Chủ nhật 13/09/2026 02:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.

Ngày 30/7/2026, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Đỗ Anh Tuấn đã ký ban hành Kế hoạch số 298/KH-UBND về thực hiện Đề án “Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035” trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân

Theo Kế hoạch, Hà Nội sẽ đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng thiết thực, dễ tiếp cận, phù hợp với từng nhóm đối tượng, địa bàn; chú trọng phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong công tác này.

Giai đoạn 2026 - 2030, Thành phố phấn đấu số hóa trên 70% chương trình, tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật của Đề án và công khai trên Trang thông tin, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật, Cổng thông tin điện tử Thành phố. Mỗi xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phấn đấu có ít nhất 02 người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được bồi dưỡng theo bộ chương trình, tài liệu của Đề án.

Đáng chú ý, Thành phố đặt mục tiêu trên 70% người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được tiếp cận thông tin pháp luật thông qua các hình thức phù hợp; 50% hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện trên môi trường số.

Trong giai đoạn 2031 - 2035, các mục tiêu tiếp tục được nâng cao. Thành phố phấn đấu số hóa 100% chương trình, tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật và công khai trên môi trường mạng; khoảng 90% người dân sinh sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được tiếp cận phổ biến, giáo dục pháp luật bằng hình thức phù hợp; 80% hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện thông qua môi trường số.

Cùng với đó, 100% đội ngũ hạt nhân nòng cốt, người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được bồi dưỡng, tập huấn, tiếp cận và sử dụng tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật bằng hình thức phù hợp; 100% bí thư chi bộ, trưởng thôn, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc tôn giáo, người đứng đầu các tổ chức tôn giáo được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật theo chương trình, tài liệu của Đề án.

Xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật sát địa bàn

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Hà Nội xác định là xây dựng, phát triển và nâng cao năng lực cho đội ngũ hạt nhân nòng cốt làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo đó, Thành phố sẽ rà soát, lựa chọn, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ, kiến thức, hiểu biết pháp luật, am hiểu phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số; ưu tiên những người có khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số để làm lực lượng hạt nhân nòng cốt về phổ biến, giáo dục pháp luật của Thành phố và cấp xã.

Đồng thời, xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã, bảo đảm mỗi xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có ít nhất 02 người tham gia công tác này được bồi dưỡng theo bộ chương trình, tài liệu của Đề án.

Thành phố cũng tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn nhằm tăng cường vai trò của đội ngũ hạt nhân nòng cốt, người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; cán bộ, công chức làm công tác dân tộc, tôn giáo cấp xã; bí thư chi bộ, trưởng thôn, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; chức sắc, chức việc tôn giáo, người đứng đầu các tổ chức tôn giáo.

Nội dung bồi dưỡng không chỉ tập trung vào kiến thức pháp luật, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, mà còn chú trọng các kỹ năng nghiệp vụ chuyên biệt như ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, nền tảng số và mạng xã hội trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Bên cạnh lực lượng chuyên trách, Thành phố huy động sự tham gia của bí thư chi bộ, trưởng thôn, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc tôn giáo, người đứng đầu các tổ chức tôn giáo, quân đội, công an, hòa giải viên ở cơ sở, trợ giúp viên pháp lý, nhà giáo, luật sư, luật gia, chuyên gia pháp lý, doanh nghiệp và các cá nhân trong thực hiện Đề án.

Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với đời sống

Điểm đáng chú ý trong Kế hoạch là yêu cầu xây dựng, số hóa chương trình, tài liệu, nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với từng nhóm đối tượng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật được định hướng gắn với phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết sinh kế, việc làm, an sinh xã hội; đồng thời gắn với tuyên truyền về giáo lý, giáo luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số có đạo. Các chương trình, tài liệu sẽ được thường xuyên số hóa, rà soát, cập nhật, bổ sung để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Thành phố cũng triển khai rà soát các tập quán lạc hậu, hủ tục trái với quy định của pháp luật; tuyên truyền, vận động xóa bỏ cơ bản những tập quán, hủ tục này. Đồng thời, xây dựng và duy trì các mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật tại cộng đồng; tổ chức Ngày Pháp luật Việt Nam, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, phiên tòa giả định, hội nghị, hội thảo, diễn đàn giao lưu, đối thoại, chia sẻ kinh nghiệm và hướng dẫn địa phương triển khai các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp.

Cùng với các hình thức truyền thống, Hà Nội sẽ xây dựng các phóng sự phát thanh, truyền hình, truyền thông về phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng và duy trì chuyên trang, chuyên mục hỏi đáp pháp luật về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo và chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Việc phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cũng được đẩy mạnh thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, chuyển đổi số, các phần mềm chuyên dụng, nền tảng số và mạng xã hội phù hợp theo quy định của pháp luật.

Phát huy vai trò của cộng đồng trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Để nâng cao chất lượng và tính bền vững của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Thành phố sẽ tổ chức các hoạt động đối thoại, hội nghị, hội thảo, tọa đàm để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, mô hình, cách làm hay, hiệu quả; tổ chức các đoàn học tập, trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài nước gắn với đặc thù của Đề án.

Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Đề án cũng được chú trọng nhằm kịp thời xác định những tồn tại, khó khăn, vướng mắc và tìm giải pháp khắc phục. Hằng năm, các cơ quan, đơn vị thực hiện báo cáo đánh giá kết quả; năm 2030 tổ chức sơ kết và năm 2035 tổ chức tổng kết. Những cá nhân, tổ chức có sáng kiến, thành tích xuất sắc, thực hiện tốt Đề án sẽ được xem xét vinh danh, tuyên dương, khen thưởng.

Thông qua việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, Hà Nội hướng tới nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đúng đối tượng, sát địa bàn, thiết thực và dễ tiếp cận, qua đó góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

(Ảnh: Internet)

Song An

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.

Theo dõi chúng tôi trên: