Từ khóa: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật; kiến nghị hoàn thiện.
Đặt vấn đề
Chỉ thị số 32-CT/TW[1] xác định phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị nhằm nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân. Thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, sau hơn 13 năm thi hành, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập trước yêu cầu chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và đổi mới tổ chức bộ máy theo Nghị quyết số 18-NQ/TW[2]. Thời gian gần đây, Đảng đã ban hành nhiều kết luận, nghị quyết, trong đó, khẳng định vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra yêu cầu đổi mới công tác này theo hướng gắn với xây dựng và thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, như Kết luận số 80-KL/TW[3] và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị như Nghị quyết số 27-NQ/TW[4], Nghị quyết số 57-NQ/TW[5], Nghị quyết số 59-NQ/TW[6], Nghị quyết số 66-NQ/TW[7], Nghị quyết số 68-NQ/TW[8], Nghị quyết số 71-NQ/TW[9] và Nghị quyết số 80-NQ/TW[10].
Trên cơ sở phân tích thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, nghiên cứu phân tích những khó khăn, vướng mắc về thiết chế, chủ thể, đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tính đồng bộ với hệ thống pháp luật; đồng thời, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới theo đúng chủ trương của Đảng.
1. Một số bất cập trong quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 từ thực tiễn thi hành
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo nền tảng pháp lý tương đối toàn diện cho việc tổ chức, triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi cả nước. Qua hơn 13 năm thi hành, tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từng bước được kiện toàn; nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật không ngừng đổi mới, gắn với yêu cầu thực tiễn và tăng cường ứng dụng công nghệ số. Đồng thời, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các nhóm đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong nhà trường, trợ giúp pháp lý và truyền thông chính sách tiếp tục được quan tâm; cơ chế phối hợp và nguồn lực bảo đảm thực hiện từng bước được hoàn thiện. Những kết quả đó góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân, phục vụ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, trước những yêu cầu về đổi mới trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 phát sinh những hạn chế, bất cập cụ thể:
1.1. Về thiết chế và chủ thể thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Thực tiễn thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 cho thấy, các quy định về thiết chế và chủ thể thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật bộc lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức thực hiện. Cụ thể:
Thứ nhất, quy định về Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật. Điều 7 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 xác định Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật là thiết chế tư vấn cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và huy động nguồn lực cho công tác này. Giai đoạn từ năm 2013 đến trước ngày 08/8/2021, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập ở Trung ương và tất cả các địa phương. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương do Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Chủ tịch; Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp tỉnh và cấp huyện do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp làm Chủ tịch, với số lượng thành viên tương đối lớn (khoảng 30 - 48 thành viên đối với cấp tỉnh). Năm 2025, thực hiện chủ trương tinh, gọn tổ chức bộ máy theo Nghị quyết số 18-NQ/TW và phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Quyết định số 26/2025/QĐ-TTg[11] hợp nhất Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật với Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Theo đó, thành phần Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương được tinh, gọn từ 39 xuống còn 31 thành viên thông qua giảm đầu mối đại diện một số tổ chức chính trị - xã hội, sắp xếp các bộ, ngành và bổ sung đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam để đáp ứng nhiệm vụ mới về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh. Ở địa phương, các tỉnh, thành phố đã thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định mới và ban hành các văn bản cần thiết để bảo đảm hoạt động liên tục, thông suốt[12].
Việc kiện toàn Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật theo Quyết định số 26/2025/QĐ-TTg góp phần tinh, gọn đầu mối, từ đó, nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành và phù hợp với yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, điều này cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và thực tiễn tổ chức thực hiện, khi Luật hiện hành chỉ quy định Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập ở trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, không bắt buộc thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã. Tuy nhiên, do thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, từ ngày 01/7/2025 đến nay đã chấm dứt hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp huyện. Trong khi đó, chính quyền địa phương cấp xã mới có vai trò, trách nhiệm lớn hơn so với cấp xã trước đây về địa bàn, quy mô dân số, nhiệm vụ, quyền hạn. Đặc biệt, chính quyền địa phương cấp xã hiện nay được giao thực hiện nhiều nhiệm vụ trước đây của chính quyền cấp huyện và được phân cấp thực hiện nhiều nhiệm vụ khác từ cấp tỉnh. Nhu cầu thực tiễn tại các địa phương cho thấy, việc thành lập Hội đồng ở cấp xã dưới tác động của quy phạm mang tính bắt buộc trở nên cần thiết, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc kiện toàn và hoạt động của Hội đồng ở cấp xã.
Thứ hai, quy định về báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật. Báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng trong xã hội. Đội ngũ này được kiện toàn, củng cố hằng năm nhằm tăng cường về số lượng và chất lượng. Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Tư pháp về kết thúc hoạt động của báo cáo viên pháp luật cấp huyện, đến nay, cả nước có 10.655 báo cáo viên pháp luật (tại trung ương có 2.486 báo cáo viên, cấp tỉnh có 8.169 báo cáo viên) và 144.538 tuyên truyền viên cấp xã. Một số địa phương đã xây dựng được đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật là người dân tộc với số lượng lớn như: Thái Nguyên, Cao Bằng, Điện Biên, Nghệ An, Sơn La, Thanh Hóa và Lào Cai[13].
Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện cho thấy, quy định về báo cáo viên pháp luật và tuyên truyền viên pháp luật tồn tại một số vướng mắc như sau:
Một là, điểm b khoản 2 Điều 35 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định tiêu chuẩn của Báo cáo viên pháp luật phải có khả năng truyền đạt; tuy nhiên, hiện, chưa có hướng dẫn cụ thể để xác định tiêu chí đánh giá, kiểm tra khả năng truyền đạt vì một số báo cáo viên chỉ mang tính danh nghĩa mà chưa qua thực tế.
Hai là, quy định về báo cáo viên pháp luật các cấp còn bó hẹp trong phạm vi cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan trong lực lượng vũ trang, dẫn đến chưa thu hút, huy động rộng rãi nguồn lực xã hội, nhất là đội ngũ chuyên gia có kiến thức pháp luật chuyên sâu, có kinh nghiệm, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật, quân nhân chuyên nghiệp trong các lực lượng vũ trang, luật sư, luật gia, người có uy tín tại cộng đồng...[14].
Ba là, khoản 2 Điều 3 Thông tư số 10/2016/TT-BTP[15] của Bộ Tư pháp quy định về công nhận báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật “… lựa chọn cán bộ, công chức, viên chức và sỹ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật… xem xét, quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật tỉnh”. Quy định này chưa công nhận đối tượng luật sư, luật gia là báo cáo viên pháp luật. Thực tế, Hội Luật gia là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp; Đoàn Luật sư là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, có những người có trình độ, hiểu biết về pháp luật. Do đó, việc quy định như trên là chưa phù hợp.
Bốn là, khoản 4 Điều 3 Thông tư số 10/2016/TT-BTP quy định số lượng báo cáo viên pháp luật do các cơ quan, địa phương quyết định bảo đảm mỗi lĩnh vực pháp luật thuộc phạm vi quản lý chuyên sâu có ít nhất 01 báo cáo viên pháp luật kiêm nhiệm thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn nhiều lĩnh vực chuyên sâu thiếu báo cáo viên pháp luật; một số cơ quan không có báo cáo viên pháp luật hoặc chỉ có 01 báo cáo viên pháp luật và hoạt động kiêm nhiệm, khối lượng công việc nhiều nên khó có thể bảo đảm tính toàn diện các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý theo ngành, lĩnh vực, địa phương[16].
1.2. Về đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật
Đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng, quyết định bảo đảm chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số, nhu cầu tiếp cận pháp luật của người dân ngày càng cao, các quy định hiện hành về đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật bộc lộ một số hạn chế, bất cập:
Thứ nhất, quy định về đối tượng đặc thù của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định 06 nhóm đối tượng đặc thù (người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, nạn nhân bạo lực gia đình, người lao động trong các doanh nghiệp, người đang chấp hành hình phạt tù, đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã)[17], tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, quy định về đối tượng đặc thù chưa bao quát, phù hợp với thực tế, bên cạnh những đối tượng này còn có một số đối tượng khác thuộc nhóm dễ bị tổn thương, yếu thế, điều kiện tiếp cận pháp luật còn hạn chế, nhận thức chưa cao và cần có những chính sách của Nhà nước quan tâm tới các đối tượng này trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật như: người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người có hành vi bạo lực, người có nguy cơ vi phạm pháp luật...
Thứ hai, quy định về nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật. Điều 10 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chỉ quy định nội dung gồm các văn bản quy phạm pháp luật, các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật. Quy định này phù hợp với bối cảnh thời điểm ban hành Luật khi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu hướng đến việc truyền tải quy định pháp luật đã có hiệu lực đến người dân. Tuy nhiên, sau hơn 13 năm thi hành, thực tiễn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu mới đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đặc biệt, yêu cầu truyền thông chính sách ngay từ giai đoạn xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, nhiều chính sách lớn có tác động trực tiếp đến đời sống xã hội nếu không được truyền thông kịp thời, đầy đủ và minh bạch từ giai đoạn dự thảo dễ dẫn đến phản ứng trái chiều, tạo dư luận xã hội phức tạp hoặc gây khó khăn trong quá trình tổ chức thi hành sau khi văn bản được ban hành. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và môi trường số làm thay đổi căn bản cách thức tiếp nhận thông tin pháp luật của người dân, nếu không chủ động truyền thông dự thảo chính sách từ sớm, từ xa thì dễ xuất hiện tình trạng thông tin không chính xác, suy diễn hoặc bị dẫn dắt bởi các nguồn tin không chính thống. Đây là yêu cầu gắn liền với nguyên tắc công khai, minh bạch, dân chủ trong xây dựng pháp luật và quản trị quốc gia hiện đại phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW, đặc biệt, Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định yêu cầu đẩy mạnh truyền thông chính sách, nhất là các chính sách lớn, có tác động trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp nhằm tạo sự đồng thuận xã hội trong quá trình xây dựng pháp luật.
Thứ ba, quy định về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chỉ quy định các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật có tính truyền thống, trong khi đó, với xu thế ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số hiện nay, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đang thiếu các quy định hình thức ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật. Điều này dẫn đến Luật chưa cập nhật kịp thời hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mới, đồng thời, hạn chế việc bố trí nguồn lực cũng như chính sách, cơ chế cụ thể để tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật.
1.3. Về tính thống nhất, đồng bộ của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với các luật chuyên ngành
Một số quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chưa đồng bộ, thống nhất với các quy định trong lĩnh vực giáo dục, tài chính, ngân sách nhà nước. Cụ thể:
Thứ nhất, trong lĩnh vực giáo dục, khoản 2 Điều 25 của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định, Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm ban hành chương trình giáo dục pháp luật trong các cấp học và trình độ đào tạo; quy định thời gian, lộ trình hoàn thành việc chuẩn hóa giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật; tuy nhiên, Luật Giáo dục đại học năm 2025 quy định cơ sở giáo dục đại học được phép tự chủ quyết định nội dung, chương trình đào tạo.
Thứ hai, trong lĩnh vực tài chính, ngân sách nhà nước, khoản 1 Điều 39 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định ngân sách trung ương hỗ trợ các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách. Tuy nhiên, quy định này chưa bảo đảm tính thống nhất với Luật Ngân sách nhà nước năm 2025. Khoản 24, khoản 25 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 quy định cơ chế hỗ trợ từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được thực hiện thông qua bổ sung cân đối ngân sách và bổ sung có mục tiêu. Do đó, quy định tại Điều 39 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chưa đồng bộ với pháp luật về ngân sách nhà nước hiện hành.
2. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu của tình hình mới
Trên cơ sở đánh giá những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và các nội dung sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[18] (dự thảo Luật), nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, khả thi và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
2.1. Hoàn thiện quy định về thiết chế và chủ thể thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức, hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật và đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới. Theo đó, cần tập trung hoàn thiện các nội dung sau:
Thứ nhất, về Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật đã điều chỉnh quy định về Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng phù hợp với chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tuy nhiên, phương án của dự thảo Luật và văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật (sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua) (văn bản hướng dẫn thi hành Luật) cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện. Theo đó, dự thảo Luật hoặc văn bản hướng dẫn thi hành Luật cần quy định: “Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập ở trung ương, cấp tỉnh và cấp xã để tư vấn cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân cùng cấp trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời huy động nguồn lực phục vụ công tác này”. Đồng thời, dự thảo Luật nên tiếp tục giao Chính phủ quy định chi tiết về tổ chức, thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã theo hướng tinh, gọn, hoạt động kiêm nhiệm, phù hợp với chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy theo Nghị quyết số 18-NQ/TW.
Thứ hai, về báo cáo viên pháp luật và tuyên truyền viên pháp luật. Dự thảo Luật đã mở rộng phạm vi chủ thể có thể tham gia hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội. Đây là hướng sửa đổi phù hợp với yêu cầu của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay và khắc phục hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.
Tuy nhiên, để bảo đảm chất lượng đội ngũ báo cáo viên pháp luật, văn bản hướng dẫn thi hành Luật cần quy định cụ thể về tiêu chuẩn, trình tự công nhận, miễn nhiệm, đánh giá và sử dụng báo cáo viên pháp luật. Theo đó, cần quy định rõ các tiêu chí khả năng truyền đạt, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, kinh nghiệm thực tiễn và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, cần quy định cơ chế đánh giá định kỳ, thay thế hoặc miễn nhiệm đối với những trường hợp không còn đáp ứng yêu cầu nhằm bảo đảm đội ngũ báo cáo viên pháp luật hoạt động thực chất, hiệu quả.
Bên cạnh đó, để bổ sung hiệu quả nguồn nhân lực là đội ngũ luật sư, luật gia, tư vấn viên pháp luật, cá nhân khác cung cấp dịch vụ có liên quan đến pháp lý, văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định cụ thể cơ chế huy động, quy định rõ quyền, trách nhiệm, chế độ bồi dưỡng, hỗ trợ kinh phí và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong sử dụng đội ngũ này; quy định cơ chế phối hợp, huy động báo cáo viên, tuyên truyền viên liên ngành hoặc báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật theo lĩnh vực chuyên sâu nhằm khắc phục tình trạng thiếu báo cáo viên, tuyên truyền viên ở các lĩnh vực đặc thù.
2.2. Hoàn thiện quy định về đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật
Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, việc hoàn thiện quy định về đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng. Dự thảo Luật đã có nhiều điều chỉnh theo hướng mở rộng phạm vi tiếp cận, tăng cường truyền thông chính sách và ứng dụng công nghệ số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện, dự thảo Luật cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện ở một số vấn đề sau:
Thứ nhất, về đối tượng đặc thù của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật đã mở rộng đối tượng đặc thù được Nhà nước ưu tiên trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, đặc biệt, các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương hoặc có điều kiện tiếp cận pháp luật còn hạn chế. Đây là quy định có nhiều điểm mới tiến bộ hơn so với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nhằm bảo đảm quyền được quyền tiếp cận thông tin pháp luật của người dân theo Hiến pháp năm 2013[19].
Để quá trình triển khai mang tính khả thi, cần quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành về tiêu chí xác định các nhóm đối tượng ưu tiên; nguyên tắc phân loại theo mức độ khó khăn trong tiếp cận pháp luật; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong xác định nhu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật của từng nhóm đối tượng; đồng thời, quy định trách nhiệm xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện đối với các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật dành cho nhóm đối tượng đặc thù.
Thứ hai, về nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật bổ sung nội dung truyền thông về dự thảo chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có tác động lớn đến xã hội và các nội dung khác cần được phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của pháp luật và yêu cầu quản lý nhà nước. Quy định này nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng theo Nghị quyết số 66-NQ/TW, đồng thời, phù hợp với Quyết định số 407/QĐ-TTg[20].
Tuy nhiên, để tránh tình trạng triển khai không thống nhất giữa các bộ, ngành và địa phương, cần quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành về tiêu chí xác định dự thảo chính sách hoặc dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải thực hiện truyền thông; thời điểm bắt đầu truyền thông; phương thức truyền thông trên môi trường số; trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc tiếp nhận, tổng hợp và phản hồi ý kiến của người dân, doanh nghiệp; cũng như cơ chế phối hợp giữa cơ quan soạn thảo với cơ quan tư pháp, cơ quan thông tin, truyền thông và các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình tổ chức truyền thông chính sách.
Thứ ba, về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật đã quy định bổ sung các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số và ứng dụng công nghệ thông tin, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số quốc gia và sự thay đổi trong phương thức tiếp cận thông tin của người dân. Tuy nhiên, việc triển khai các hình thức này trên thực tế phụ thuộc vào điều kiện hạ tầng, sự phối hợp giữa các cơ quan và năng lực tổ chức thực hiện. Vì vậy, cần quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành về trách nhiệm xây dựng hạ tầng số, bảo đảm kinh phí, cơ sở dữ liệu và nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Nội dung này nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để triển khai Quyết định số 766/QĐ-TTg[21]. Ngoài ra, bổ sung quy định về cơ chế kiểm tra, đánh giá hiệu quả của các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số thông qua các tiêu chí về mức độ tiếp cận, tương tác, mức độ hài lòng của người sử dụng và khả năng chuyển hóa nhận thức pháp luật thành hành vi tuân thủ pháp luật.
2.3. Hoàn thiện các quy định bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật
Dự thảo Luật đã rà soát, sửa đổi các quy định nhằm bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt, các quy định liên quan đến lĩnh vực giáo dục và lĩnh vực tài chính. Việc sửa đổi theo hướng quy định mang tính nguyên tắc, đồng thời, dẫn chiếu áp dụng pháp luật chuyên ngành đối với các nội dung có liên quan góp phần hạn chế sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, để bảo đảm việc triển khai đạt chất lượng, hiệu quả, đặc biệt, quy định tại khoản 2 Điều 39 dự thảo Luật “ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù”, cần quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành về các tiêu chí xác định việc ưu tiên nguồn lực, nguyên tắc phân bổ và trách nhiệm của các cơ quan, địa phương trong bố trí kinh phí thực hiện đối với từng nhóm đối tượng đặc thù. Đồng thời, cần quy định cơ chế kiểm tra, đánh giá việc sử dụng nguồn lực nhằm bảo đảm việc ưu tiên được thực hiện đúng mục tiêu, đúng đối tượng và phát huy hiệu quả trên thực tế.
Kết luận
Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, chuyển đổi số và sắp xếp tinh, gọn tổ chức bộ máy nhà nước. Trên cơ sở phân tích những bất cập của pháp luật hiện hành và yêu cầu thực tiễn, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện liên quan đến tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đối tượng, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; đồng thời, bảo đảm tính thống nhất của Luật với các quy định pháp luật chuyên ngành và mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Những kiến nghị hướng tới hoàn thiện cơ sở pháp lý cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đồng bộ, khả thi và phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Đây là cơ sở để nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân và góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật trong xã hội.
ThS. Phan Thị Phương Huyền & ThS. Lê Thị Hiền
Giảng viên Phân hiệu Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh tại tỉnh Quảng Trị
Ảnh: Intenet
[1]. Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân.
[2]. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
[3]. Kết luận của Ban Bí thư ngày 20/6/2020 về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân.
[4]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[5]. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[6]. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
[7]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[8]. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
[9]. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
[10]. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
[11]. Quyết định số 26/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật.
[12]. Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 của Bộ Tư pháp tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
[13]. Báo cáo số 400/BC-BTP.
[14]. Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026 về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
[15]. Thông tư số 10/2016/TT-BTP ngày 22/7/2016 của Bộ Tư pháp quy định về báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật.
[16]. Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
[17]. Điều 17 đến Điều 22 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.
[18]. Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trình Quốc hội kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.
[19]. Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội khóa XV.
[20]. Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 - 2027”.
[21]. Quyết định số 766/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2025 - 2030”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
2. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.
3. Chính phủ (2026), Tờ trình số 431/TTr-CP và Tờ trình tóm tắt số 432/TTr-CP ngày 24/7/2026 về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
(Nguồn: Ấn phẩm chuyên sâu “Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, xuất bản năm 2026)