Từ khóa: Tòa án nhân dân; phổ biến, giáo dục pháp luật; chuyển đổi số.
Đặt vấn đề
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt[1]. Quy định này thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong việc nâng cao nhận thức pháp luật, xây dựng ý thức thượng tôn pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật trong xã hội. Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013[2] quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Với chức năng bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và thông qua hoạt động xét xử góp phần giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, Tòa án nhân dân có vị trí, vai trò đặc biệt trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trước yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số và nâng cao khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, việc nghiên cứu trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện là yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
1. Cơ sở chính trị, pháp lý về sự cần thiết phải nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Việc xác định sự cần thiết phải nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần được xem xét trên các phương diện chính trị và pháp lý.
1.1. Về cơ sở chính trị
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật luôn được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó có Tòa án nhân dân. Nghị quyết số 27-NQ/TW[3] yêu cầu “tiếp tục đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật...”; “Xây dựng chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá; bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ, công bằng, văn minh, pháp quyền, hiện đại, nghiêm minh, dễ tiếp cận, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Tiếp đến, Nghị quyết số 66-NQ/TW[4] nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật, đổi mới phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với chuyển đổi số và ưu tiên nguồn lực cho công tác này.
Tiếp tục hoàn thiện định hướng của Đảng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật,Kết luận số 09-KL/TW[5] nhấn mạnh “gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật… đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật…”. Đặc biệt, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định thượng tôn pháp luật là một trong những giá trị cốt lõi của con người Việt Nam trong thời đại mới, đồng thời, yêu cầu “giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước…”, “tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật”. Đây là những định hướng chính trị quan trọng, làm cơ sở để Tòa án nhân dân thực hiện hiệu quả trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật.
1.2. Về cơ sở pháp lý
Bên cạnh các quy định trực tiếp của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn được thể hiện rõ trong các quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) và pháp luật tố tụng.
1.2.1. Quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật như sau:
Thứ nhất, trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn. Cụ thể:
(i) Tòa án nhân dân thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử. Điều 16 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định Tòa án nhân dân các cấp thông qua công tác xét xử tại trụ sở, lựa chọn các vụ án thích hợp có tính giáo dục cao để tổ chức xét xử lưu động nhằm phổ biến, giáo dục pháp luật cho người tham dự phiên tòa và Nhân dân. So với các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật truyền thống, hoạt động xét xử gắn trực tiếp quy định pháp luật với những sự kiện pháp lý cụ thể, những tình huống thực tế phát sinh trong đời sống xã hội, giúp người dân hiểu rõ cách thức áp dụng pháp luật, hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Ví dụ: khi giải quyết vụ án ly hôn, có liên quan đến con chung, Tòa án phải giáo dục cha mẹ “Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con luôn gắn liền với nhân thân… Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con là nghĩa vụ bắt buộc, không thể thay thế bằng nghĩa vụ dân sự khác”[6]. Mỗi bản án, quyết định đúng pháp luật, khách quan và thuyết phục đều góp phần nâng cao ý thức pháp luật và định hướng hành vi xã hội.
(ii) Tòa án nhân dân có trách nhiệm lựa chọn các vụ án có tính giáo dục cao để tổ chức xét xử lưu động. Đây là hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trực quan và có sức lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng dân cư. Thông qua các phiên tòa lưu động được tổ chức tại địa phương, trường học, khu dân cư hoặc địa bàn nơi xảy ra vụ việc, người dân có điều kiện tiếp cận trực tiếp với hoạt động xét xử, hiểu rõ bản chất của hành vi vi phạm và hậu quả pháp lý tương ứng. Các vụ án về ma túy, trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích, vi phạm quy định về an toàn giao thông, bạo lực gia đình hoặc các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình điển hình thường có giá trị giáo dục cao, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và phòng ngừa vi phạm trong cộng đồng.
(iii) Mặc dù khoản 2 Điều 16 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chủ yếu quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đối thoại với người dân, nhưng xét từ chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân, tinh thần của quy định này vẫn được thể hiện trong hoạt động của Tòa án. Thông qua công tác tiếp công dân, tiếp nhận đơn khởi kiện, đơn khiếu nại, kiến nghị, phản ánh; giải thích quyền khởi kiện, quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; hướng dẫn người dân thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, Tòa án đồng thời thực hiện chức năng phổ biến, giáo dục pháp luật thường xuyên và trực tiếp.
Từ góc độ quản lý nhà nước, trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn của Tòa án thể hiện định hướng đổi mới, chuyển từ mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật riêng lẻ sang mô hình lồng ghép trong quá trình thực thi công vụ. Cách tiếp cận này giúp tiết kiệm nguồn lực, nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và bảo đảm pháp luật được phổ biến thông qua những tình huống thực tiễn, những vụ việc cụ thể, qua đó, tăng tính thuyết phục và khả năng tác động cao hơn đối với người dân[7].
Thứ hai, trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong tổ chức và bảo đảm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Bên cạnh việc thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động chuyên môn, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong việc tổ chức, xây dựng nguồn lực và bảo đảm các điều kiện để công tác này được thực hiện thường xuyên, hiệu quả.
(i) Tòa án nhân dân có trách nhiệm “xây dựng, tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên pháp luật của ngành”[8]. Thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ, đội ngũ báo cáo viên sẽ trở thành lực lượng nòng cốt trong việc truyền tải các quy định pháp luật, giải thích những vấn đề pháp lý phức tạp và định hướng nhận thức pháp luật cho cán bộ, công chức và Nhân dân.
(ii) Tòa án nhân dân có trách nhiệm “tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý; phổ biến kiến thức pháp luật chuyên ngành cho nhân dân bằng hình thức phù hợp”[9]. Quy định này thể hiện hai nhóm trách nhiệm cơ bản của Tòa án nhân dân là phổ biến, giáo dục pháp luật trong nội bộ ngành và phổ biến kiến thức pháp luật chuyên ngành cho người dân. Với vai trò là cơ quan trực tiếp áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp, Tòa án nhân dân có điều kiện truyền tải những kiến thức pháp lý gắn với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Pháp luật không quy định Tòa án phải thực hiện theo một hình thức nhất định mà cho phép lựa chọn hình thức thực hiện phù hợp, như hội nghị, tập huấn, phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử và các nền tảng số.
Kinh nghiệm của Indonesia cho thấy, hệ thống tư pháp điện tử (e-Court) đã được triển khai nhằm số hóa hoạt động quản lý và giải quyết vụ án, cung cấp các dịch vụ như đăng ký vụ án, nộp án phí và tống đạt văn bản trực tuyến. Tuy nhiên, hiệu quả triển khai còn hạn chế do người dân thiếu hiểu biết và kỹ năng sử dụng hệ thống[10]. Điều này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả việc tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đến người dân.
1.2.2. Quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 và pháp luật về tố tụng
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 và pháp luật về tố tụng quy định trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật như sau:
Thứ nhất, khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 quy định: “Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp để thực thi nhiệm vụ bảo vệ công lý…; bằng hoạt động của mình, góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác”. Quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi không chỉ xác định chức năng xét xử và thực hiện quyền tư pháp của Tòa án nhân dân, mà còn khẳng định một trong những giá trị xã hội cơ bản của hoạt động tư pháp là chức năng giáo dục pháp luật đối với công dân. Điều đó cho thấy, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật không phải là nhiệm vụ phát sinh bên ngoài chức năng của Tòa án, mà là một bộ phận hữu cơ gắn liền với hoạt động thực hiện quyền tư pháp.
Thứ hai, trong hoạt động tố tụng hình sự, dân sự, hành chính và trong bối cảnh cải cách tư pháp, chuyển đổi số hiện nay, trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động của Tòa án nhân dân còn được mở rộng thông qua việc công khai bản án, quyết định trên môi trường điện tử, công bố án lệ, tổ chức phiên tòa trực tuyến và tăng cường truyền thông tư pháp. Đây là những hình thức mới giúp hoạt động xét xử không chỉ có tác động trong phạm vi một phiên tòa cụ thể, mà còn lan tỏa rộng rãi đến toàn xã hội, tạo điều kiện để người dân tiếp cận pháp luật thuận lợi, kịp thời và hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, nguyên tắc xét xử công khai[11] là nguyên tắc cơ bản của tố tụng tư pháp, tạo điều kiện để người dân tham dự phiên tòa, theo dõi quá trình giải quyết vụ án và trực tiếp chứng kiến việc áp dụng pháp luật của cơ quan xét xử. Quá trình này đã tạo nên hiệu quả giáo dục pháp luật rất lớn đối với những người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa và cộng đồng xã hội.
2. Thực trạng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân
Để đánh giá trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, bên cạnh đánh giá thực trạng quy định pháp luật, cần phải đánh giá thực tiễn thực hiện hoạt động này trên thực tế.
2.1. Kết quả đạt được
Những năm qua, cùng với việc thực hiện chức năng xét xử và thực hiện quyền tư pháp, hệ thống Tòa án nhân dân đã quan tâm triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và đạt được một số kết quả như sau:
Thứ nhất, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử ngày càng được thực hiện hiệu quả, góp phần đưa pháp luật vào đời sống xã hội.
Tòa án nhân dân các cấp đã thực hiện nghiêm nguyên tắc xét xử công khai, tạo điều kiện để người dân trực tiếp tham dự, theo dõi các phiên tòa và tiếp cận thực tiễn áp dụng pháp luật. Năm 2025, các Tòa án đã thụ lý 683.341 vụ việc và giải quyết 618.341 vụ việc[12]. Thông qua hoạt động xét hỏi, tranh tụng, đánh giá chứng cứ và tuyên án, các quy định của pháp luật được giải thích, làm rõ và vận dụng vào từng vụ án, vụ việc cụ thể. Đây là hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật có tính trực quan, sinh động và thuyết phục cao, giúp người dân không chỉ hiểu nội dung pháp luật, mà còn nhận thức rõ hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm cũng như các cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ hai, công tác tổ chức, xây dựng nguồn lực phục vụ phổ biến, giáo dục pháp luật trong hệ thống Tòa án được quan tâm và từng bước nâng cao chất lượng.
Thực hiện quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, hệ thống Tòa án nhân dân đã chú trọng xây dựng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên pháp luật. Qua đó, tạo nền tảng quan trọng để bảo đảm chất lượng, hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong toàn hệ thống. Tòa án nhân dân tối cao thường xuyên tổ chức các hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến để quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bồi dưỡng kiến thức pháp luật mới; tập huấn nghiệp vụ xét xử; triển khai các nội dung về cải cách tư pháp, chuyển đổi số và xây dựng Tòa án điện tử. Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm các quy định pháp luật được triển khai thống nhất trong toàn ngành, đồng thời, tạo nền tảng để Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký không chỉ là người áp dụng pháp luật, mà còn là chủ thể trực tiếp tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho Nhân dân thông qua hoạt động nghề nghiệp của mình.
Thứ ba, việc đẩy mạnh công khai, minh bạch hoạt động tư pháp và ứng dụng công nghệ số đã tạo bước chuyển biến quan trọng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Hệ thống Tòa án nhân dân đã tăng cường công khai bản án, quyết định trên môi trường điện tử, phát triển và công bố án lệ, tổ chức phiên tòa trực tuyến, qua đó, tạo điều kiện để người dân tiếp cận pháp luật thuận lợi, nâng cao tính công khai, minh bạch của hoạt động xét xử. Tính đến tháng 7 năm 2026, Tòa án nhân dân tối cao đã công bố 90 án lệ, góp phần định hướng áp dụng pháp luật thống nhất và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người dân. Đồng thời, thông qua hoạt động xét xử nghiêm minh và công khai, Tòa án đã góp phần xây dựng ý thức thượng tôn pháp luật, nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm pháp luật, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với công lý và hoạt động tư pháp. Một số nghiên cứu về Tòa án cho thấy, trước những thách thức mà hệ thống tư pháp phải đối mặt trong xã hội hiện đại, Tòa án phải hướng đến thể chế tư pháp, cải cách tư pháp để đạt được hiệu quả của thực thi công lý[13].
Cùng với đó, việc triển khai các nền tảng số, đặc biệt là nền tảng quản lý án toàn trình[14], đã từng bước hình thành môi trường tư pháp điện tử, giúp người dân dễ dàng tiếp cận thông tin, theo dõi quá trình giải quyết vụ án và tìm hiểu các quy định pháp luật có liên quan. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý của Tòa án, mà còn đổi mới phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đưa pháp luật đến gần hơn với người dân.
2.2. Những khó khăn, vướng mắc
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân còn một số khó khăn, vướng mắc sau:
Thứ nhất, nhận thức về vị trí, vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong một số đơn vị chưa thực sự đầy đủ, toàn diện.
Mặc dù pháp luật xác định phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nhiệm vụ của Tòa án nhân dân, nhưng còn quan điểm xác định là nhiệm vụ hỗ trợ, chưa phải nhiệm vụ trọng tâm gắn liền với hoạt động thực hiện quyền tư pháp. Do áp lực giải quyết số lượng lớn các vụ án, vụ việc ngày càng gia tăng, nhiều đơn vị chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ chuyên môn xét xử mà chưa dành sự quan tâm tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Việc lồng ghép hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong quá trình xét xử, tiếp công dân hoặc giải quyết các vụ việc có nơi còn mang tính tự phát, chưa được xây dựng thành kế hoạch thường xuyên, lâu dài. Điều này dẫn đến hiệu quả phổ biến pháp luật giữa các đơn vị còn chưa đồng đều, chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế đặc thù của hoạt động tư pháp trong công tác giáo dục pháp luật.
Thứ hai, nguồn nhân lực và điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế.
Đội ngũ thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong hệ thống Tòa án chủ yếu là nhân sự kiêm nhiệm, chưa có nhiều nhân sự được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật hoặc truyền thông số. Đa số các Tòa án nhân dân khu vực hiện nay không được bố trí biên chế chuyên trách về truyền thông và công nghệ thông tin. Các công việc liên quan đến quản trị hệ thống mạng, vận hành phần mềm nghiệp vụ, hỗ trợ hội nghị trực tuyến, quản lý dữ liệu điện tử, hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến hoặc thực hiện các nhiệm vụ chuyển đổi số chủ yếu do nhân sự kiêm nhiệm đảm nhận.
Trong điều kiện khối lượng công việc chuyên môn ngày càng lớn, việc thiếu đội ngũ công nghệ thông tin chuyên trách đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng xây dựng, quản lý và phát triển các sản phẩm phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Thực tế cho thấy, nhiều đơn vị có nhu cầu xây dựng video phổ biến, giáo dục pháp luật, thư viện điện tử về án lệ, bản án hoặc các sản phẩm truyền thông phục vụ người dân nhưng gặp khó khăn do thiếu nhân lực có chuyên môn kỹ thuật để thiết kế, vận hành và duy trì các nền tảng này. Điều đó dẫn đến việc công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở nhiều nơi chủ yếu được thực hiện theo phương thức truyền thống, chưa khai thác hết những lợi thế của công nghệ số và truyền thông hiện đại.
Bên cạnh đó, nguồn kinh phí, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số đơn vị còn hạn chế, đặc biệt, tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tổ chức các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật có quy mô lớn hoặc triển khai các mô hình phổ biến pháp luật mới, hiện đại.
Thứ ba, hiệu quả tiếp cận pháp luật của người dân chưa đồng đều và chưa có cơ chế đánh giá toàn diện chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Mặc dù hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án đã được triển khai trên phạm vi cả nước, nhưng khả năng tiếp cận thông tin pháp luật giữa các vùng, miền và các nhóm đối tượng còn chênh lệch. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoặc những người có điều kiện tiếp cận công nghệ thông tin hạn chế còn gặp khó khăn trong tiếp cận các thông tin pháp lý và tư pháp hiện đại. Mặt khác, việc đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu dựa trên số lượng hội nghị, lớp tập huấn, số lượng người tham gia hoặc số lượng tài liệu được phát hành, trong khi chưa có hệ thống tiêu chí đầy đủ để đo lường mức độ thay đổi nhận thức, hành vi và ý thức chấp hành pháp luật của người dân sau khi được phổ biến, giáo dục pháp luật. Vì vậy, việc đánh giá tác động thực chất của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc hoạch định các giải pháp nâng cao chất lượng trong thời gian tới.
3. Kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn đã phân tích, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân như sau:
3.1. Kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong hoạt động của Tòa án nhân dân
Mặc dù dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[15] (dự thảo Luật) tiếp tục quy định trách nhiệm của Tòa án nhân dân tại Điều 15 và Điều 26, nhưng các quy định này vẫn mang tính nguyên tắc, chưa thể hiện đầy đủ vị trí, vai trò đặc thù của Tòa án trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua xét xử. Dự thảo Luật chỉ yêu cầu “lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật” trong hoạt động xét xử mà chưa quy định cụ thể về phạm vi, hình thức thực hiện, trách nhiệm của từng cấp Tòa án, cơ chế phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan cũng như trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao trong việc hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống. Vì vậy, để bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong quá trình triển khai thi hành luật, các nội dung này cần được quy định cụ thể trong văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành (sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua) (văn bản hướng dẫn thi hành). Cụ thể:
Thứ nhất, đối với Điều 15 dự thảo Luật, cần quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành về trách nhiệm của Tòa án trong việc thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử. Việc lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ được thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án, mà còn thông qua công khai bản án, quyết định theo quy định của pháp luật; tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm, phiên tòa trực tuyến, phiên tòa lưu động; công bố án lệ; giải thích, phân tích quy định pháp luật trong bản án và các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cá nhân, tổ chức.
Thứ hai, đối với Điều 26 dự thảo Luật, cần quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành về trách nhiệm của Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án nhân dân địa phương. Theo đó, Tòa án nhân dân tối cao cần được giao trách nhiệm ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong hệ thống Tòa án; xây dựng kế hoạch, chương trình, tài liệu nghiệp vụ; hướng dẫn, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, thống kê và đánh giá kết quả thực hiện. Đối với Tòa án nhân dân các cấp, cần quy định rõ trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật hằng năm; lồng ghép công tác này trong hoạt động xét xử, hòa giải, đối thoại; phối hợp với cơ quan tư pháp, cơ quan thông tin, truyền thông và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn để tổ chức các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Tòa án.
Thứ ba, cần quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành về cơ chế bảo đảm thực hiện trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án, gồm trách nhiệm bố trí nguồn lực, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao tính chủ động, thống nhất và hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứ tư, xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong ngành Tòa án. Hệ thống tiêu chí đánh giá cần phù hợp với đặc thù hoạt động tư pháp, không chỉ dựa trên số lượng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật mà còn xem xét mức độ tiếp cận pháp luật, mức độ hài lòng của người dân, khả năng phòng ngừa vi phạm pháp luật và hiệu quả lan tỏa của các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Điều này góp phần thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 02-CT/ĐU[16], đồng thời, thực hiện mục tiêu tăng trưởng bền vững hai con số theo Kế hoạch số 450/KH-TANDTC[17].
3.2. Kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả về phổ biến giáo dục pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân như sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp Tòa án đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Cần xác định phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận quan trọng trong thực hiện quyền tư pháp, không phải là nhiệm vụ mang tính hỗ trợ đơn thuần. Người đứng đầu các đơn vị Tòa án cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và đưa kết quả thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.
Thứ hai, phát huy hiệu quả hoạt động xét xử như một phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật đặc thù của Tòa án. Tiếp tục nâng cao chất lượng xét xử, bảo đảm các bản án, quyết định có lập luận chặt chẽ, rõ ràng, dễ hiểu và có giá trị định hướng nhận thức pháp luật cho xã hội. Chẳng hạn, thông qua việc xét xử các hành vi xâm phạm về tính mạng, Tòa án cần giáo dục bị cáo về bảo đảm quyền sống của bị hại. Theo đó, quyền sống (the right to life) được nhận định là quyền tự nhiên, cơ bản của con người, được ghi nhận không chỉ ở Việt Nam mà còn trong các văn kiện của luật nhân quyền quốc tế[18]. Trong lĩnh vực lao động, cần giáo dục, phổ biến pháp luật cho các bên, khi hợp đồng lao động có hiệu lực pháp luật, các bên phải thực hiện đúng các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng[19]. Bên cạnh đó, Tòa án cần tăng cường lựa chọn các vụ án điển hình, các vụ việc được xã hội quan tâm để phổ biến, giáo dục pháp luật; phát huy giá trị giáo dục của hoạt động xét xử công khai, công bố bản án và phát triển án lệ.
Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên pháp luật và nhân sự làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Thường xuyên tổ chức các hội nghị tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật mới, kỹ năng truyền thông pháp luật, kỹ năng ứng dụng công nghệ số cho đội ngũ Tòa án. Phát huy vai trò của các Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và đội ngũ báo cáo viên pháp luật trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động nghề nghiệp.
Thứ tư, đổi mới nội dung và phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật. Cần chuyển từ phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật một chiều sang các hình thức tương tác, lấy người dân làm trung tâm. Tăng cường xây dựng các sản phẩm truyền thông số như video pháp luật, tọa đàm trực tuyến, mô phỏng các tình huống pháp lý thực tiễn để nâng cao khả năng tiếp cận và tiếp nhận thông tin pháp luật của người dân.
Thứ năm, tăng cường phối hợp giữa Tòa án nhân dân với các cơ quan, tổ chức có liên quan. Đẩy mạnh phối hợp với các cơ quan tư pháp, cơ quan báo chí, cơ sở giáo dục, tổ chức chính trị - xã hội và chính quyền địa phương trong xây dựng các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật. Qua đó, tạo sự đồng bộ, thống nhất và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ sáu, gắn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với mục tiêu xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và nâng cao khả năng tiếp cận công lý của người dân. Không chỉ dừng ở cung cấp thông tin pháp luật, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án cần hướng tới hình thành ý thức tôn trọng pháp luật, thói quen ứng xử theo pháp luật và niềm tin của người dân vào công lý. Đây là mục tiêu lâu dài, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Kết luận
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm quan trọng của Tòa án nhân dân, gắn liền với hoạt động thực hiện quyền tư pháp và bảo vệ công lý. Trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chuyển đổi số quốc gia, việc nhận diện những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn để đề ra các giải pháp phù hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật, đổi mới nội dung, phương thức phổ biến pháp luật, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tiếp cận pháp luật kịp thời, thuận tiện trên môi trường số, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp./.
NCS. Châu Thanh Quyền
Tòa án nhân dân khu vực 12, thành phố Cần Thơ
Thái Hoàng Đắc, Lương Văn Khải
Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Cà Mau
Ảnh: internet
[1]. Khoản 1 Điều 3 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.
[2]. Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025.
[3]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[4]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[5]. Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[6]. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật Gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.389.
[7]. Chẳng hạn, khi giải quyết các vụ án có người chưa thành niên phạm tội, Tòa án cần giải thích, giáo dục; hầu hết các hệ thống pháp luật đều có quy định riêng biệt cho người chưa thành niên, nhằm bảo đảm các hình thức xử lý tập trung vào việc giáo dục và tái hòa nhập hơn là trừng phạt (Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Chí Công (đồng chủ biên) (2024), Tư pháp người chưa thành niên của một số quốc gia trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nxb. Công an nhân dân, tr.12-13) hoặc trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm cũng được đặt ra đối với người thực hiện hành vi phạm tội (Lê Cảm, Nguyễn Trọng Điệp (đồng chủ biên) (2021), Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự thực định Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.139).
[8]. Khoản 1 Điều 26 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.
[9]. Khoản 2 Điều 26 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.
[10]. Vania Shafira Yuniar,et.all, The Court Role in Providing E-court System Education to Community: Post-Enactment of Supreme Court Regulation Number 1 of 2019, Unifikasi: Jurnal Ilmu Hukum, 8(1), 2021, 34-42, DOI: 10.25134/unifikasi.v8i1.3697.
[11]. Điều 15 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 16 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung các năm 2021, 2025).
[12]. Anh Thư, Vũ Hiếu, Cao Hoàng (2025), Quốc hội nghe báo cáo về kết quả công tác năm 2025 của ngành Tòa án nhân dân, https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=97445, truy cập ngày 19/7/2026.
[13]. Đỗ Minh Khôi, Huỳnh Thị Sinh Hiền, Phạm Thị Phương Thảo (2021), Một số nghiên cứu hiện đại về Tòa án (Sách tham khảo), Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, tr.193.
[14]. Kế hoạch số 191/KH-TANDTC ngày 25/5/2026 của Tòa án nhân dân tối cao triển khai thí điểm Nền tảng quản lý án toàn trình của Tòa án nhân dân.
[15]. Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trình Quốc hội kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.
[16]. Chỉ thị số 02-CT/ĐU ngày 18/6/2026 của Ban Thường vụ Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao về tăng cường đánh giá hiệu quả hoạt động, nâng cao chất lượng quản trị trong Tòa án nhân dân phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới.
[17]. Kế hoạch số 450/KH-TANDTC ngày 20/7/2026 của Tòa án nhân dân tối cao triển khai thực hiện phong trào thi đua “Tòa án nhân dân cùng cả nước quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng bền vững 2 con số giai đoạn 2026 - 2030”.
[18]. Nguyễn Văn Hợi (chủ biên) (2023), Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật Việt Nam, Tập 1, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.377.
[19.] Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Tập I, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.191.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Anh Thư, Vũ Hiếu, Cao Hoàng (2025), Quốc hội nghe báo cáo về kết quả công tác năm 2025 của ngành Tòa án nhân dân, https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=97445, truy cập ngày 19/7/2026.
2. Đỗ Minh Khôi, Huỳnh Thị Sinh Hiền, Phạm Thị Phương Thảo (2021), Một số nghiên cứu hiện đại về Tòa án (Sách tham khảo), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Lê Cảm, Nguyễn Trọng Điệp (đồng chủ biên) (2021), Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự thực định Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Chí Công (đồng chủ biên) (2024), Tư pháp người chưa thành niên của một số quốc gia trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nxb. Công an nhân dân, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Nguyễn Văn Hợi (chủ biên) (2023), Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật Việt Nam, Tập 1, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
6. Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Tập I, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
7. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật Gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
8. Vania Shafira Yuniar,et.all.The Court Role in Providing E-court System Education to Community: Post-Enactment of Supreme Court Regulation Number 1 of 2019, Unifikasi: Jurnal Ilmu Hukum, 8(1), 2021, 34-42, DOI: 10.25134/ unifikasi.v8i1.3697.
(Nguồn: Ấn phẩm chuyên sâu “Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, xuất bản năm 2026)