Chủ nhật 06/09/2026 23:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình
Mỗi câu chuyện về Việt Nam được kể với thế giới đều là dấu ấn của con người Việt Nam

Từ nghị quyết đến hành động: Lấy con người làm chủ thể khơi dậy sức mạnh văn hóa

Trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, có những thời điểm đòi hỏi sự lựa chọn mang tính chiến lược: Đâu là nền tảng để đất nước phát triển nhanh, bền vững, hội nhập sâu rộng mà không đánh mất bản sắc; hiện đại hóa mạnh mẽ nhưng vẫn giữ được những giá trị làm nên căn cốt dân tộc. Với Việt Nam, câu trả lời ngày càng được khẳng định rõ nét: Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà phải trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm của quốc gia.

Văn hóa không phải là những giá trị bất biến nằm ngoài đời sống. Văn hóa được tạo nên từ con người và được tiếp nối qua mỗi thế hệ. Mỗi giá trị chỉ có thể được gìn giữ khi có người nâng niu; được làm “giàu” khi có người sáng tạo và trở thành sức mạnh khi được cộng đồng tiếp nhận, lan tỏa. Bởi vậy, muốn phát triển văn hóa trước hết phải bắt đầu từ con người. Đây cũng là bước tiến quan trọng trong các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, khi đặt con người vào vị trí chủ thể trực tiếp tham gia tạo dựng đời sống văn hóa và làm cho văn hóa trở thành nguồn lực phát triển của đất nước.

Nhận thức đó được thể hiện rõ ở tầm chiến lược trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, với định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”. Việc đặt chuẩn mực con người Việt Nam cùng với hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị gia đình cho thấy phát triển văn hóa không thể tách rời quá trình xây dựng con người. Đó không chỉ là xây dựng một hệ thống giá trị để bảo tồn bản sắc, mà còn là quá trình hình thành những con người có nhân cách, bản lĩnh, trách nhiệm, năng lực sáng tạo và khát vọng cống hiến.

Tinh thần này tiếp tục được cụ thể hóa mạnh mẽ tại Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết số 80-NQ/TW). Trong đó xác định: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Đặc biệt, Nghị quyết xác định rõ: “Phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng”; đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hóa, doanh nhân có vai trò quan trọng trong sự nghiệp này. Đây là một điểm nhấn có ý nghĩa đặc biệt, bởi, quan điểm về con người trong phát triển văn hóa được xác định rõ hơn, họ không chỉ tạo ra, gìn giữ và phát triển các giá trị văn hóa mà còn trực tiếp thụ hưởng những thành quả của đời sống văn hóa.

Đáng chú ý, Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/04/2026) tiếp tục tạo dấu mốc quan trọng trong quá trình thể chế hóa các chủ trương lớn về văn hóa. Nếu các nghị quyết của Đảng xác lập tầm nhìn, quan điểm và những định hướng chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa và con người Việt Nam, thì việc Quốc hội ban hành nghị quyết với những cơ chế, chính sách và nguồn lực cụ thể đã góp phần đưa các định hướng đó tiến gần hơn với đời sống thực tiễn. Phát triển văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành Văn hóa, mà còn là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội. Khi văn hóa được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng con người và củng cố sức mạnh quốc gia, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng ở việc bảo tồn, gìn giữ các giá trị truyền thống, mà còn phải tạo điều kiện để những giá trị ấy được phát huy, lan tỏa và chuyển hóa thành nguồn lực phục vụ phát triển.

Trên cơ sở định hướng đó, ngày 13/4/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Chương trình hành động số 1959/CTr-BVHTTDL về thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và các Nghị quyết của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết trên (Chương trình hành động số 1959/CTr-BVHTTDL), có thể được nhìn nhận như một bước cụ thể hóa quan trọng, góp phần nối dài mạch tư duy từ chủ trương đến hành động thông qua việc chuyển những định hướng đó thành hệ thống trách nhiệm cụ thể, nguồn lực, tiến độ và các điều kiện để thực hiện. Đây chính là bước chuyển có ý nghĩa quyết định, bởi, một chủ trương chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được tổ chức thực hiện bằng những công việc cụ thể, gắn với trách nhiệm rõ ràng và kết quả có thể kiểm chứng.

Đặc biệt, theo Chương trình hành động số 1959/CTr-BVHTTDL, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực văn hóa được xác định là nhiệm vụ then chốt, hướng tới xây dựng đội ngũ cán bộ, nghệ sĩ, trí thức văn hóa có trình độ chuyên môn cao, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiếp tục được quan tâm, gắn với nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy vai trò của cộng đồng. Chương trình cũng đề ra yêu cầu tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển văn hóa; đồng thời hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động sáng tạo, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa[1].

Từ Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết 28/2026/QH16 của Quốc hội đến Chương trình hành động 1959/CTr-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho thấy một định hướng nhất quán: Muốn văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển, điều quan trọng không chỉ nằm ở việc bảo tồn hay phát huy các giá trị đã có, mà còn ở khả năng tạo dựng một môi trường để những giá trị ấy không ngừng được “làm mới” và lan tỏa trong đời sống. Khi những “mạch nguồn” văn hóa được khơi thông và vận hành trong một hệ sinh thái thuận lợi, văn hóa sẽ không chỉ hiện diện như một giá trị tinh thần mà còn tạo ra những giá trị mới, đóng góp thiết thực vào sức cạnh tranh và sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đầu tư cho văn hóa trước hết là đầu tư cho con người

Trong mọi chiến lược phát triển, nguồn lực vật chất có thể tạo dựng cơ sở hạ tầng, thiết chế và những điều kiện cần thiết, nhưng chính con người mới quyết định những nguồn lực ấy được sử dụng như thế nào và có thể tạo ra giá trị đến đâu. Với văn hóa, điều này càng rõ nét. Một nhà hát hiện đại không tự tạo ra những tác phẩm có sức sống; một bảo tàng được đầu tư khang trang không tự kể được câu chuyện hấp dẫn về lịch sử; một di sản dù quý giá đến đâu cũng khó có thể tự mình tồn tại trong đời sống đương đại nếu thiếu những con người đủ năng lực gìn giữ, sáng tạo và trao truyền. Bởi vậy, khi đặt vấn đề đầu tư cho văn hóa, điều cốt lõi không chỉ là đầu tư vào cơ sở vật chất hay các thiết chế, mà trước hết phải là đầu tư cho con người.

Tinh thần này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị thông qua việc đặt xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện ở vị trí trọng tâm, định hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào mục tiêu phát triển con người về đức, trí, thể, mỹ; đồng thời nhấn mạnh việc phát huy trí tuệ, đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến. Đây là một cách tiếp cận có ý nghĩa sâu sắc. Bởi xét đến cùng, văn hóa do con người sáng tạo ra, được con người gìn giữ và cũng trở lại bồi đắp con người. Mối quan hệ ấy tạo thành một vòng tròn liên tục: Văn hóa tốt đẹp tạo nên những con người có nhân cách, tri thức và khát vọng; những con người ấy lại tiếp tục sáng tạo, bảo tồn và làm giàu cho văn hóa. Vì vậy, đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư vào quá trình hình thành phẩm chất, năng lực và sức sáng tạo của con người Việt Nam.

Phát triển trụ cột văn hóa, khơi dậy sức mạnh nội sinh đưa Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới
Đầu tư cho con người văn hóa trước hết phải bắt đầu từ đào tạo, phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài

Nếu coi di sản, nghệ thuật, lễ hội, làng nghề, các ngành công nghiệp văn hóa hay những giá trị truyền thống là “tài sản” của quốc gia, thì con người chính là lực lượng làm cho những tài sản ấy sống động. Không có nghệ nhân, những kỹ thuật thủ công truyền thống có nguy cơ mai một. Không có nghệ sĩ, những giá trị văn hóa không thể được tái sáng tạo thành các tác phẩm mới. Không có nhà nghiên cứu, nhiều giá trị lịch sử và di sản khó được nhận diện, giải mã và trao truyền một cách đầy đủ. Không có đội ngũ quản lý, doanh nghiệp và những người làm công nghiệp sáng tạo, những giá trị ấy khó được tổ chức thành các sản phẩm có khả năng tiếp cận công chúng rộng rãi.

Tuy nhiên, Nghị quyết 80-NQ/TW đã chỉ ra rằng, nguồn nhân lực văn hóa còn nhiều bất cập, cơ chế, chính sách chưa phát huy đầy đủ sức sáng tạo của các chủ thể, đặc biệt là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Đây là một trong những điểm nghẽn cần được giải quyết nếu muốn biến tiềm năng văn hóa thành nguồn lực phát triển. Do đó, đầu tư cho con người văn hóa trước hết phải bắt đầu từ đào tạo, phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài. Một nền văn hóa muốn phát triển không thể chỉ dựa vào những gì đã có. Văn hóa cần những người trẻ có khả năng tiếp nhận truyền thống nhưng đồng thời đủ năng lực sáng tạo những hình thức biểu đạt mới; cần những nhà nghiên cứu có tư duy liên ngành; cần nghệ sĩ có tài năng và bản lĩnh; cần những nhà quản lý hiểu văn hóa nhưng cũng am hiểu kinh tế, công nghệ và thị trường; cần những doanh nghiệp có khả năng biến ý tưởng sáng tạo thành sản phẩm. Đây cũng là lý do Nghị quyết 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh những chính sách liên quan đến phát hiện, ươm mầm tài năng, thu hút và trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đồng thời tăng cường đầu tư khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo không gian mới cho văn hóa phát triển.

Trong kỷ nguyên số, yêu cầu đối với con người làm văn hóa còn cao hơn trước. Công nghệ đang làm thay đổi cách sáng tạo, sản xuất, phổ biến và thụ hưởng các sản phẩm văn hóa. Một tác phẩm có thể vượt qua biên giới chỉ trong vài phút; một di sản có thể được số hóa và tiếp cận bởi hàng triệu người; một chất liệu văn hóa truyền thống có thể trở thành nguồn cảm hứng cho điện ảnh, âm nhạc, thời trang, trò chơi điện tử hay các sản phẩm truyền thông số. Nhưng công nghệ không tự tạo ra giá trị văn hóa. Máy móc có thể hỗ trợ sáng tạo, nhưng chiều sâu văn hóa vẫn phụ thuộc vào con người. Vì thế, đầu tư cho chuyển đổi số văn hóa phải song hành với đầu tư cho năng lực số của đội ngũ làm văn hóa. Người cán bộ bảo tồn cần hiểu công nghệ; nghệ sĩ cần có khả năng tiếp cận phương thức sáng tạo mới; doanh nghiệp văn hóa cần hiểu thị trường số; thế hệ trẻ cần được trang bị cả tri thức văn hóa và kỹ năng công nghệ.

Theo Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Thị Phương Châm, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ mới, cần ưu tiên tối đa nguồn lực để xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng tốt nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển đất nước thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, kiên định lập trường chính trị, tư tưởng, có trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo tốt, có trách nhiệm, tuân thủ pháp luật, có lòng yêu nước, tự hào dân tộc, có tính nhân văn, lối sống văn hóa, khoan dung[2].

Nhìn từ góc độ ấy, đầu tư cho con người cũng chính là đầu tư cho văn hóa. Đó không chỉ là đầu tư vào đội ngũ nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, nghệ nhân hay những người hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực văn hóa, mà còn là tạo dựng một thế hệ công chúng có năng lực tiếp nhận, đánh giá và tham gia sáng tạo văn hóa. Khi mỗi người vừa có cơ hội tiếp cận các giá trị văn hóa, vừa có khả năng đóng góp vào quá trình tạo dựng những giá trị mới, đời sống văn hóa sẽ trở nên phong phú và năng động hơn.

Phát huy sức mạnh con người Việt Nam, đưa văn hóa vươn ra thế giới

Trong hành trình hội nhập quốc tế, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng tiềm lực kinh tế, quốc phòng hay vị thế địa chính trị, mà còn được tạo nên từ khả năng lan tỏa những giá trị, tạo dựng niềm tin và sức hấp dẫn đối với cộng đồng quốc tế. Đối với Việt Nam, văn hóa chính là một nguồn lực đặc biệt để gia tăng sức mạnh mềm quốc gia. Tuy nhiên, văn hóa không thể tự mình lan tỏa nếu thiếu con người. Đằng sau mỗi giá trị văn hóa được gìn giữ, mỗi sản phẩm sáng tạo được tạo ra và mỗi câu chuyện về Việt Nam được kể với thế giới đều là dấu ấn của con người Việt Nam. Vì thế, muốn đưa văn hóa vươn xa, trước hết phải khơi dậy và phát huy sức mạnh từ chính những con người đang làm nên nền văn hóa ấy.

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt vấn đề phát triển văn hóa, con người trong một tầm nhìn mới, xác định đây là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đặc biệt, yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại cho thấy bước chuyển rõ nét trong tư duy phát triển văn hóa. Theo đó, văn hóa không chỉ dừng lại ở việc gìn giữ những giá trị đã được trao truyền, mà còn phải được tiếp tục bồi đắp, sáng tạo và lan tỏa, để những giá trị mang bản sắc Việt Nam có thể bước vào đời sống đương đại, đối thoại bình đẳng và tạo sức hấp dẫn trong không gian văn hóa toàn cầu.

Muốn vậy, con người phải thực sự trở thành trung tâm của quá trình phát triển văn hóa. Bởi mọi giá trị văn hóa đều bắt nguồn từ con người và chỉ có thể được trao truyền, sáng tạo, phát triển thông qua con người. Một di sản dù quý giá đến đâu cũng khó có thể sống mãi nếu không có những thế hệ tiếp nối biết trân trọng, hiểu đúng và sáng tạo trên nền tảng di sản ấy. Một sản phẩm văn hóa dù giàu bản sắc cũng khó bước ra thế giới nếu thiếu những con người có tư duy hiện đại, năng lực sáng tạo, khả năng làm chủ công nghệ và hiểu biết về thị trường quốc tế.

Do đó, phát huy sức mạnh con người Việt Nam trong phát triển văn hóa trước hết là tạo dựng một thế hệ có bản lĩnh văn hóa vững vàng, có tri thức, năng lực sáng tạo, tinh thần tự tin và khát vọng cống hiến. Đó không chỉ là đội ngũ văn nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, nghệ nhân hay những người làm công tác văn hóa, mà còn là các nhà thiết kế, nhà làm phim, nhạc sĩ, họa sĩ, kiến trúc sư, doanh nhân, người sáng tạo nội dung số và những người trẻ đang khởi nghiệp trong các lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Rộng hơn, đó là mỗi người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Mỗi người, bằng cách riêng của mình, đều có thể trở thành một chủ thể sáng tạo và lan tỏa văn hóa Việt Nam.

Trong bối cảnh công nghệ đang làm thay đổi mạnh mẽ phương thức con người giao tiếp và tiếp nhận văn hóa, cơ hội để những giá trị Việt Nam đến gần hơn với thế giới chưa bao giờ rộng mở như hiện nay. Một bộ phim, một ca khúc, một thiết kế thời trang, một món ăn, một sản phẩm thủ công hay một câu chuyện về đời sống Việt Nam đều có thể trở thành điểm chạm giúp công chúng quốc tế hiểu hơn về đất nước và con người Việt Nam. Nhưng để những “điểm chạm” ấy tạo thành sức lan tỏa, chúng ta không thể chỉ giới thiệu những gì mình có. Quan trọng hơn là phải biết kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ của thời đại, bằng những sản phẩm có chất lượng và bằng cách thức phù hợp với thị hiếu, nhu cầu của công chúng toàn cầu.

Đây cũng là lúc cần chuyển mạnh từ tư duy “đưa văn hóa đi quảng bá” sang tư duy “sáng tạo giá trị văn hóa”. Trong điều kiện kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa ngày càng phát triển, văn hóa không chỉ mang giá trị tinh thần mà còn có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, hình thành thương hiệu và mở rộng thị trường. Những câu chuyện dân gian, chất liệu truyền thống, di sản lịch sử, nghệ thuật dân tộc hay tinh hoa ẩm thực hoàn toàn có thể trở thành nguồn cảm hứng cho điện ảnh, thời trang, âm nhạc, thiết kế, trò chơi điện tử, du lịch và nhiều sản phẩm sáng tạo khác. Khi ấy, văn hóa không chỉ được bảo tồn trong không gian truyền thống mà được tiếp tục sống trong những hình thức mới, phù hợp với đời sống đương đại.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt mục tiêu đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, phát triển các sản phẩm, dịch vụ có sức cạnh tranh toàn cầu, đồng thời xây dựng thương hiệu quốc gia mang đậm bản sắc văn hóa, con người Việt Nam. Những định hướng này mở ra không gian rộng lớn để sức sáng tạo của người Việt được phát huy. Điều quan trọng là phải tạo được môi trường để người có năng lực được sáng tạo, được thử nghiệm và có cơ hội đưa sản phẩm của mình tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế. Khi người sáng tạo được trao cơ hội, văn hóa sẽ có thêm những cách thức mới để hiện diện và lan tỏa.

Tuy nhiên, hội nhập văn hóa cũng đặt ra một yêu cầu không kém phần quan trọng: Làm thế nào để mở cửa với thế giới nhưng không đánh mất bản sắc? Đây là bài toán chỉ có thể giải quyết bằng một bản lĩnh văn hóa đủ vững vàng. Hội nhập không đồng nghĩa với hòa tan, cũng không có nghĩa là đóng khung văn hóa trong những giá trị bất biến. Một nền văn hóa có sức sống phải vừa biết gìn giữ cội nguồn, vừa có khả năng tiếp nhận những giá trị tiến bộ của nhân loại để làm giàu cho chính mình. Bản sắc vì thế không phải là chiếc khuôn đóng kín, mà là nền tảng để sáng tạo và bước ra thế giới.

Trong quá trình đó, không gian số đang trở thành một “cánh cửa” đặc biệt để văn hóa Việt Nam bước ra thế giới. Công nghệ giúp rút ngắn khoảng cách địa lý, mở rộng khả năng tiếp cận công chúng và tạo ra những phương thức biểu đạt hoàn toàn mới. Di sản có thể được số hóa; bảo tàng có thể mở rộng không gian trưng bày trên môi trường số; nghệ thuật truyền thống có thể tiếp cận thế hệ trẻ thông qua các nền tảng mới; lịch sử và văn hóa có thể được kể lại bằng điện ảnh, hoạt hình, trò chơi điện tử hay công nghệ thực tế ảo. Nhưng để tận dụng được cơ hội ấy, con người phải có năng lực làm chủ công nghệ, ngoại ngữ, truyền thông, bản quyền và tư duy sáng tạo. Đây chính là những năng lực mới cần được chú trọng trong quá trình phát triển nguồn nhân lực văn hóa.

Phát triển trụ cột văn hóa, khơi dậy sức mạnh nội sinh đưa Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới
Mọi giá trị văn hóa đều bắt nguồn từ con người và chỉ có thể được trao truyền, sáng tạo, phát triển thông qua con người

Đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới vì thế không phải là công việc riêng của ngành văn hóa. Đó là một quá trình cần sự phối hợp giữa văn hóa với giáo dục, khoa học công nghệ, ngoại giao, du lịch, thương mại và truyền thông; giữa Nhà nước với doanh nghiệp, đội ngũ sáng tạo và cộng đồng. Nhà nước kiến tạo môi trường, chính sách và nguồn lực; doanh nghiệp tạo ra sản phẩm, thị trường và sức cạnh tranh; đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, người sáng tạo làm nên những giá trị mới; cộng đồng góp phần gìn giữ và lan tỏa những giá trị ấy trong đời sống. Khi các nguồn lực cùng được khơi thông, văn hóa sẽ không còn đứng bên ngoài quá trình phát triển mà trở thành một bộ phận quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Một quốc gia có sức mạnh mềm không chỉ là quốc gia được thế giới biết đến, mà còn là quốc gia được hiểu đúng, tin cậy và yêu mến. Để Việt Nam từng bước xây dựng vị thế ấy, điều cần thiết không chỉ là quảng bá nhiều hơn, mà phải tạo ra nhiều hơn những giá trị đủ sức hấp dẫn để thế giới tự tìm đến. Và muốn tạo ra những giá trị ấy, không thể thiếu những con người có năng lực, bản lĩnh, sáng tạo và khát vọng.

Từ những giá trị được vun đắp qua hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đang có một nền tảng văn hóa giàu bản sắc để bước vào kỷ nguyên hội nhập sâu rộng và chuyển đổi số. Nhưng di sản chỉ thực sự trở thành sức mạnh khi được trao vào tay những con người biết trân trọng quá khứ, hiểu rõ hiện tại và dám sáng tạo cho tương lai. Khi con người Việt Nam được đặt vào vị trí trung tâm, được khơi dậy khát vọng và tạo điều kiện phát huy tài năng, văn hóa Việt Nam sẽ có thêm sức sống để vượt qua biên giới địa lý, bước vào không gian sáng tạo toàn cầu và đóng góp ngày càng rõ nét vào dòng chảy văn hóa nhân loại.

Phát huy sức mạnh con người chính là đánh thức nguồn lực lớn nhất của văn hóa. Mỗi người Việt Nam đều có thể trở thành một chủ thể sáng tạo, một người kể chuyện và một đại sứ văn hóa, hành trình đưa văn hóa Việt Nam vươn ra thế giới sẽ không còn là một mục tiêu xa xôi, mà trở thành một dòng chảy được tạo nên từ chính sức mạnh nội sinh của dân tộc.

Trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Một nền văn hóa muốn trường tồn không thể chỉ được lưu giữ trong những bảo tàng, nằm trên những trang sách hay hiện diện trong các lễ hội truyền thống. Văn hóa chỉ thực sự có sức sống khi được con người tiếp nhận, thực hành, sáng tạo và trao truyền qua các thế hệ. Trong hành trình đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, thế hệ trẻ vì thế không chỉ là đối tượng thụ hưởng các giá trị văn hóa mà phải trở thành lực lượng trực tiếp giữ gìn, làm mới, lan tỏa và phát triển văn hóa Việt Nam. Nói cách khác, những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa chỉ có thể đi vào đời sống một cách bền vững khi được chuyển hóa thành nhận thức, hành động và khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt con người ở vị trí trung tâm của quá trình phát triển văn hóa, xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Nghị quyết đồng thời nhấn mạnh yêu cầu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ, trong đó đặc biệt chú trọng giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Đây không đơn thuần là yêu cầu về giáo dục đạo đức hay truyền thống, mà thể hiện một tư duy phát triển mới: Xây dựng con người chính là xây dựng nguồn lực cho văn hóa và cho tương lai đất nước.

Trong tư duy ấy, thế hệ trẻ giữ một vị trí đặc biệt. Họ là những người tiếp nhận trực tiếp thành quả của nền văn hóa do các thế hệ đi trước tạo dựng, nhưng đồng thời cũng là lực lượng sẽ quyết định diện mạo văn hóa Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Những gì người trẻ lựa chọn, sáng tạo, ứng xử và lan tỏa hôm nay sẽ dần trở thành những giá trị, chuẩn mực và thói quen của xã hội ngày mai. Vì vậy, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với văn hóa không thể chỉ được hiểu là “giữ gìn truyền thống”. Nếu chỉ giữ nguyên những gì đã có mà không tìm cách làm cho các giá trị ấy tiếp tục sống trong đời sống hiện đại, văn hóa rất dễ trở thành ký ức được trân trọng nhưng ngày càng xa rời thế hệ mới.

Điều quan trọng hơn là phải để người trẻ trở thành chủ thể sáng tạo văn hóa. Trong bối cảnh công nghệ số làm thay đổi mạnh mẽ cách con người tiếp nhận, sản xuất và chia sẻ thông tin, thế hệ trẻ đang có lợi thế đặc biệt. Họ sử dụng công nghệ, mạng xã hội, nền tảng số và các phương thức truyền thông mới một cách tự nhiên; đồng thời cũng là lực lượng nhanh nhạy nhất trong việc nắm bắt những xu hướng mới của thế giới. Nếu được định hướng đúng, chính những công cụ ấy có thể trở thành phương tiện mạnh mẽ để đưa văn hóa Việt Nam đến gần hơn với cộng đồng quốc tế.

Tinh thần này phù hợp với định hướng của Nghị quyết 80-NQ/TW khi đặt ra yêu cầu phát triển các sản phẩm, dịch vụ văn hóa có sức cạnh tranh; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa; đồng thời tăng cường các hoạt động quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Nghị quyết cũng đặt mục tiêu nâng cao khả năng tiếp cận văn hóa cho học sinh, sinh viên và tăng cường giáo dục di sản trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Phát triển trụ cột văn hóa, khơi dậy sức mạnh nội sinh đưa Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới
Thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay ngày càng ý thức sâu sắc về giá trị của lịch sử, truyền thống và những giá trị văn hóa làm nên bản sắc dân tộc

Nhưng để thực hiện được trách nhiệm ấy, trước hết người trẻ phải có “gốc” văn hóa. Hội nhập quốc tế đang mở ra những cơ hội chưa từng có để thế hệ trẻ tiếp xúc với các nền văn hóa khác nhau. Chỉ bằng một thiết bị điện tử, một người trẻ có thể nghe âm nhạc của nhiều quốc gia, xem những bộ phim từ khắp nơi trên thế giới, tiếp cận các xu hướng thời trang, nghệ thuật và lối sống mới. Đây là điều kiện thuận lợi để mở rộng tri thức và hình thành tư duy toàn cầu, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu về bản lĩnh văn hóa. Hội nhập không có nghĩa là sao chép; hiện đại không đồng nghĩa với từ bỏ truyền thống. Một thế hệ trẻ có bản lĩnh phải biết tiếp nhận tinh hoa nhân loại nhưng đồng thời hiểu mình là ai, trân trọng lịch sử, tiếng Việt, phong tục, truyền thống và những giá trị đã tạo nên bản sắc Việt Nam.

Nghị quyết 80-NQ/TW cũng đặt yêu cầu kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế; xây dựng con người Việt Nam yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương và sáng tạo. Những phẩm chất ấy không chỉ là chuẩn mực đạo đức mà còn là nền tảng để thế hệ trẻ bước vào môi trường hội nhập với tâm thế chủ động, tự tin và có trách nhiệm.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 28/2026/QH16 tiếp tục tạo cơ sở chính sách và nguồn lực cho phát triển văn hóa, trong đó nhấn mạnh sự tham gia của Nhân dân, đặc biệt là thanh niên, trẻ em trong các hoạt động văn hóa. Đây là một thông điệp quan trọng: Phát triển văn hóa không thể chỉ là công việc của cơ quan quản lý nhà nước hay những người hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, mà phải trở thành sự nghiệp của toàn xã hội, trong đó thế hệ trẻ là lực lượng không thể thiếu.

Từ góc độ ấy, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển văn hóa không nhất thiết bắt đầu từ những việc lớn lao. Nó có thể bắt đầu từ cách một người trẻ sử dụng tiếng Việt; cách ứng xử với người thân, thầy cô và cộng đồng; thái độ trước một di sản; sự tôn trọng đối với lịch sử; cách lựa chọn nội dung trên mạng xã hội; hay việc sẵn sàng tìm hiểu và giới thiệu những giá trị văn hóa của quê hương mình. Hàng triệu hành động nhỏ được cộng hưởng sẽ tạo nên một môi trường văn hóa lớn.

Đặc biệt, thế hệ trẻ còn có thể đóng vai trò cầu nối đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới. Một người trẻ sử dụng ngoại ngữ để giới thiệu di sản quê hương, một nhà sáng tạo nội dung kể câu chuyện Việt Nam trên nền tảng quốc tế, một nhà thiết kế đưa chất liệu truyền thống vào sản phẩm hiện đại hay một nghệ sĩ đưa âm nhạc Việt Nam đến với công chúng quốc tế đều có thể trở thành những “đại sứ văn hóa” theo cách riêng của mình. Khi đó, việc quảng bá văn hóa không còn chỉ diễn ra trong những chương trình đối ngoại được tổ chức theo kế hoạch, mà trở thành dòng chảy thường xuyên, tự nhiên và sống động trong đời sống toàn cầu.

Có thể thấy, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong thực hiện các chủ trương về phát triển văn hóa cần được nhìn nhận ở một tầm rộng hơn. Đó là trách nhiệm giữ gìn nhưng không bảo thủ; tiếp nhận nhưng không hòa tan; sáng tạo nhưng không đánh mất cội nguồn; hội nhập nhưng luôn có bản lĩnh văn hóa; sử dụng công nghệ nhưng hướng công nghệ vào việc lan tỏa những giá trị tốt đẹp. Quan trọng hơn, đó là trách nhiệm biến tình yêu văn hóa thành hành động cụ thể và biến những giá trị truyền thống thành nguồn cảm hứng cho tương lai.

Kỷ nguyên mới đòi hỏi một thế hệ trẻ không chỉ biết tự hào về văn hóa Việt Nam, mà phải đủ bản lĩnh để làm cho văn hóa Việt Nam trở thành một phần sống động của tương lai. Giữ hồn Việt là trách nhiệm của hôm nay; làm cho hồn Việt tỏa sáng trong đời sống hiện đại và vươn ra thế giới chính là sứ mệnh của thế hệ trẻ.

Trong kỷ nguyên mới, phát triển văn hóa Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển mình mạnh mẽ, từ nhận thức đến hành động, từ bảo tồn những giá trị truyền thống đến phát huy, sáng tạo và lan tỏa các giá trị ấy trong đời sống hiện đại. Các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước đã từng bước khẳng định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực, trụ cột và sức mạnh mềm của quốc gia; trong đó, con người vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, trao truyền văn hóa, vừa là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp phát triển văn hóa. Để những định hướng đó thực sự đi vào cuộc sống, rất cần sự tham gia chủ động, trách nhiệm của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ – lực lượng năng động, sáng tạo, có khả năng làm chủ khoa học, công nghệ và có điều kiện thuận lợi để kết nối văn hóa Việt Nam với thế giới.


[1] Thiên Ngân, Ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, https://svhtt.hue.gov.vn/tin-chuyen-trang-phong-trao/ban-hanh-chuong-trinh-hanh-dong-thuc-hien-nghi-quyet-80-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam.html.

[2] Văn hóa - nguồn lực nội sinh cho quá trình phát triển đất nước, https://bvhttdl.gov.vn/Pages/chi-tiet.aspx?url=/van-hoa-nguon-luc-noi-sinh-cho-qua-trinh-phat-trien-dat-nuoc-20220128141122156.htm.

Thùy Dung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)

Theo dõi chúng tôi trên: