phát triển. Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, Việt Nam cần xây dựng các hướng dẫn thống nhất trong tố tụng về việc thu thập, bảo quản, niêm phong, phục hồi, giám định và đánh giá dữ liệu điện tử. Để nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp phát sinh từ các giao dịch điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số, cần tập trung hoàn thiện pháp luật theo ba định hướng sau:

Thứ nhất, cần bổ sung quy định chuyên biệt về chứng cứ điện tử trong Bộ luật Tố tụng dân sự, trong đó quy định rõ tiêu chí đánh giá tính xác thực, tính toàn vẹn và độ tin cậy của dữ liệu điện tử. Đơn cử trong hoạt động ngân hàng, pháp luật chưa quy định cụ thể tiêu chí đánh giá giá trị chứng minh của các loại dữ liệu thường gặp như OTP, dữ liệu eKYC, nhật ký hệ thống, dữ liệu Core Banking hoặc sao kê điện tử... Trên thực tế, đây lại là những chứng cứ được sử dụng phổ biến nhất khi phát sinh tranh chấp trong hoạt động tại ngân hàng.

Thứ hai, cần xây dựng quy trình, thủ tục thống nhất về thu thập, sao lưu, bảo quản và xuất trình dữ liệu điện tử do các khâu thu giữ, trích xuất, sao chép, niêm phong, chuyển giao, bảo quản và phục hồi chưa có chuẩn tố tụng thống nhất; đồng thời quy định trách nhiệm của các tổ chức trong việc lưu giữ và cung cấp dữ liệu phục vụ hoạt động tố tụng.

Thứ ba, cần khuyến khích và hướng dẫn doanh nghiệp đầu tư hệ thống lưu trữ đạt chuẩn, tăng cường sử dụng chữ ký số, dấu thời gian điện tử (timestamp), cơ chế xác thực đa yếu tố và các giải pháp bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu nhằm nâng cao giá trị chứng minh của chứng cứ điện tử, đặc biệt trong hoạt động ngân hàng.

Việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng xây dựng cơ chế riêng đối với chứng cứ điện tử sẽ góp phần bảo đảm tính minh bạch, an toàn pháp lý và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp trong nền kinh tế số. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo tạo ra một thách thức mới đối với hoạt động chứng minh cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực chuyên môn của những người tiến hành tố tụng và cả những người tham gia tố tụng để thích ứng với đặc thù của thời đại số.

LS. Mai Tiến Dũng, Công ty Luật TNHH Hưng Dũng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: