Thứ hai 21/09/2026 04:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.

Từ khóa: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật; kiến nghị hoàn thiện.

Đặt vấn đề

Chỉ thị số 32-CT/TW[1] xác định phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị nhằm nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân. Thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, sau hơn 13 năm thi hành, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập trước yêu cầu chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và đổi mới tổ chức bộ máy theo Nghị quyết số 18-NQ/TW[2]. Thời gian gần đây, Đảng đã ban hành nhiều kết luận, nghị quyết, trong đó, khẳng định vai trò của phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra yêu cầu đổi mới công tác này theo hướng gắn với xây dựng và thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, như Kết luận số 80-KL/TW[3] và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị như Nghị quyết số 27-NQ/TW[4], Nghị quyết số 57-NQ/TW[5], Nghị quyết số 59-NQ/TW[6], Nghị quyết số 66-NQ/TW[7], Nghị quyết số 68-NQ/TW[8], Nghị quyết số 71-NQ/TW[9] và Nghị quyết số 80-NQ/TW[10].

Trên cơ sở phân tích thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, nghiên cứu phân tích những khó khăn, vướng mắc về thiết chế, chủ thể, đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tính đồng bộ với hệ thống pháp luật; đồng thời, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới theo đúng chủ trương của Đảng.

1. Một số bất cập trong quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 từ thực tiễn thi hành

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo nền tảng pháp lý tương đối toàn diện cho việc tổ chức, triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi cả nước. Qua hơn 13 năm thi hành, tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từng bước được kiện toàn; nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật không ngừng đổi mới, gắn với yêu cầu thực tiễn và tăng cường ứng dụng công nghệ số. Đồng thời, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các nhóm đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong nhà trường, trợ giúp pháp lý và truyền thông chính sách tiếp tục được quan tâm; cơ chế phối hợp và nguồn lực bảo đảm thực hiện từng bước được hoàn thiện. Những kết quả đó góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân, phục vụ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, trước những yêu cầu về đổi mới trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 phát sinh những hạn chế, bất cập cụ thể:

1.1. Về thiết chế và chủ thể thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Thực tiễn thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 cho thấy, các quy định về thiết chế và chủ thể thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật bộc lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức thực hiện. Cụ thể:

Thứ nhất, quy định về Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật. Điều 7 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 xác định Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật là thiết chế tư vấn cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và huy động nguồn lực cho công tác này. Giai đoạn từ năm 2013 đến trước ngày 08/8/2021, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập ở Trung ương và tất cả các địa phương. Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương do Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Chủ tịch; Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp tỉnh và cấp huyện do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp làm Chủ tịch, với số lượng thành viên tương đối lớn (khoảng 30 - 48 thành viên đối với cấp tỉnh). Năm 2025, thực hiện chủ trương tinh, gọn tổ chức bộ máy theo Nghị quyết số 18-NQ/TW và phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Quyết định số 26/2025/QĐ-TTg[11] hợp nhất Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật với Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng. Theo đó, thành phần Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương được tinh, gọn từ 39 xuống còn 31 thành viên thông qua giảm đầu mối đại diện một số tổ chức chính trị - xã hội, sắp xếp các bộ, ngành và bổ sung đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam để đáp ứng nhiệm vụ mới về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh. Ở địa phương, các tỉnh, thành phố đã thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định mới và ban hành các văn bản cần thiết để bảo đảm hoạt động liên tục, thông suốt[12].

Việc kiện toàn Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật theo Quyết định số 26/2025/QĐ-TTg góp phần tinh, gọn đầu mối, từ đó, nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành và phù hợp với yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, điều này cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và thực tiễn tổ chức thực hiện, khi Luật hiện hành chỉ quy định Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập ở trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, không bắt buộc thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã. Tuy nhiên, do thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, từ ngày 01/7/2025 đến nay đã chấm dứt hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp huyện. Trong khi đó, chính quyền địa phương cấp xã mới có vai trò, trách nhiệm lớn hơn so với cấp xã trước đây về địa bàn, quy mô dân số, nhiệm vụ, quyền hạn. Đặc biệt, chính quyền địa phương cấp xã hiện nay được giao thực hiện nhiều nhiệm vụ trước đây của chính quyền cấp huyện và được phân cấp thực hiện nhiều nhiệm vụ khác từ cấp tỉnh. Nhu cầu thực tiễn tại các địa phương cho thấy, việc thành lập Hội đồng ở cấp xã dưới tác động của quy phạm mang tính bắt buộc trở nên cần thiết, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc kiện toàn và hoạt động của Hội đồng ở cấp xã.

Thứ hai, quy định về báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật. Báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng trong xã hội. Đội ngũ này được kiện toàn, củng cố hằng năm nhằm tăng cường về số lượng và chất lượng. Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Tư pháp về kết thúc hoạt động của báo cáo viên pháp luật cấp huyện, đến nay, cả nước có 10.655 báo cáo viên pháp luật (tại trung ương có 2.486 báo cáo viên, cấp tỉnh có 8.169 báo cáo viên) và 144.538 tuyên truyền viên cấp xã. Một số địa phương đã xây dựng được đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật là người dân tộc với số lượng lớn như: Thái Nguyên, Cao Bằng, Điện Biên, Nghệ An, Sơn La, Thanh Hóa và Lào Cai[13].

Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện cho thấy, quy định về báo cáo viên pháp luật và tuyên truyền viên pháp luật tồn tại một số vướng mắc như sau:

Một là, điểm b khoản 2 Điều 35 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định tiêu chuẩn của Báo cáo viên pháp luật phải có khả năng truyền đạt; tuy nhiên, hiện, chưa có hướng dẫn cụ thể để xác định tiêu chí đánh giá, kiểm tra khả năng truyền đạt vì một số báo cáo viên chỉ mang tính danh nghĩa mà chưa qua thực tế.

Hai là, quy định về báo cáo viên pháp luật các cấp còn bó hẹp trong phạm vi cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan trong lực lượng vũ trang, dẫn đến chưa thu hút, huy động rộng rãi nguồn lực xã hội, nhất là đội ngũ chuyên gia có kiến thức pháp luật chuyên sâu, có kinh nghiệm, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật, quân nhân chuyên nghiệp trong các lực lượng vũ trang, luật sư, luật gia, người có uy tín tại cộng đồng...[14].

Ba là, khoản 2 Điều 3 Thông tư số 10/2016/TT-BTP[15] của Bộ Tư pháp quy định về công nhận báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật “… lựa chọn cán bộ, công chức, viên chức và sỹ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật… xem xét, quyết định công nhận báo cáo viên pháp luật tỉnh”. Quy định này chưa công nhận đối tượng luật sư, luật gia là báo cáo viên pháp luật. Thực tế, Hội Luật gia là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp; Đoàn Luật sư là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, có những người có trình độ, hiểu biết về pháp luật. Do đó, việc quy định như trên là chưa phù hợp.

Bốn là, khoản 4 Điều 3 Thông tư số 10/2016/TT-BTP quy định số lượng báo cáo viên pháp luật do các cơ quan, địa phương quyết định bảo đảm mỗi lĩnh vực pháp luật thuộc phạm vi quản lý chuyên sâu có ít nhất 01 báo cáo viên pháp luật kiêm nhiệm thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn nhiều lĩnh vực chuyên sâu thiếu báo cáo viên pháp luật; một số cơ quan không có báo cáo viên pháp luật hoặc chỉ có 01 báo cáo viên pháp luật và hoạt động kiêm nhiệm, khối lượng công việc nhiều nên khó có thể bảo đảm tính toàn diện các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý theo ngành, lĩnh vực, địa phương[16].

1.2. Về đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật

Đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng, quyết định bảo đảm chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số, nhu cầu tiếp cận pháp luật của người dân ngày càng cao, các quy định hiện hành về đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật bộc lộ một số hạn chế, bất cập:

Thứ nhất, quy định về đối tượng đặc thù của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định 06 nhóm đối tượng đặc thù (người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, nạn nhân bạo lực gia đình, người lao động trong các doanh nghiệp, người đang chấp hành hình phạt tù, đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã)[17], tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, quy định về đối tượng đặc thù chưa bao quát, phù hợp với thực tế, bên cạnh những đối tượng này còn có một số đối tượng khác thuộc nhóm dễ bị tổn thương, yếu thế, điều kiện tiếp cận pháp luật còn hạn chế, nhận thức chưa cao và cần có những chính sách của Nhà nước quan tâm tới các đối tượng này trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật như: người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người có hành vi bạo lực, người có nguy cơ vi phạm pháp luật...

Thứ hai, quy định về nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật. Điều 10 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chỉ quy định nội dung gồm các văn bản quy phạm pháp luật, các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật. Quy định này phù hợp với bối cảnh thời điểm ban hành Luật khi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu hướng đến việc truyền tải quy định pháp luật đã có hiệu lực đến người dân. Tuy nhiên, sau hơn 13 năm thi hành, thực tiễn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu mới đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đặc biệt, yêu cầu truyền thông chính sách ngay từ giai đoạn xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, nhiều chính sách lớn có tác động trực tiếp đến đời sống xã hội nếu không được truyền thông kịp thời, đầy đủ và minh bạch từ giai đoạn dự thảo dễ dẫn đến phản ứng trái chiều, tạo dư luận xã hội phức tạp hoặc gây khó khăn trong quá trình tổ chức thi hành sau khi văn bản được ban hành. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và môi trường số làm thay đổi căn bản cách thức tiếp nhận thông tin pháp luật của người dân, nếu không chủ động truyền thông dự thảo chính sách từ sớm, từ xa thì dễ xuất hiện tình trạng thông tin không chính xác, suy diễn hoặc bị dẫn dắt bởi các nguồn tin không chính thống. Đây là yêu cầu gắn liền với nguyên tắc công khai, minh bạch, dân chủ trong xây dựng pháp luật và quản trị quốc gia hiện đại phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW, đặc biệt, Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định yêu cầu đẩy mạnh truyền thông chính sách, nhất là các chính sách lớn, có tác động trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp nhằm tạo sự đồng thuận xã hội trong quá trình xây dựng pháp luật.

Thứ ba, quy định về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chỉ quy định các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật có tính truyền thống, trong khi đó, với xu thế ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số hiện nay, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đang thiếu các quy định hình thức ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật. Điều này dẫn đến Luật chưa cập nhật kịp thời hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mới, đồng thời, hạn chế việc bố trí nguồn lực cũng như chính sách, cơ chế cụ thể để tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật.

1.3. Về tính thống nhất, đồng bộ của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với các luật chuyên ngành

Một số quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chưa đồng bộ, thống nhất với các quy định trong lĩnh vực giáo dục, tài chính, ngân sách nhà nước. Cụ thể:

Thứ nhất, trong lĩnh vực giáo dục, khoản 2 Điều 25 của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định, Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm ban hành chương trình giáo dục pháp luật trong các cấp học và trình độ đào tạo; quy định thời gian, lộ trình hoàn thành việc chuẩn hóa giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật; tuy nhiên, Luật Giáo dục đại học năm 2025 quy định cơ sở giáo dục đại học được phép tự chủ quyết định nội dung, chương trình đào tạo.

Thứ hai, trong lĩnh vực tài chính, ngân sách nhà nước, khoản 1 Điều 39 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định ngân sách trung ương hỗ trợ các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách. Tuy nhiên, quy định này chưa bảo đảm tính thống nhất với Luật Ngân sách nhà nước năm 2025. Khoản 24, khoản 25 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 quy định cơ chế hỗ trợ từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được thực hiện thông qua bổ sung cân đối ngân sách và bổ sung có mục tiêu. Do đó, quy định tại Điều 39 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chưa đồng bộ với pháp luật về ngân sách nhà nước hiện hành.

2. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu của tình hình mới

Trên cơ sở đánh giá những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và các nội dung sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[18] (dự thảo Luật), nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, khả thi và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

2.1. Hoàn thiện quy định về thiết chế và chủ thể thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức, hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật và đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới. Theo đó, cần tập trung hoàn thiện các nội dung sau:

Thứ nhất, về Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật đã điều chỉnh quy định về Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng phù hợp với chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tuy nhiên, phương án của dự thảo Luật và văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật (sau khi dự thảo Luật được Quốc hội thông qua) (văn bản hướng dẫn thi hành Luật) cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện. Theo đó, dự thảo Luật hoặc văn bản hướng dẫn thi hành Luật cần quy định: “Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập ở trung ương, cấp tỉnh và cấp xã để tư vấn cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân cùng cấp trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời huy động nguồn lực phục vụ công tác này”. Đồng thời, dự thảo Luật nên tiếp tục giao Chính phủ quy định chi tiết về tổ chức, thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã theo hướng tinh, gọn, hoạt động kiêm nhiệm, phù hợp với chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy theo Nghị quyết số 18-NQ/TW.

Thứ hai, về báo cáo viên pháp luật và tuyên truyền viên pháp luật. Dự thảo Luật đã mở rộng phạm vi chủ thể có thể tham gia hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội. Đây là hướng sửa đổi phù hợp với yêu cầu của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay và khắc phục hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.

Tuy nhiên, để bảo đảm chất lượng đội ngũ báo cáo viên pháp luật, văn bản hướng dẫn thi hành Luật cần quy định cụ thể về tiêu chuẩn, trình tự công nhận, miễn nhiệm, đánh giá và sử dụng báo cáo viên pháp luật. Theo đó, cần quy định rõ các tiêu chí khả năng truyền đạt, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, kinh nghiệm thực tiễn và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, cần quy định cơ chế đánh giá định kỳ, thay thế hoặc miễn nhiệm đối với những trường hợp không còn đáp ứng yêu cầu nhằm bảo đảm đội ngũ báo cáo viên pháp luật hoạt động thực chất, hiệu quả.

Bên cạnh đó, để bổ sung hiệu quả nguồn nhân lực là đội ngũ luật sư, luật gia, tư vấn viên pháp luật, cá nhân khác cung cấp dịch vụ có liên quan đến pháp lý, văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định cụ thể cơ chế huy động, quy định rõ quyền, trách nhiệm, chế độ bồi dưỡng, hỗ trợ kinh phí và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong sử dụng đội ngũ này; quy định cơ chế phối hợp, huy động báo cáo viên, tuyên truyền viên liên ngành hoặc báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật theo lĩnh vực chuyên sâu nhằm khắc phục tình trạng thiếu báo cáo viên, tuyên truyền viên ở các lĩnh vực đặc thù.

2.2. Hoàn thiện quy định về đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật

Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, việc hoàn thiện quy định về đối tượng, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng. Dự thảo Luật đã có nhiều điều chỉnh theo hướng mở rộng phạm vi tiếp cận, tăng cường truyền thông chính sách và ứng dụng công nghệ số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện, dự thảo Luật cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện ở một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về đối tượng đặc thù của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật đã mở rộng đối tượng đặc thù được Nhà nước ưu tiên trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, đặc biệt, các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương hoặc có điều kiện tiếp cận pháp luật còn hạn chế. Đây là quy định có nhiều điểm mới tiến bộ hơn so với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nhằm bảo đảm quyền được quyền tiếp cận thông tin pháp luật của người dân theo Hiến pháp năm 2013[19].

Để quá trình triển khai mang tính khả thi, cần quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành về tiêu chí xác định các nhóm đối tượng ưu tiên; nguyên tắc phân loại theo mức độ khó khăn trong tiếp cận pháp luật; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong xác định nhu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật của từng nhóm đối tượng; đồng thời, quy định trách nhiệm xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện đối với các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật dành cho nhóm đối tượng đặc thù.

Thứ hai, về nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật bổ sung nội dung truyền thông về dự thảo chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có tác động lớn đến xã hội và các nội dung khác cần được phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của pháp luật và yêu cầu quản lý nhà nước. Quy định này nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng theo Nghị quyết số 66-NQ/TW, đồng thời, phù hợp với Quyết định số 407/QĐ-TTg[20].

Tuy nhiên, để tránh tình trạng triển khai không thống nhất giữa các bộ, ngành và địa phương, cần quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành về tiêu chí xác định dự thảo chính sách hoặc dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải thực hiện truyền thông; thời điểm bắt đầu truyền thông; phương thức truyền thông trên môi trường số; trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc tiếp nhận, tổng hợp và phản hồi ý kiến của người dân, doanh nghiệp; cũng như cơ chế phối hợp giữa cơ quan soạn thảo với cơ quan tư pháp, cơ quan thông tin, truyền thông và các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình tổ chức truyền thông chính sách.

Thứ ba, về hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật đã quy định bổ sung các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số và ứng dụng công nghệ thông tin, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số quốc gia và sự thay đổi trong phương thức tiếp cận thông tin của người dân. Tuy nhiên, việc triển khai các hình thức này trên thực tế phụ thuộc vào điều kiện hạ tầng, sự phối hợp giữa các cơ quan và năng lực tổ chức thực hiện. Vì vậy, cần quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành về trách nhiệm xây dựng hạ tầng số, bảo đảm kinh phí, cơ sở dữ liệu và nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Nội dung này nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để triển khai Quyết định số 766/QĐ-TTg[21]. Ngoài ra, bổ sung quy định về cơ chế kiểm tra, đánh giá hiệu quả của các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số thông qua các tiêu chí về mức độ tiếp cận, tương tác, mức độ hài lòng của người sử dụng và khả năng chuyển hóa nhận thức pháp luật thành hành vi tuân thủ pháp luật.

2.3. Hoàn thiện các quy định bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật

Dự thảo Luật đã rà soát, sửa đổi các quy định nhằm bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt, các quy định liên quan đến lĩnh vực giáo dục và lĩnh vực tài chính. Việc sửa đổi theo hướng quy định mang tính nguyên tắc, đồng thời, dẫn chiếu áp dụng pháp luật chuyên ngành đối với các nội dung có liên quan góp phần hạn chế sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, để bảo đảm việc triển khai đạt chất lượng, hiệu quả, đặc biệt, quy định tại khoản 2 Điều 39 dự thảo Luật “ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù”, cần quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành về các tiêu chí xác định việc ưu tiên nguồn lực, nguyên tắc phân bổ và trách nhiệm của các cơ quan, địa phương trong bố trí kinh phí thực hiện đối với từng nhóm đối tượng đặc thù. Đồng thời, cần quy định cơ chế kiểm tra, đánh giá việc sử dụng nguồn lực nhằm bảo đảm việc ưu tiên được thực hiện đúng mục tiêu, đúng đối tượng và phát huy hiệu quả trên thực tế.

Kết luận

Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, chuyển đổi số và sắp xếp tinh, gọn tổ chức bộ máy nhà nước. Trên cơ sở phân tích những bất cập của pháp luật hiện hành và yêu cầu thực tiễn, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện liên quan đến tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đối tượng, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; đồng thời, bảo đảm tính thống nhất của Luật với các quy định pháp luật chuyên ngành và mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Những kiến nghị hướng tới hoàn thiện cơ sở pháp lý cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đồng bộ, khả thi và phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Đây là cơ sở để nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân và góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, ý thức thượng tôn Hiến pháp, pháp luật trong xã hội.

ThS. Phan Thị Phương Huyền & ThS. Lê Thị Hiền

Giảng viên Phân hiệu Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh tại tỉnh Quảng Trị

Ảnh: Intenet

[1]. Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân.

[2]. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

[3]. Kết luận của Ban Bí thư ngày 20/6/2020 về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân.

[4]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[5]. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[6]. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

[7]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[8]. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

[9]. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

[10]. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

[11]. Quyết định số 26/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật.

[12]. Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 của Bộ Tư pháp tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.

[13]. Báo cáo số 400/BC-BTP.

[14]. Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026 về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

[15]. Thông tư số 10/2016/TT-BTP ngày 22/7/2016 của Bộ Tư pháp quy định về báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật.

[16]. Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

[17]. Điều 17 đến Điều 22 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.

[18]. Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trình Quốc hội kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.

[19]. Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội khóa XV.

[20]. Quyết định số 407/QĐ-TTg ngày 30/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tổ chức truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật giai đoạn 2022 - 2027”.

[21]. Quyết định số 766/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2025 - 2030”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

2. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.

3. Chính phủ (2026), Tờ trình số 431/TTr-CP và Tờ trình tóm tắt số 432/TTr-CP ngày 24/7/2026 về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

(Nguồn: Ấn phẩm chuyên sâu “Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tái cấu trúc quy trình thủ tục thi hành án dân sự: Cắt giảm 96,6% chi phí tuân thủ, nâng cao trải nghiệm trên môi trường số

Tái cấu trúc quy trình thủ tục thi hành án dân sự: Cắt giảm 96,6% chi phí tuân thủ, nâng cao trải nghiệm trên môi trường số

Ngày 18/9/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 2088/QĐ-BTP phê duyệt Phương án tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Đột phá này tập trung vào thủ tục "Yêu cầu thi hành án dân sự", loại bỏ gánh nặng hồ sơ giấy, tự động hóa kết nối dữ liệu và cắt giảm tới 96,6% tổng chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Phản ánh mức độ can thiệp của Nhà nước vào quan hệ hôn nhân và gia đình, ly thân pháp lý cấu thành cơ chế mà theo đó, các bên vợ chồng được phép sống riêng nhưng vẫn duy trì giá trị pháp lý của hôn nhân, gắn với các quyền và nghĩa vụ được xác định rõ ràng. Tại Việt Nam, dù trở thành hiện tượng xã hội phổ biến, song, ly thân hiện chưa được pháp luật điều chỉnh, làm cho các quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng trong thời gian ly thân thiếu căn cứ pháp lý để xác định. Khoảng trống pháp lý này tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, cũng như của chủ thể thứ ba do thiếu biện pháp pháp lý bảo đảm tương xứng. Nghiên cứu phân tích, làm rõ khoảng trống pháp lý thông qua các số liệu thực tế, kinh nghiệm quốc tế và nền tảng lý luận về quyền con người, từ đó, đề xuất xây dựng chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ thi hành án dân sự thời kỳ chuyển đổi số

Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ thi hành án dân sự thời kỳ chuyển đổi số

Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tiến trình chuyển đổi số quốc gia, công tác tổ chức cán bộ tại các cơ quan Thi hành án dân sự (THADS) đóng vai trò then chốt quyết định hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật. Sự ra đời của Luật Cán bộ, công chức năm 2025, Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức (Nghị định số 170/2025/NĐ-CP) và đặc biệt là Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) đã tạo một khung pháp lý mới với những thay đổi mang tính đột phá. Hệ thống THADS phải có những bước chuyển mình mạnh mẽ trong công tác tuyển dụng, sắp xếp bộ máy, đánh giá và quản trị nguồn nhân lực. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng công chức thông qua dữ liệu thực tiễn tại tỉnh Khánh Hòa tính đến tháng 5/2026, từ đó đề xuất các giải pháp trọng tâm nhằm xây dựng đội ngũ công chức THADS chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: