Chủ nhật 31/08/2025 06:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính - Vướng mắc và giải pháp thực hiện

Xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính - Vướng mắc và giải pháp thực hiện

1. Thực trạng quy trình xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính

Tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 31 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 (Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính) quy định về việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính như sau:

“1. Đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có một trong các quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm (nếu có) và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định có hiệu lực.

2. Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này chuyển đến. Trường hợp cần thiết phải xác minh thêm tình tiết để có căn cứ ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

3. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trong trường hợp cần xác minh thêm quy định tại khoản 2 Điều này thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày”.

Trong bối cảnh hiện nay, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính theo quy định nêu trên là khá nhiều. Tuy nhiên, quá trình áp dụng quy định pháp luật, đặc biệt là những quy định về trình tự, thủ tục đối với những trường hợp này đang có những khó khăn, vướng mắc nhất định. Một tình huống cụ thể như sau: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tiến hành điều tra và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với ông Nguyễn Văn A - Chủ quán Karaoke X do có hành vi mua bán người dưới 16 tuổi, cụ thể: Ông Nguyễn Văn A đã thỏa thuận để mua ba thiếu nữ có độ tuổi từ 13 đến 15 tuổi để làm nhân viên phục vụ quán hát. Hành vi của Nguyễn Văn A đã cấu thành tội mua bán người dưới 16 tuổi được pháp luật quy định. Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V còn làm rõ ông Nguyễn Văn A đã thực hiện một số hành vi vi phạm hành chính (thể hiện tại các biên bản ghi lời khai và biên bản ghi nhận sự việc) như sau:

- Sử dụng người từ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi làm công việc ngoài danh mục được pháp luật cho phép theo quy định tại khoản 3 Điều 143 Bộ luật Lao động và điểm a khoản 3 Điều 29 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động.

- Sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm các công việc bị cấm hoặc làm việc tại nơi làm việc bị cấm quy định tại Điều 147 Bộ luật Lao động và điểm c khoản 3 Điều 29 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ.

- Không thực hiện đúng quy định về thông báo lưu trú cho các nhân viên được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

- Hoạt động kinh doanh dịch vụ có điều kiện về an ninh trật tự chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã củng cố, hoàn thiện hồ sơ và chuyển sang Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V để tiến hành truy tố đối với hành vi mua bán người dưới 16 tuổi đối với ông Nguyễn Văn A theo quy định pháp luật. Đồng thời, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn A về các hành vi vi phạm hành chính nêu trên. Căn cứ vào Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V có văn bản gửi đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V kèm theo hồ sơ vi phạm hành chính đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn A về bốn hành vi vi phạm hành chính nêu trên. Sau khi xem xét hồ sơ vụ việc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V nhận thấy hồ sơ không có các tài liệu gửi kèm theo như được quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính như: Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính. Trong khi đó, biên bản vi phạm hành chính được lập đối với bốn hành vi vi phạm hành chính của ông Nguyễn Văn A được tiến hành sau khi kết thúc quá trình điều tra (được lập đồng thời với việc ban hành kết luận điều tra vụ án) nên vi phạm thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính được quy định tại Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và khoản 2 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V cho rằng hồ sơ không đủ cơ sở để xác định thời hạn và các trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V có văn bản báo cáo giải trình với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V, cho rằng hồ sơ đã đủ điều kiện để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính vì các lý do sau đây:

Thứ nhất, ông Nguyễn Văn A thực hiện đồng thời nhiều hành vi vi phạm, trong đó có hành vi cấu thành tội phạm và có hành vi vi phạm hành chính. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã ban hành quyết định khởi tố vụ án đối với hành vi mua bán người dưới 16 tuổi. Do vậy, trong trường hợp này, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V không thể ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án.

Thứ hai, vụ việc của ông Nguyễn Văn A được tiến hành điều tra, xác minh theo thủ tục tố tụng hình sự được pháp luật quy định. Trong quá trình điều tra, xác minh, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã xác định được ngoài hành vi phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi, ông Nguyễn Văn A còn thực hiện bốn hành vi vi phạm hành chính. Do đó, kết thúc quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với bốn hành vi của ông Nguyễn Văn A là hoàn toàn đúng và bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng hình sự được pháp luật quy định.

Xem xét các lý do của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V như trình bày ở trên và đối chiếu với các quy định pháp luật liên quan có thể nhận thấy một số vấn đề như sau:

Một là, theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có một trong các quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm (nếu có) và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định có hiệu lực. Tuy nhiên, Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính không quy định trong trường hợp vụ việc vừa có hành vi phạm tội, vừa có hành vi vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự có ban hành một trong các quyết định nêu trên đối với các hành vi vi phạm hành chính hay không.

Hai là, theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại phát hiện các hành vi vi phạm hành chính thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng không quy định về việc lập biên bản vi phạm hành chính trong trường hợp này.

Để giải quyết vướng mắc trong trường hợp nêu trên, đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, trong quá trình điều tra, xác minh cho thấy người vi phạm vừa có hành vi phạm tội, vừa có hành vi vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cần tách các hành vi vi phạm để xử lý cho phù hợp. Theo đó, đối với hành vi phạm tội, cần giữ nguyên quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều tra, xác minh làm rõ. Đối với hành vi vi phạm hành chính thì không ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cần lập biên bản vi phạm hành chính để làm cơ sở cho việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Trong trường hợp này, việc lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt hành chính được thực hiện theo trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính được pháp luật quy định.

2. Đề xuất hoàn thiện Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính

Thứ nhất, cần bổ sung quy định đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, trong quá trình điều tra, xác minh cho thấy người vi phạm vừa có hành vi phạm tội, vừa có hành vi vi phạm hành chính thì giữ nguyên quyết định khởi tố vụ án đối với hành vi phạm tội, không ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án đối với hành vi vi phạm hành chính.

Thứ hai, bổ sung quy định trong quá trình điều tra, xác minh, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự phát hiện có hành vi vi phạm hành chính thì cần kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính để làm cơ sở cho việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ ba, bổ sung quy định trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự xác định được vi phạm hành chính thì phải chuyển biên bản vi phạm hành chính kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm (nếu có) và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để tiến hành ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.

Như vậy, từ thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính đã cho thấy có những khó khăn, vướng mắc nhất định. Điều này đang đặt ra yêu cầu cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục. Việc sửa đổi, bổ sung hoặc có hướng dẫn đối với quy định pháp luật cụ thể nêu trên là cơ sở để việc xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính được thực hiện thống nhất, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, đồng thời, góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong giai đoạn hiện nay./.

TS. Nguyễn Tuấn An

Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở HÀ TĨNH THÁCH THỨC VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI TỪ THỰC TIỄN

HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở HÀ TĨNH THÁCH THỨC VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI TỪ THỰC TIỄN

Trợ giúp pháp lý là chính sách nhân văn sâu sắc, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là những người yếu thế trong xã hội, người có công với cách mạng. Đồng thời, đây cũng là công cụ quan trọng nhằm bảo đảm công lý, để mọi người dân đều được tiếp cận pháp luật bình đẳng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Giải pháp khắc phục vướng mắc trong sử dụng Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch phục vụ vận hành chính quyền địa phương 02 cấp

Giải pháp khắc phục vướng mắc trong sử dụng Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch phục vụ vận hành chính quyền địa phương 02 cấp

Ngày 15/8/2025, Bộ Tư pháp đã có Văn bản số 5006/BTP-HCTP về giải pháp khắc phục các khó khăn, vướng mắc trong sử dụng Phần mềm đăng ký, quản lý hộ tịch phục vụ vận hành chính quyền địa phương 02 cấp gửi Văn phòng Trung ương Đảng, trong đó, xác định rõ nguyên nhân và những giải pháp để kịp thời khắc phục các khó khăn, vướng mắc.
Thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Theo Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 27/6/2025, kể từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền theo lãnh thổ tiếp nhận nhiệm vụ xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng mà Tòa án nhân dân cấp huyện đang giải quyết.
Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 3, tỉnh Lào Cai quyết tâm bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho người dân sau sáp nhập

Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 3, tỉnh Lào Cai quyết tâm bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho người dân sau sáp nhập

Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 3, tỉnh Lào Cai được thành lập ngày 01/7/2025 trên cơ sở hợp nhất Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 3 huyện Văn Bàn (cũ) và Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 4 huyện Bảo Yên (cũ). Từ khi được thành lập, Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 3 thích ứng mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho người dân sau sáp nhập.
Xác định đối tượng trợ giúp pháp lý là người dân tộc thiểu số vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn khi triển khai chính quyền địa phương hai cấp

Xác định đối tượng trợ giúp pháp lý là người dân tộc thiểu số vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn khi triển khai chính quyền địa phương hai cấp

Sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, việc xác định đối tượng trợ giúp pháp lý người dân tộc thiểu số vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn phát sinh một số bất cập cần có giải pháp tháo gỡ.
Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Lào Cai tiếp tục nỗ lực, thực sự là điểm tựa pháp lý tin cậy cho người dân

Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Lào Cai tiếp tục nỗ lực, thực sự là điểm tựa pháp lý tin cậy cho người dân

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền tiếp cận công lý của công dân, đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế được xác định là một mục tiêu trọng tâm. Trợ giúp pháp lý là công cụ hữu hiệu, cầu nối đưa chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, bảo đảm công bằng xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân.
Điều kiện được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ ngày 01/7/2025

Điều kiện được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ ngày 01/7/2025

Ngày 30/6/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 176/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về trợ cấp hưu trí, trong đó đã thể chế hóa các chính sách về trợ cấp hưu trí xã hội đối với người cao tuổi, đặc biệt là những người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo không được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025.
Nới lỏng điều kiện cho người chưa thành niên khi xin nhập quốc tịch Việt Nam

Nới lỏng điều kiện cho người chưa thành niên khi xin nhập quốc tịch Việt Nam

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 24/6/2025 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2025. Luật đã nới lỏng điều kiện liên quan đến việc nhập quốc tịch Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các trường hợp có cha đẻ hoặc mẹ đẻ hoặc ông nội và bà nội hoặc ông ngoại và bà ngoại là công dân Việt Nam; nhà đầu tư, nhà khoa học, chuyên gia nước ngoài... được nhập quốc tịch Việt Nam.
Quy định pháp luật về quyền trợ giúp pháp lý của người khuyết tật và kiến nghị hoàn thiện

Quy định pháp luật về quyền trợ giúp pháp lý của người khuyết tật và kiến nghị hoàn thiện

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý, là chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước, giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm người yếu thế trong xã hội, trong đó có người khuyết tật.
Áp dụng thống nhất chuẩn nghề nghiệp nhà giáo trong cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục ngoài công lập

Áp dụng thống nhất chuẩn nghề nghiệp nhà giáo trong cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục ngoài công lập

Đây là một trong những nội dung quan trọng của Luật Nhà giáo năm 2025 nhằm xác lập vị trí pháp lý đầy đủ cho nhà giáo trong cả cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập.
Điều kiện để được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp cao hơn so với nhà giáo làm việc trong điều kiện bình thường

Điều kiện để được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp cao hơn so với nhà giáo làm việc trong điều kiện bình thường

Đây là một trong những nội dung mới quan trọng được quy định tại Luật Nhà giáo năm 2025 nhằm thu hút và hỗ trợ nhà giáo về công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Hoạt động tổ chức điểm cầu thành phần phiên tòa trực tuyến tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu: Bước tiến quan trọng trong quá trình cải cách tư pháp và ứng dụng công nghệ thông tin

Hoạt động tổ chức điểm cầu thành phần phiên tòa trực tuyến tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu: Bước tiến quan trọng trong quá trình cải cách tư pháp và ứng dụng công nghệ thông tin

Trong quá trình sắp xếp tổ chức chính quyền địa phương hai cấp cũng như tinh gọn bộ máy của các cấp, các ngành, việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số giảm thiểu thủ tục hành chính để giải quyết công việc luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo. Việc xét xử trực tuyến phù hợp với chủ trương của Đảng, phù hợp với thực tiễn, bảo đảm tư pháp không chậm trễ, tiết kiệm chi phí xã hội.
Học sinh người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo thường trú tại xã khu vực II, khu vực I được hưởng chính sách bán trú

Học sinh người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo thường trú tại xã khu vực II, khu vực I được hưởng chính sách bán trú

Đây là một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách (Nghị định số 66/2025/NĐ-CP). Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2025 và thay thế Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn và Thông tư liên tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT ngày 29/5/2009 của Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường dự bị đại học dân tộc.
Phát triển hệ thống luật sư trợ giúp pháp lý chuyên nghiệp, chất lượng cao, có phạm vi phục vụ toàn quốc

Phát triển hệ thống luật sư trợ giúp pháp lý chuyên nghiệp, chất lượng cao, có phạm vi phục vụ toàn quốc

Đây là mục tiêu đến năm 2030 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam góp phần mở rộng quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý đến các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, bảo đảm nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
Bảo đảm quyền được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý khi Nhà nước thu hồi đất

Bảo đảm quyền được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý khi Nhà nước thu hồi đất

Sau hơn 01 năm thi hành, Luật Đất đai năm 2024 (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 43/2024/QH15) đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người sử dụng đất, đặc biệt đối với những người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, Luật vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập đòi hỏi phải tiếp tục được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Từ thực tiễn này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình tổ chức, thi hành Luật, trong đó có việc sửa đổi các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Theo dõi chúng tôi trên:

he-thong-benh-vien-quoc-te-vinmec
trung-nguyen
hanh-phuc
cong-ty-than-uong-bi
vien-khoa-hoac-cong-nghe-xay-dung
bao-chi-cm
cong-ty-co-phan-loc-hoa-dau-binh-son
sofitel-legend-metropole-ha-noi