Chủ nhật 11/10/2026 02:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

An ninh năng lượng trong vòng xoáy biến động toàn cầu và bài toán thực tiễn của việt nam

Năm 2026, “bức tranh” năng lượng toàn cầu chứng kiến những biến động khó lường. Tình hình địa chính trị phức tạp trên thế giới cùng với sự đứt gãy cục bộ của chuỗi cung ứng và hệ lụy của biến đổi khí hậu đã đẩy thị trường nhiên liệu hóa thạch vào trạng thái mất ổn định. Giá dầu mỏ, than đá và khí tự nhiên hóa lỏng liên tục ghi nhận những sự điều chỉnh biên độ lớn. Đối với nền kinh tế có độ mở cao và đang trong giai đoạn công nghiệp hóa mạnh mẽ như Việt Nam, áp lực bảo đảm nguồn cung năng lượng phục vụ sản xuất và sinh hoạt là vô cùng lớn.

Phân tích các số liệu thực trạng cho thấy, nhu cầu năng lượng điện của nước ta vẫn tăng trưởng ở mức cao, trung bình khoảng 10-12% mỗi năm[1]. Trong khi đó, các nguồn tài nguyên nội địa như than đá, thủy điện gần đạt ngưỡng khai thác tối đa, dư địa phát triển không còn nhiều. Thách thức lớn nhất hiện nay là thực hiện các giải pháp để vừa đáp ứng đủ điện cho tăng trưởng kinh tế, vừa thực hiện đúng cam kết quốc tế về giảm phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050.

Nếu chỉ tập trung tìm kiếm các nguồn cung mới hoặc tăng cường nhập khẩu, Việt Nam có thể rơi vào trạng thái bị động, suy giảm an ninh năng lượng và chịu rủi ro về tỷ giá. Do đó, theo các chuyên gia kinh tế, “sản xuất” năng lượng từ chính việc tiết kiệm là nguồn năng lượng rẻ nhất, sạch nhất và có thể tiếp cận nhanh nhất[2]. Đẩy mạnh việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả chính là giải pháp tối ưu để cân bằng cán cân tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.

Hoàn thiện hành lang pháp lý và sức bật từ hệ thống chính sách mới

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc tiết kiệm năng lượng, thời gian qua, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế đã được thực hiện quyết liệt. Đặc biệt, việc ban hành và triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả[3] được xem là căn cứ pháp lý vững chắc. Luật tạo bước đột phá khi tập trung vào 04 nhóm chính sách trọng tâm: cắt giảm tối đa thủ tục hành chính trong dán nhãn và kiểm toán năng lượng; siết chặt quy định bắt buộc áp dụng mô hình quản lý năng lượng tại các cơ sở trọng điểm; mở rộng đối tượng dán nhãn năng lượng, bao gồm vật liệu xây dựng và hàng hóa kinh doanh trên thương mại điện tử; đồng thời thúc đẩy phát triển thị trường dịch vụ năng lượng (ESCO) thông qua các cơ chế ưu đãi đầu tư và xã hội hóa. Trên cơ sở các quy định này, Luật đóng vai trò nền tảng thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững, đồng thời nâng cao ý thức tiết kiệm năng lượng trong toàn xã hội, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính.

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG
Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XV biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Bên cạnh đó, điểm sáng nổi bật trong năm 2026 là chuỗi các văn bản chỉ đạo mang tính chiến lược của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, trực tiếp tháo gỡ các nút thắt hiện tại.

Thứ nhất, ngày 19/3/2026, Thủ tướng ban hành Chỉ thị số 09/CT-TTg[4], xác định rõ lộ trình giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu, đẩy mạnh sử dụng nhiên liệu sinh học và phát triển mạnh mẽ phương tiện giao thông điện. Đây là một tư duy đột phá, đưa giao thông điện trở thành một cấu phần trọng yếu của bức tranh an ninh năng lượng.

Thứ hai, để giải quyết bài toán căng thẳng nguồn cung năng lượng trong các tháng cao điểm, ngày 30/3/2026, Chỉ thị số 10/CT-TTg[5] được ban hành, tập trung vào tăng cường thực thi tiết kiệm điện, quản lý nhu cầu điện (DSM) và giảm phụ tải đỉnh. Thông qua việc thúc đẩy điện mặt trời mái nhà theo cơ chế tự sản, tự tiêu, Chỉ thị số 10/CT-TTg đã kích hoạt nguồn lực xã hội, hỗ trợ các khu công nghiệp từng bước tự chủ nguồn năng lượng tại chỗ và giảm gánh nặng đáng kể cho lưới điện quốc gia[6].

Thứ ba, nắm bắt được điểm nghẽn của việc chuyển dịch sang giao thông xanh chính là hạ tầng sạc, Chính phủ có Công điện số 27/CĐ-TTg[7] ngày 31/3/2026 yêu cầu thúc đẩy tốc độ phát triển hạ tầng trạm sạc, trạm đổi pin cho xe điện, đặc biệt, nhắm vào các khu vực tập trung đông dân cư như khu đô thị, nhà chung cư, bảo đảm tính đồng bộ, an toàn và thuận tiện. Do đó, rào cản tâm lý của người dân khi chuyển đổi từ xe xăng sang xe điện đã được giải tỏa đáng kể.

Cuộc cách mạng từ công nghệ thông minh, chuyển đổi số và các mô hình kiến tạo

Cùng với khung pháp lý vững chắc, động lực phát triển cốt lõi trong quản lý và sử dụng năng lượng hiện nay nằm ở mức độ ứng dụng khoa học - công nghệ, công nghệ thông minh và chuyển đổi số.

Trên thực tế, hàng loạt các giải pháp kỹ thuật, mô hình tối ưu hóa tiêu thụ điện đã được các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng thành công. Tại các khu công nghiệp trọng điểm, mô hình Quản lý năng lượng thông minh (Smart Energy Management) ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT) đang được triển khai, cho phép hệ thống phân tích dữ liệu từ hàng nghìn cảm biến để dự báo nhu cầu tiêu thụ và tự động đề xuất phương án tối ưu theo thời gian thực[8]. Công nghệ này cho phép theo dõi thời gian thực mức tiêu thụ điện của từng dây chuyền, tự động phát tín hiệu cảnh báo và điều tiết giảm phụ tải vào những giờ cao điểm.

Bên cạnh đó, giải pháp điện mặt trời mái nhà kết hợp với hệ thống lưu trữ năng lượng BESS (Battery Energy Storage System) đang khẳng định vị thế ưu việt. Việc sử dụng thiết bị hiệu suất cao, thay thế hoàn toàn động cơ cũ bằng các thiết bị có dán nhãn năng lượng chuẩn cao nhất đã giúp nhiều nhà máy giảm tới 15 - 20% suất tiêu hao năng lượng tính trên một đơn vị sản phẩm.

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG
Người dân Thủ đô sắp được sử dụng xe đạp công cộng tại 5 quận trung tâm.

Trong lĩnh vực dịch vận tải ô tô, các mô hình giao thông xanh, logistics xanh đang bứt tốc. Cụ thể, việc chuyển đổi từ xe tải diesel sang xe điện tải trọng lớn kết hợp năng lượng tái tạo đang diễn ra rõ nét trong logistics đô thị và thậm chí bắt đầu xuất hiện ở lĩnh vực vận tải đường dài. Các doanh nghiệp vận tải lớn như Giao hàng nhanh, Giao hàng tiết kiệm, Shopee Express đã đưa vào sử dụng xe tải điện nội thành, giúp tiết kiệm chi phí nhiên liệu đến 40% và dễ đáp ứng tiêu chuẩn môi trường mới. Theo Bộ Công thương, đến năm 2045, tăng trưởng thị trường công nghiệp ô tô có thể đạt 11-12% mỗi năm, trong đó, xe điện, sử dụng năng lượng sạch chiếm 80-85% thị phần, tương đương 4,3 - 4,4 triệu xe[9].

Những sáng kiến thiết thực này không chỉ giúp tiết kiệm chi phí nhiên liệu, tối ưu hóa quy trình quản lý mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh khổng lồ cho hàng hóa Việt Nam khi đáp ứng các tiêu chuẩn xanh khắt khe (như cơ chế CBAM) của thị trường châu Âu và Mỹ.

Lan tỏa văn hóa tiết kiệm - tôn vinh các điển hình tiên tiến từ cơ sở

Dù là hoàn thiện thể chế hay đổi mới công nghệ, hiệu quả thực thi trong thực tiễn chỉ có thể đạt được giá trị cao nhất khi dựa trên nền tảng nhận thức và trách nhiệm của toàn xã hội. Nhờ công tác truyền thông được triển khai chủ động và kịp thời, nhận thức của người dân và doanh nghiệp về sử dụng tiết kiệm điện, năng lượng đã có sự chuyển biến sâu sắc, từ thay đổi trong tư duy đến chuyển hóa thành hành vi cụ thể. Việc tiết kiệm năng lượng, theo đó, không còn là vấn đề đơn lẻ mà đã gắn liền với trách nhiệm bảo vệ môi trường, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Việc hưởng ứng Chiến dịch Giờ Trái đất năm 2026 ngày càng được gắn với những hành động cụ thể trong sử dụng năng lượng, qua đó góp phần hình thành thói quen tiết kiệm điện trong đời sống hằng ngày. Các khuyến nghị như tắt các thiết bị điện không cần thiết, sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả và điều chỉnh nhiệt độ điều hòa từ 26°C trở lên đang được đẩy mạnh tuyên truyền đến cộng đồng. Đáng chú ý, chiến dịch “Hà Nội 26+” của Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội hướng tới việc lan tỏa những thay đổi nhỏ trong thói quen sử dụng điện hằng ngày, khuyến khích kết hợp điều hòa với quạt điện để vừa bảo đảm hiệu quả làm mát, vừa giảm mức tiêu thụ điện năng[10].

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG
Sở Công Thương Hà Nội phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Lễ phát động hưởng ứng chiến dịch giờ trái đất, cao điểm hè về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2026 với thông điệp “Sáng tạo xanh-Tương lai xanh”.

Thực tiễn đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân, điển hình tiên tiến và cách làm sáng tạo trong đời sống, kinh doanh. Trường Quốc tế Concordia (Hà Nội) là một điển hình về công trình xanh đạt chứng nhận Lotus, với các giải pháp như nước nóng năng lượng mặt trời, tường xây dựng bằng vật liệu không nung như bê tông, thạch cao và tận dụng 64,2% ánh sáng tự nhiên. Nhờ đó, công trình tiết kiệm được 32,5% năng lượng và 52,6% lượng nước sử dụng[11].

Sự nỗ lực từ các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp trong đổi mới công nghệ, phát triển thị trường và đào tạo nguồn nhân lực cần được biểu dương mạnh mẽ. Nhờ triển khai đồng bộ các nhiệm vụ quản lý nhà nước và hỗ trợ kỹ thuật, nhiều địa phương đã hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu giảm tổn thất điện năng và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trên địa bàn, góp phần thiết thực vào mục tiêu chung của quốc gia.

Nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp đột phá

Dù đạt được nhiều thành tựu, chặng đường hiện thực hóa mục tiêu tiết kiệm năng lượng toàn diện vẫn đối diện không ít rào cản. Khó khăn lớn nhất trong việc đẩy mạnh chuyển đổi giao thông xanh và phát triển điện mặt trời mái nhà hiện nay là nguồn vốn đầu tư ban đầu lớn. Việc triển khai hạ tầng sạc điện ở các khu chung cư cũ tại các đô thị lớn như thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh còn vướng mắc về không gian, năng lực lưới điện cục bộ và thủ tục cấp phép phòng cháy chữa cháy.

Cùng với đó, quá trình giám sát các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm tại một số địa phương còn thiếu nguồn lực; việc thực thi chế tài xử lý đôi lúc chưa đủ sức răn đe. Cơ chế tài chính, tín dụng xanh hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ, mua sắm thiết bị hiệu suất cao dù đã có nhưng thủ tục tiếp cận còn phức tạp.

Nhằm bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia trong bối cảnh mới và thúc đẩy lộ trình chuyển đổi xanh, việc triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp chiến lược trở thành yêu cầu cấp thiết.

Thứ nhất, cần rà soát, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành Luật và các văn bản hướng dẫn, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu tại các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm - nơi chiếm tỷ trọng tiêu thụ điện lớn nhưng việc chấp hành kiểm toán, quản lý năng lượng bắt buộc vẫn chưa đồng đều.

Thứ hai, bài toán nguồn vốn luôn là nút thắt lớn khiến nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, băn khoăn trước quyết định đầu tư điện mặt trời mái nhà hay hệ thống lưu trữ năng lượng. Cần sớm xây dựng gói tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi, thủ tục thẩm định rút gọn, đồng thời, tạo cơ chế thuận lợi để thị trường dịch vụ năng lượng (ESCO) phát triển - giúp doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ mà không phải đối mặt với gánh nặng đến từ nguồn vốn hạn hẹp.

Thứ ba, việc dán nhãn năng lượng đang được mở rộng sang vật liệu xây dựng và hàng hóa trên các sàn thương mại điện tử, nhưng công tác kiểm tra, xử lý sản phẩm không đạt chuẩn vẫn chưa theo kịp. Do đó, cần tăng cường hậu kiểm, đồng thời phối hợp với các sàn thương mại điện tử để rà soát, gỡ bỏ sản phẩm chưa dán nhãn hoặc dán nhãn sai quy định, bảo đảm quy định mới thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn.

Thứ tư, tiếp tục phát huy vai trò của báo chí, truyền thông trong việc phản ánh kịp thời những mô hình, cách làm hiệu quả, đồng thời cung cấp thông tin, số liệu được kiểm chứng khách quan để lan tỏa văn hóa tiết kiệm năng lượng sâu rộng trong cộng đồng.

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một quá trình dài hạn, đòi hỏi sự kiên bỉ, nỗ lực của toàn hệ thống chính trị. Các chủ trương, định hướng như Chỉ thị số 09, Chỉ thị số 10 và Công điện số 27 đã định hình một lộ trình rõ ràng, bài bản cho công cuộc chuyển đổi này. Với sự quyết tâm cao độ, ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại và văn hóa tiết kiệm được lan tỏa sâu rộng, Việt Nam hoàn toàn có thể vững bước tự chủ năng lượng, xây dựng thành công một nền kinh tế xanh, tuần hoàn và phát triển bền vững cho thế hệ tương lai.

Lê Phương Anh

[1] Nam Anh (2026), Nhu cầu năng lượng và mục tiêu tăng trưởng 2 con số, https://daidoanket.vn/nhu-cau-nang-luong-va-muc-tieu-tang-truong-2-con-so.html, truy cập ngày 25/8/2026.

[2] Ngô Khiêm (2025), Kỳ 3: Tiết kiệm năng lượng chính là nguồn năng lượng sạch nhất, https://laodongdoanthe.vn/ky-3-tiet-kiem-nang-luong-chinh-la-nguon-nang-luong-sach-nhat-113080.html, truy cập ngày 27/8/2026.

[3] Luật số 77/2025/QH15 ngày 18/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

[4] Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 19/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng, phát triển phương tiện giao thông điện.

[5] Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực thi tiết kiệm điện, quản lý nhu cầu điện, giảm phụ tải đỉnh và phát triển điện mặt trời mái nhà.

[6] Mai Liễu (2026), Chỉ thị 10/CT-TTg: ‘Cú híc’ thúc đẩy điện mặt trời mái nhà phát triển, https://congthuong.vn/chi-thi-10-ct-ttg-cu-hich-thuc-day-dien-mat-troi-mai-nha-phat-trien-450080.html, truy cập ngày 27/8/2026.

[7] Công điện số 27/CĐ-TTg ngày 31/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển hạ tầng trạm sạc, trạm đổi pin cho xe điện tại các khu đô thị, khu dân cư và nhà chung cư, bảo đảm đồng bộ, an toàn, thuận tiện cho người dân và doanh nghiệp.

[8] Hồ Nga (2026), “Kết nối mạng lưới tiết kiệm năng lượng: Thúc đẩy chuyển đổi số và AI trong quản trị năng lượng doanh nghiệp”, https://tapchicongthuong.vn/ket-noi-mang-luoi-tiet-kiem-nang-luong--thuc-day-chuyen-doi-so-va-ai-trong-quan-tri-nang-luong-doanh-nghiep-528781.htm, truy cập ngày 27/8/2026.

[9] Uyên Uyên (2024), Đến năm 2030, dự kiến tiêu thụ 350.000 xe ô tô năng lượng sạch, https://thanhtra.com.vn/kinh-te/thi-truong/den-nam-2030-du-kien-tieu-thu-350-000-xe-o-to-nang-luong-sach-232012.html, truy cập ngày 28/8/2026.

[10] Lâm Hiếu (2026), Vì sao EVNHANOI khuyến nghị sử dụng điều hòa từ 26 độ C?, https://congthuong.vn/vi-sao-evnhanoi-khuyen-nghi-su-dung-dieu-hoa-tu-26-do-c-464410.html, truy cập ngày 28/8/2026.

[11] Minh Khuê, Mô hình tòa nhà xanh giúp doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng, https://www.evn.com.vn/d/vi-VN/news/Mo-hinh-toa-nha-xanh-giup-doanh-nghiep-tiet-kiem-nang-luong-60-653-507318, truy cập ngày 25/8/2026.

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.

Theo dõi chúng tôi trên: