Thứ sáu 17/07/2026 06:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính - Vướng mắc và giải pháp thực hiện

Xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính - Vướng mắc và giải pháp thực hiện

1. Thực trạng quy trình xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính

Tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 31 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 (Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính) quy định về việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính như sau:

“1. Đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có một trong các quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm (nếu có) và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định có hiệu lực.

2. Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này chuyển đến. Trường hợp cần thiết phải xác minh thêm tình tiết để có căn cứ ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

3. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trong trường hợp cần xác minh thêm quy định tại khoản 2 Điều này thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày”.

Trong bối cảnh hiện nay, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính theo quy định nêu trên là khá nhiều. Tuy nhiên, quá trình áp dụng quy định pháp luật, đặc biệt là những quy định về trình tự, thủ tục đối với những trường hợp này đang có những khó khăn, vướng mắc nhất định. Một tình huống cụ thể như sau: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tiến hành điều tra và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với ông Nguyễn Văn A - Chủ quán Karaoke X do có hành vi mua bán người dưới 16 tuổi, cụ thể: Ông Nguyễn Văn A đã thỏa thuận để mua ba thiếu nữ có độ tuổi từ 13 đến 15 tuổi để làm nhân viên phục vụ quán hát. Hành vi của Nguyễn Văn A đã cấu thành tội mua bán người dưới 16 tuổi được pháp luật quy định. Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V còn làm rõ ông Nguyễn Văn A đã thực hiện một số hành vi vi phạm hành chính (thể hiện tại các biên bản ghi lời khai và biên bản ghi nhận sự việc) như sau:

- Sử dụng người từ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi làm công việc ngoài danh mục được pháp luật cho phép theo quy định tại khoản 3 Điều 143 Bộ luật Lao động và điểm a khoản 3 Điều 29 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động.

- Sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm các công việc bị cấm hoặc làm việc tại nơi làm việc bị cấm quy định tại Điều 147 Bộ luật Lao động và điểm c khoản 3 Điều 29 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ.

- Không thực hiện đúng quy định về thông báo lưu trú cho các nhân viên được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

- Hoạt động kinh doanh dịch vụ có điều kiện về an ninh trật tự chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã củng cố, hoàn thiện hồ sơ và chuyển sang Viện kiểm sát nhân dân tỉnh V để tiến hành truy tố đối với hành vi mua bán người dưới 16 tuổi đối với ông Nguyễn Văn A theo quy định pháp luật. Đồng thời, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn A về các hành vi vi phạm hành chính nêu trên. Căn cứ vào Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V có văn bản gửi đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V kèm theo hồ sơ vi phạm hành chính đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn A về bốn hành vi vi phạm hành chính nêu trên. Sau khi xem xét hồ sơ vụ việc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V nhận thấy hồ sơ không có các tài liệu gửi kèm theo như được quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính như: Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính. Trong khi đó, biên bản vi phạm hành chính được lập đối với bốn hành vi vi phạm hành chính của ông Nguyễn Văn A được tiến hành sau khi kết thúc quá trình điều tra (được lập đồng thời với việc ban hành kết luận điều tra vụ án) nên vi phạm thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính được quy định tại Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và khoản 2 Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V cho rằng hồ sơ không đủ cơ sở để xác định thời hạn và các trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V có văn bản báo cáo giải trình với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh V, cho rằng hồ sơ đã đủ điều kiện để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính vì các lý do sau đây:

Thứ nhất, ông Nguyễn Văn A thực hiện đồng thời nhiều hành vi vi phạm, trong đó có hành vi cấu thành tội phạm và có hành vi vi phạm hành chính. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã ban hành quyết định khởi tố vụ án đối với hành vi mua bán người dưới 16 tuổi. Do vậy, trong trường hợp này, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V không thể ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án.

Thứ hai, vụ việc của ông Nguyễn Văn A được tiến hành điều tra, xác minh theo thủ tục tố tụng hình sự được pháp luật quy định. Trong quá trình điều tra, xác minh, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã xác định được ngoài hành vi phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi, ông Nguyễn Văn A còn thực hiện bốn hành vi vi phạm hành chính. Do đó, kết thúc quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với bốn hành vi của ông Nguyễn Văn A là hoàn toàn đúng và bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng hình sự được pháp luật quy định.

Xem xét các lý do của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V như trình bày ở trên và đối chiếu với các quy định pháp luật liên quan có thể nhận thấy một số vấn đề như sau:

Một là, theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có một trong các quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm (nếu có) và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định có hiệu lực. Tuy nhiên, Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính không quy định trong trường hợp vụ việc vừa có hành vi phạm tội, vừa có hành vi vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự có ban hành một trong các quyết định nêu trên đối với các hành vi vi phạm hành chính hay không.

Hai là, theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại phát hiện các hành vi vi phạm hành chính thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng không quy định về việc lập biên bản vi phạm hành chính trong trường hợp này.

Để giải quyết vướng mắc trong trường hợp nêu trên, đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, trong quá trình điều tra, xác minh cho thấy người vi phạm vừa có hành vi phạm tội, vừa có hành vi vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cần tách các hành vi vi phạm để xử lý cho phù hợp. Theo đó, đối với hành vi phạm tội, cần giữ nguyên quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều tra, xác minh làm rõ. Đối với hành vi vi phạm hành chính thì không ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cần lập biên bản vi phạm hành chính để làm cơ sở cho việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Trong trường hợp này, việc lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt hành chính được thực hiện theo trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính được pháp luật quy định.

2. Đề xuất hoàn thiện Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính

Thứ nhất, cần bổ sung quy định đối với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, trong quá trình điều tra, xác minh cho thấy người vi phạm vừa có hành vi phạm tội, vừa có hành vi vi phạm hành chính thì giữ nguyên quyết định khởi tố vụ án đối với hành vi phạm tội, không ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án đối với hành vi vi phạm hành chính.

Thứ hai, bổ sung quy định trong quá trình điều tra, xác minh, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự phát hiện có hành vi vi phạm hành chính thì cần kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính để làm cơ sở cho việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ ba, bổ sung quy định trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự xác định được vi phạm hành chính thì phải chuyển biên bản vi phạm hành chính kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm (nếu có) và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để tiến hành ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.

Như vậy, từ thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính đã cho thấy có những khó khăn, vướng mắc nhất định. Điều này đang đặt ra yêu cầu cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục. Việc sửa đổi, bổ sung hoặc có hướng dẫn đối với quy định pháp luật cụ thể nêu trên là cơ sở để việc xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính được thực hiện thống nhất, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, đồng thời, góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong giai đoạn hiện nay./.

TS. Nguyễn Tuấn An

Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: