Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 gồm 05 chương, 39 điều, thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, định hướng đổi mới của Đảng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Bên cạnh việc kế thừa những quy định còn giá trị của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, Luật mới sửa đổi các quy định không còn phù hợp, đồng thời bám sát các quan điểm chỉ đạo về đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, đổi mới tư duy trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Cùng với đó, các quy định của Luật được xây dựng bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất trong hệ thống pháp luật, đồng bộ với các luật có liên quan, tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, cũng như tính khả thi của các chính sách trong điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam; tuân thủ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, các văn bản hướng dẫn thi hành và quy định có liên quan về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tiếp tục được xác định là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Luật bổ sung, quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế trong xây dựng các tài liệu phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Theo đó, Điều 23 quy định: Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm xây dựng thông cáo báo chí, tài liệu giới thiệu về văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; biên soạn tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật về văn bản; đăng tải thông cáo báo chí, tài liệu trên Cổng Pháp luật quốc gia và cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan mình; cử báo cáo viên pháp luật, người có trình độ chuyên môn thuộc phạm vi quản lý hoặc giới thiệu chuyên gia tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật về văn bản do cơ quan mình chủ trì soạn thảo.
Cơ quan đề xuất điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế nhân danh Nhà nước và Chính phủ có trách nhiệm xây dựng thông cáo báo chí, biên soạn tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật về điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế và đăng tải trên Cổng Pháp luật quốc gia, cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan mình. Trường hợp thỏa thuận quốc tế không nhân danh Nhà nước và Chính phủ, cơ quan đề xuất có trách nhiệm biên soạn, đăng tải tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật về thỏa thuận quốc tế trên cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan mình.
Bên cạnh đó, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 phân định trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước theo hướng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; phân công Bộ, cơ quan ngang Bộ tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các văn bản không do Chính phủ trình hoặc ban hành, không do Thủ tướng Chính phủ ban hành, không do Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo hoặc ban hành và điều ước quốc tế không do Bộ, cơ quan ngang Bộ đề xuất. Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế thuộc phạm vi, lĩnh vực phụ trách.
Tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và do mình ban hành; điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước, Chính phủ và do địa phương mình ký kết. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về các nội dung thuộc trách nhiệm, phạm vi quản lý của chính quyền địa phương cấp xã hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn (Điều 24).
Ngoài ra, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 còn bổ sung trách nhiệm của một số chủ thể khác trong việc thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật như: Cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân, người sử dụng lao động, cơ quan báo chí...
Mở rộng đối tượng đặc thù được ưu tiên phổ biến, giáo dục pháp luật
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 quy định 08 nhóm đặc thù, trong đó bổ sung người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo, người cao tuổi, người chấp hành xong án phạt tù đang tái hòa nhập cộng đồng, nạn nhân của hành vi mua bán người; mở rộng nhóm “người dân tộc thiểu số”, “nạn nhân bạo lực”.
Về chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù tại Điều 17, Luật quy định theo hướng xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với từng thời kỳ; tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật chuyên biệt theo từng nhóm đối tượng đặc thù cho báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, người biết tiếng dân tộc thiểu số, người được mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật.
Ngoài ra, Luật cũng quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù tại Điều 18, trong đó, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến đối tượng đặc thù có trách nhiệm hướng dẫn nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, bố trí kinh phí hằng năm và chỉ đạo, tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù thuộc phạm vi quản lý.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan, tổ chức khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn chủ động hoặc phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức hoặc phối hợp tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật và hỗ trợ, tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động của tổ chức, doanh nghiệp mình là đối tượng đặc thù, bảo đảm thời gian, địa điểm phù hợp với tính chất, quy mô, điều kiện sản xuất, kinh doanh.
Cơ quan thi hành án, Ủy ban nhân dân, cơ quan, tổ chức có liên quan chủ động hoặc phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho người đang chấp hành án phạt tù, người được hưởng án treo, người đang chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, người chấp hành xong án phạt tù đang tái hòa nhập cộng đồng; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội và các nền tảng số để người dân, doanh nghiệp tiếp cận pháp luật thuận lợi, hiệu quả
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 bổ sung chính sách ưu tiên, khuyến khích thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua nền tảng số, mạng xã hội và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI); quy định trách nhiệm bảo đảm an toàn, phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong quá trình triển khai các hình thức này, trong đó phải có sự kiểm soát thông tin dựa trên dữ liệu chính thức của cơ quan nhà nước; thực hiện kiểm chứng trước khi cung cấp, gắn nhãn cảnh báo, đính chính và chịu trách nhiệm về tính chính xác của dữ liệu đầu vào; bổ sung hành vi nghiêm cấm để tạo lập, phát tán thông tin, tài liệu giả mạo hoặc làm sai lệch nội dung pháp luật, chính sách.
Bên cạnh đó, Luật xác lập vị trí của Công Pháp luật quốc gia là nền tảng số quốc gia về pháp luật dùng chung cho các ngành, lĩnh vực, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân, người dân, doanh nghiệp tiếp cận pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm chuẩn hóa, cập nhật, chia sẻ, quản lý dữ liệu pháp luật thuộc phạm vi quản lý trên Cổng (khoản 1 Điều 13).
Bổ sung quy định về truyền thông chính sách
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 quy định các nguyên tắc, mục đích, nội dung, hình thức thực hiện truyền thông chính sách để nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, tạo đồng thuận xã hội trong thi hành pháp luật (Điều 21), cụ thể:
Về mục đích, truyền thông chính sách được thực hiện nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tham gia xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật; tạo sự đồng thuận xã hội trong tổ chức thi hành pháp luật; cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về nội dung, tác động dự kiến của chính sách giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu rõ, tham gia góp ý, hoàn thiện chính sách, dự thảo văn bản và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức thi hành văn bản; tiếp nhận ý kiến, phản hồi của cơ quan, tổ chức, cá nhân để hoàn thiện chính sách, dự thảo văn bản bảo đảm phù hợp, khả thi, góp phần nâng cao chất lượng văn bản; đồng thời định hướng thông tin để kịp thời đấu tranh, phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc chính sách, pháp luật.
Nội dung truyền thông chính sách gồm: (i) Sự cần thiết, mục đích, quan điểm xây dựng, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của chính sách, dự thảo văn bản; (ii) Nội dung cơ bản của chính sách, dự thảo văn bản, ưu tiên nội dung có tác động lớn đến xã hội, có nhiều ý kiến khác nhau, được dư luận xã hội quan tâm; (iii) Nội dung mới hoặc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ so với quy định hiện hành về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan; quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân; (iv) Nội dung khác cần thông tin rộng rãi đến cơ quan, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội.
Truyền thông chính sách được thực hiện thông qua Cổng Pháp luật quốc gia; cổng, trang thông tin điện tử; báo chí; nền tảng số, mạng xã hội hoặc hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật. Thời điểm truyền thông chính sách thực hiện theo quy định của pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật.
Ngoài ra, Luật còn quy định trách nhiệm của cơ quan chủ trì lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản trong truyền thông chính sách; vai trò, trách nhiệm của cơ quan báo chí; việc tiếp nhận, tổng hợp, giải trình đầy đủ, công khai và kịp thời các ý kiến góp ý, phản hồi.
Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập và hoạt động thống nhất ở trung ương, cấp tỉnh, cấp xã
Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật là tổ chức có chức năng tư vấn cho Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương, Ủy ban nhân dân về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và các giải pháp huy động lực, nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Các thành viên Hội đồng hoạt động kiêm nhiệm. Luật quy định Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật có thể được thành lập ở Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức ở Trung ương do người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó quyết định.
Thẩm quyền quyết định việc thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương được giao cho Thủ tướng Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp mình.
Trong bối cảnh chính quyền cấp xã có quy mô quản lý về địa giới, dân cư được mở rộng, được phân cấp, phân quyền, nhiều nhiệm vụ, việc thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và đưa công tác này hướng mạnh về cơ sở, bảo đảm thiết thực, phục vụ kịp thời nhu cầu tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện chính sách, quy định về kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 quy định có chính sách ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài học tập, tìm hiểu pháp luật Việt Nam; lồng ghép nguồn lực trong các chương trình, đề án có liên quan; tăng cường bồi dưỡng kiến thức pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật nhằm nâng cao kỷ luật, kỷ cương, tính gương mẫu của cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, cá nhân khác trong lực lượng vũ trang nhân dân trong hoạt động công vụ, hoạt động nghề nghiệp và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật.
Đáng chú ý, kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được quy định tại Điều 36 do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và huy động từ các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật; ưu tiên kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù.
Để huy động nguồn lực xã hội, tăng cường phân quyền cho chính quyền địa phương, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyền quyết định chính sách khác để khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia, hỗ trợ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương để tạo cơ sở pháp lý cho cấp tỉnh chủ động, linh hoạt quyết định cơ chế, chính sách phù hợp, thu hút nguồn lực xã hội cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Tăng cường thu hút, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 bổ sung quy định về báo cáo viên pháp luật cấp xã nhằm huy động tối đa đội ngũ nhân lực có kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa bàn cơ sở; đổi mới việc quản lý báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật theo hướng đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ; đồng thời phân cấp, phân quyền cho người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trung ương trong việc lựa chọn, công bố danh sách báo cáo viên pháp luật của cơ quan mình.
Ngoài ra, Luật còn bổ sung, hoàn thiện một số quy định về nguyên tắc, các hành vi bị nghiêm cấm, công tác giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật...
Ảnh: internet