Thứ ba 08/09/2026 18:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

Tham nhũng là biểu hiện của sự tha hóa quyền lực, khi quyền lực công bị lợi ích nhóm chi phối, phản bội sứ mệnh công bộc và nguyên lý của Nhà nước pháp quyền. Suốt 80 năm qua, từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến đường lối của Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực luôn là nhiệm vụ trọng yếu. Ba thập kỷ gần đây, pháp luật về lĩnh vực này đã chuyển từ bị động sang chủ động, từ “chống là chính” sang “phòng là gốc”, mở rộng từ khu vực công sang khu vực ngoài Nhà nước. Pháp luật ngày càng trở thành công cụ sắc bén, thể hiện bản lĩnh chính trị và tư duy pháp lý tiến bộ của Đảng, Nhà nước vì một nền công vụ liêm chính và phát triển bền vững.

Bài 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh và văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Ngay từ thời kỳ đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề “chống giặc nội xâm”, coi tham ô, lãng phí, quan liêu là những “kẻ thù nguy hiểm”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, chí công vô tư, cần - kiệm - liêm - chính là kim chỉ nam cho cán bộ, đảng viên. Dù chưa có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, nhưng tinh thần “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”[1], xây dựng Đảng trong sạch đã trở thành phương châm hành động của hệ thống chính trị.

Từ những ngày đầu giành được độc lập, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” (tỉnh Nghệ An, ngày 17/9/1945), Bác viết: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tụy”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư”[2].

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Người thăm lại ngôi nhà quê nội ở làng Sen, xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An (12-1961). Nguồn: Ảnh tư liệu

Sau Đổi mới, trong bối cảnh đất nước bước đầu chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nguy cơ tham nhũng, tiêu cực gia tăng. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) lần đầu tiên đặt ra yêu cầu xây dựng pháp luật về chống tham nhũng. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) nhấn mạnh “đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, nhất là tham nhũng, lãng phí” là nhiệm vụ cấp bách. Đảng tiếp tục cụ thể hóa chủ trương phòng chống tham nhũng qua nhiều văn kiện, tiêu biểu như: Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 21/8/2006 của Hội nghị Trung ương 3 khóa X (năm 2006) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đặc biệt, Quyết định số 162-QĐ/TW ngày 01/02/2013 của Bộ Chính trị.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016), nhận thức toàn diện, hành động quyết liệt về phòng chống tham nhũng đã chuyển biến căn bản: Tham nhũng, tiêu cực được nhìn nhận là nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII với chủ trương mạnh mẽ “ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”; coi tự diễn biến, tự chuyển hóa, lợi ích nhóm là căn nguyên gốc rễ của tham nhũng[3].

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng[4] xác định Cần triển khai đồng bộ, hiệu quả các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng, nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng và thực hiện nghiêm minh, quyết liệt cuộc đấu tranh này. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh yêu cầu phòng ngừa là trọng tâm, thông qua việc xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, răn đe tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cùng với kiểm soát chặt chẽ việc kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, nhất là người có chức vụ, quyền hạn. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng đề ra chủ trương phát huy vai trò giám sát xã hội, huy động sức mạnh tổng hợp của báo chí, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và Nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Hành trình thể chế hóa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Sự ra đời của Sắc lệnh số 64-SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt. Sắc lệnh gồm 08 điều, nêu rõ Chính phủ sẽ lập ngay Ban Thanh tra đặc biệt, có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ; sẽ thiết lập ngay tại Hà Nội một Tòa án đặc biệt để xử những nhân viên của các Ủy ban nhân dân hay các cơ quan của Chính phủ do Ban thanh tra truy tố. Toà án đặc biệt có toàn quyền định ấn, có thể tuyên án tử hình[5].

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra Đặc biệt - là văn kiện mang tính pháp lý về công tác thanh tra cũng như xây dựng hệ thống pháp luật về ngành Thanh tra Việt Nam (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Mặc dù không được quy định trực tiếp như các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, về quyền con người, quyền công dân, nhưng phòng, chống tham nhũng luôn được xác định là một nhiệm vụ quan trọng, gắn với quá trình thực hiện các nhiệm vụ chính trị khác nhau. Ngay từ những năm 1960, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý thể hiện rõ quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực như: Quyết định số 207/CP ngày 06/12/1962 của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Trung ương cuộc vận động “Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế, tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”; Chỉ thị số 84-TTg/3X ngày 09/9/1964 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổng hợp tình hình tham ô, lãng phí, quan liêu.

Đặc biệt, Pháp lệnh số 149-LCT ngày 21/10/1970 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, đã đặt nền tảng pháp lý cho việc xử lý các hành vi tham nhũng. Trong đó, Điều 8 quy định cụ thể về tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa. Ngày 20/5/1981, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ gồm 13 điều, trong đó quy định rõ tội hối lộ bao gồm: Nhận hối lộ, đưa hối lộ và môi giới hối lộ với mức phạt tù khá cao. Pháp lệnh nêu “Để góp phần bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách và pháp luật, tăng cường quản lý Nhà nước; khuyến khích cán bộ, nhân viên nêu cao đức tính liêm khiết; động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ tập thể, tích cực đấu tranh chống tệ hối lộ”.

Ngay từ giai đoạn đầu sau Đổi mới, các văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng được ban hành thể hiện chủ trương phòng, chống tham nhũng với buôn lậu, lãng phí, thất thoát trong xây dựng cơ bản[6]. Ngày 26/02/1998, Pháp lệnh Chống tham nhũng được ban hành là văn bản pháp lý chuyên biệt đầu tiên về phòng, chống tham nhũng, trong đó quy định một số nội dung như: Định nghĩa về hành vi tham nhũng, người có chức vụ quyền hạn, các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng; quy định về những việc mà người có chức vụ, quyền hạn không được làm hoặc phải làm; nghiêm cấm việc tự đặt ra các thủ tục, phí, lệ phí ngoài quy định của pháp luật; trách nhệm nêu gương của người đứng đầu;... Sự ra đời của Pháp lệnh phòng chống tham nhũng năm 1998 đã đánh dấu bước khởi đầu của tư duy lập pháp phòng ngừa và xử lý tham nhũng một cách hệ thống. Song song với đó, các quy định trong Luật Cán bộ, công chức năm 1998, Bộ luật Hình sự năm 1999,… đã bước đầu hình thành những chuẩn mực hành vi, nghĩa vụ liêm chính, trách nhiệm giải trình của đội ngũ công chức.

Một bước ngoặt quan trọng được thiết lập với sự ra đời của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005[7] (được sửa đổi, bổ sung các năm 2007, 2012). Đây là văn bản đánh dấu giai đoạn xây dựng khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, thể chế hóa tương đối toàn diện các nhóm giải pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng. Luật đã đặt nền tảng pháp lý cho cơ chế kê khai tài sản, minh bạch trong hoạt động công vụ, đề cao vai trò của người đứng đầu, của báo chí và Nhân dân trong giám sát phòng, chống tham nhũng. Cùng với đó, các luật liên quan như Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005 (sửa đổi năm 2013), Luật Tố cáo năm 2011, Luật Khiếu nại năm 2011 và các quy định hình sự, hành chính khác đã góp phần tạo dựng một hệ thống pháp luật thống nhất và tương đối toàn diện liên quan đến phòng, chống tham nhũng.

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 được Quốc hội khóa XI thông qua. Nguồn: Ảnh tư liệu

Tư duy pháp luật về phòng, chống tham nhũng tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ. Quốc hội khóa XIV thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, thể hiện bước phát triển đột phá cả về phạm vi, nội dung và phương pháp tiếp cận. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 mở rộng phạm vi điều chỉnh sang khu vực ngoài Nhà nước, khẳng định nguyên tắc xử lý “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập được cụ thể hóa với các quy định chặt chẽ hơn, đồng thời tăng cường trách nhiệm, tính minh bạch trong quản lý, điều hành.

Nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn, quy tắc ứng xử, bộ quy tắc đạo đức công vụ, quy trình kiểm tra, giám sát nội bộ trong Đảng và quy định về kê khai tài sản, chuyển đổi vị trí công tác… được ban hành, tạo khung pháp lý vững chắc, như: Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị… đã bảo đảm việc triển khai hiệu quả Luật trong thực tiễn.

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Thanh tra Chính phủ tổ chức Hội nghị tổng kết công tác đánh giá thực thi Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng (UNCAC) (Nguồn: Ảnh tư liệu)

Bên cạnh công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật, Việt Nam chủ động gia nhập và thực thi Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC)[8]. Với cấp độ ngành, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ký 17 thỏa thuận hợp tác, hàng năm triển khai các hoạt động hợp tác song phương với Viện kiểm sát, Viện Công tố, Cơ quan thực thi pháp luật của các quốc gia có nền công tố mạnh, có hệ thống Tư pháp phát triển như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a; Hung-ga-ri, Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Đức; Kiểm toán Nhà nước Việt Nam đã thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác song phương với hàng chục các cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới và tổ chức quốc tế tại Việt Nam[9].

Văn hóa phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

TS Hoàng Thị Lan

Ths. Nguyễn Hoàng Trung

Ths. Vũ Thị Như Quỳnh

Bài 1: Văn hóa phòng, chống tham nhũng trong lịch sử dân tộc

Bài cuối: Văn hóa và pháp luật phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bối cảnh mới

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

2. Sắc lệnh số 64-SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, 2021, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. PGS.TS. Nguyễn Văn Thế & ThS. Nguyễn Huy Đại, Tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” với việc phòng, chống nguy cơ suy thoái về đạo đức của Đảng ta hiện nay, https://ubkttw.vn/danh-muc/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-dao-duc-phong-cach-ho-chi-minh/tac-pham-nang-cao-dao-duc-cach-mang.-quet-sach-chu-nghia-ca-nhan-voi-viec-phong-chong-nguy-co-suy-thoai-ve-dao-duc-cua-d.html.

5. Sở Tư pháp thành phố Huế, Pháp luật phòng, chống tham nhũng của nước ta từ 1945 đến nay, stp.hue.gov.vn/?gd=12&cn=82&tc=6698.

6. Lê Minh Khái, Việt Nam thực thi Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng - Kết quả và những vấn đề đặt ra, https://www.tapchicongsan.org.vn/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/820447/viet-nam-thuc-thi-cong-uoc-cua-lien-hop-quoc-ve-chong-tham-nhung---ket-qua-va-nhung-van-de-dat-ra.aspx.

7. Đào Trung Kiên, Hợp tác quốc tế của Việt Nam trong phòng, chống tham nhũng – Thành công và những vấn đề đặt ra, https://phaply.net.vn/hop-tac-quoc-te-cua-viet-nam-trong-phong-chong-tham-nhung-thanh-cong-va-nhung-van-de-dat-ra-a259252.html.


  1. Bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh T.L đăng trên trang nhất Báo Nhân Dân vào ngày 03/2/1969 nhân kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng, https://ubkttw.vn/danh-muc/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-dao-duc-phong-cach-ho-chi-minh/tac-pham-nang-cao-dao-duc-cach-mang.-quet-sach-chu-nghia-ca-nhan-voi-viec-phong-chong-nguy-co-suy-thoai-ve-dao-duc-cua-d.html, truy cập ngày 05/7/2025.

  2. Bài viết: Pháp luật phòng, chống tham nhũng của nước ta từ 1945 đến nay, stp.hue.gov.vn/?gd=12&cn=82&tc=6698, truy cập ngày 05/7/2025.

  3. Nghị quyết số 04-NQ/TW, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xii/nghi-quyet-so-04nq-tw-ngay-30102016-hoi-nghi-lan-thu-tu-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-ve-tang-cuong-xay-dung-chinh-550, truy cập ngày 05/7/2025.

  4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, 2021, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

  5. Sắc lệnh số 64-SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt.

  6. Có thể kể đến các văn bản: Quyết định số 240/HĐBT ngày 26/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về đấu tranh chống tham nhũng; Chỉ thị số 416/CT ngày 03/12/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tăng cường công tác thanh tra, xử lý các việc tham nhũng, buôn lậu; Công văn số 08/CT-TATC ngày 06/12/1990 của Tòa án nhân dân tối cao về đường lối xử lý một số tội phạm phục vụ Chỉ thị 416/CT ngày 3/12/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tăng cường công tác thanh tra, xử lý các việc tham nhũng, buôn lậu; Chỉ thị số 171/TTg ngày 16/12/1992 của Thủ tướng Chính phủ về việc chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát trong xây dựng cơ bản; Quyết định số 114/TTg ngày 21/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn tham nhũng, buôn lậu.

  7. Luật có 8 chương, 92 điều

  8. Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng gồm 08 chương, 71 điều quy định về các biện pháp mang tính phòng ngừa và xử phạt, hợp tác quốc tế và thu hồi tài sản tham nhũng nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý toàn diện thúc đẩy công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở tất cả các quốc gia thành viên. Tính đến ngày 06/02/2020, Công ước đã có 187 thành viên, trong đó có 181 quốc gia là thành viên của Liên Hợp Quốc (trên tổng số 193 quốc gia). Việt Nam tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng kể từ ngày 19/8/2009 (Lê Minh Khái, Việt Nam thực thi Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng - Kết quả và những vấn đề đặt ra, https://www.tapchicongsan.org.vn/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/820447/viet-nam-thuc-thi-cong-uoc-cua-lien-hop-quoc-ve-chong-tham-nhung---ket-qua-va-nhung-van-de-dat-ra.aspx, truy cập ngày 05/7/2025).

  9. Đào Trung Kiên, Hợp tác quốc tế của Việt Nam trong phòng, chống tham nhũng – Thành công và những vấn đề đặt ra, https://phaply.net.vn/hop-tac-quoc-te-cua-viet-nam-trong-phong-chong-tham-nhung-thanh-cong-va-nhung-van-de-dat-ra-a259252.html, truy cập ngày 05/7/2025.

TỪ KHOÁ:

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: