Tư duy mới của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân, được thể hiện trong các nghị quyết quan trọng như Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, đã mở ra chân trời mới, nơi công lý và kinh doanh không đối nghịch mà trở thành hai trụ cột cùng nâng bước doanh nhân Việt Nam trên hành trình hội nhập.
Đây là thời điểm để nhìn lại, để gọi tên những rào cản còn tồn tại và để khẳng định một chân lý giản dị mà sâu sắc: Thượng tôn pháp luật chính là nền tảng vững chắc nhất cho khát vọng cống hiến của doanh nhân Việt Nam.
Thể chế nào - doanh nhân đó
Theo ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam, sau gần 40 năm đổi mới, cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân Việt Nam không ngừng trưởng thành, lớn mạnh và có nhiều đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước, khẳng định vị thế, uy tín và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.
Số lượng doanh nghiệp ngày một gia tăng, từ con số khoảng 5.000 doanh nghiệp tại thời điểm Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty năm 1990 có hiệu lực, đến thời điểm ngày 31/12/2024, cả nước có khoảng 940 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 188 lần, cùng với đó là khoảng 33,335 nghìn hợp tác xã và hơn 05 triệu hộ kinh doanh.
Chỉ tính 9 tháng đầu năm 2025, cả nước có gần 145 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2024, với tổng vốn đăng ký đạt hơn 1,4 triệu tỷ đồng và gần 86,4 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 41,3% so với cùng kỳ năm 2024.
Sau 40 năm đổi mới, tổng giá trị tài sản của 12 tập đoàn tư nhân lớn nhất hiện mới đạt khoảng 70 tỷ USD - con số tương đương một tập đoàn nước ngoài trung bình. Năng suất lao động của khu vực tư nhân còn thấp hơn 2 đến 4 lần so với khu vực FDI; tỷ lệ doanh nghiệp “sống sót” sau 5 năm chỉ khoảng 55 phần trăm. GDP khu vực doanh nghiệp tư nhân chính thức chiếm khoảng 10 đến 12 phần trăm GDP, dù số lượng doanh nghiệp liên tục tăng. Những con số ấy cho thấy, năng lực bứt phá của khu vực tư nhân vẫn chưa được khai thác đúng mức.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó nguyên nhân cốt lõi là thể chế. Một thể chế mà thủ tục hành chính còn nhiều tầng nấc; môi trường pháp lý thiếu tính tiên liệu; quyền tài sản chưa được bảo vệ tuyệt đối; chi phí không chính thức vẫn tồn tại; cơ chế xin - cho chưa được xóa bỏ triệt để; khi quan hệ cá nhân được xem trọng hơn luật lệ, tài năng không thể trở thành sức mạnh quốc gia; khi doanh nhân phải “xin để được làm đúng”, “xin để được yên tâm”, thì không thể kỳ vọng vào những doanh nghiệp có tầm nhìn dài hạn.
Nếu thể chế tạo ra môi trường khuyến khích sự minh bạch, cạnh tranh công bằng, đổi mới sáng tạo, doanh nhân sẽ trưởng thành bằng tri thức, công nghệ và năng lực quản trị. Ngược lại, nếu thể chế tạo ra sự không ổn định, doanh nhân sẽ buộc phải tìm cách thích nghi bằng những kỹ năng ngắn hạn, thậm chí “khôn lỏi”, thay vì “dồn sức” cho những giá trị căn cơ.
Động lực để Việt Nam tự cường trong kỷ nguyên kinh tế tư nhân trỗi dậy
Hiện, tư duy của Đảng về kinh tế tư nhân đã có bước chuyển căn bản. Nghị quyết số 10/NQ-TW xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Đến Nghị quyết số 68-NQ/TW, vai trò ấy được nhấn mạnh mạnh mẽ hơn: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia”.
Nghị quyết số 68-NQ/TW còn xác định rõ nhiệm vụ “Giảm thiểu sự can thiệp và xoá bỏ các rào cản hành chính, cơ chế “xin - cho”, tư duy “không quản được thì cấm”… Xử lý nghiêm các hành vi lạm dụng thanh tra, kiểm tra để nhũng nhiễu, gây khó khăn cho doanh nghiệp”. Đây không chỉ là định hướng, mà là cam kết chính trị mạnh mẽ về xây dựng thể chế pháp quyền bảo vệ giá trị sáng tạo và quyền tự do kinh doanh - những yếu tố sống còn đối với sự phát triển của doanh nhân trong thời đại kinh tế tri thức.
Ở tầm rộng hơn, Đảng xác định, pháp luật phải trở thành nền tảng văn hóa, một giá trị xã hội chứ không chỉ là công cụ quản lý. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã yêu cầu: “Tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội”.
Trong lĩnh vực kinh doanh, điều này được cụ thể hóa trong Chương trình phát triển văn hóa doanh nghiệp quốc gia của Hiệp hội Phát triển văn hóa doanh nghiệp Việt Nam (VNABC) hàng năm, nơi tinh thần thượng tôn pháp luật, minh bạch, chính trực, trách nhiệm xã hội được xem là trụ cột. Một doanh nhân thành công hôm nay không chỉ được đo bằng doanh thu hay tài sản, mà phải được đo bằng giá trị mà họ đóng góp cho xã hội và cách họ tôn trọng pháp luật trong từng hành xử.
Mối quan hệ giữa doanh nhân và công lý, vì thế, trở nên căn bản hơn bao giờ hết. Công lý không đối nghịch với kinh doanh, cũng không cản trở sự phát triển của doanh nghiệp, mà chính là nơi doanh nhân tìm thấy sự bảo đảm để dấn thân, sáng tạo và phụng sự. Nhiều doanh nghiệp lớn đã chủ động xây dựng hệ thống quản trị theo chuẩn mực quốc tế, áp dụng ESG (bộ tiêu chuẩn đo lường các yếu tố liên quan đến định hướng, hoạt động phát triển bền vững và tác động của doanh nghiệp đến cộng đồng), coi tuân thủ pháp luật là chiến lược chứ không phải nghĩa vụ. Nhiều doanh nhân cho biết, họ không còn hỏi luật sư “làm sao để được việc”, mà hỏi “làm sao để làm đúng”. Thay đổi ấy là tín hiệu mạnh mẽ của nền kinh tế đang trưởng thành, nơi chuẩn mực pháp lý đi cùng chuẩn mực đạo đức kinh doanh.
Nhu cầu cấp thiết: Một hệ sinh thái pháp lý bảo vệ giá trị sáng tạo
Tuy vậy, để xây dựng môi trường thượng tôn pháp luật đúng nghĩa, Việt Nam phải đẩy mạnh cải cách thể chế theo hướng hiện đại, nhất quán và thân thiện với doanh nhân. Nền kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đổi mới sáng tạo đòi hỏi khung pháp lý mới, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh.
Quyền sở hữu trí tuệ, quyền dữ liệu, quyền tài sản số phải được bảo vệ bằng các cơ chế tài phán hiệu quả. Hệ thống trọng tài thương mại cần được củng cố để doanh nghiệp có thêm kênh giải quyết tranh chấp nhanh và chuyên nghiệp.
Các cơ quan công quyền phải chuyển từ tư duy “quản lý” sang tư duy “phục vụ”, “kiến tạo”, từ “kiểm soát” sang “tạo điều kiện”, từ “cấp phép” sang “bảo vệ luật chơi”.
Khi đó, doanh nhân chân chính sẽ có môi trường để cạnh tranh bằng năng lực, trí tuệ và sự sáng tạo, chứ không bằng quan hệ hay sự ưu ái.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những nền kinh tế thành công đều dựa trên ba trụ cột: quyền tài sản rõ ràng, pháp luật minh bạch và môi trường cạnh tranh công bằng. Singapore trở thành trung tâm tài chính nhờ pháp trị vững mạnh; Hàn Quốc có các tập đoàn tầm cỡ thế giới nhờ chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân dựa trên luật lệ rõ ràng; Israel trở thành quốc gia khởi nghiệp nhờ thể chế pháp lý bảo vệ quyền sáng tạo và đầu tư mạo hiểm.
Việt Nam hoàn toàn có thể bước vào hàng ngũ các quốc gia đổi mới sáng tạo nếu biết cách tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc cho doanh nhân.
Khát vọng trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045 đòi hỏi khu vực kinh tế tư nhân phải đóng góp ít nhất 60% đến 65% GDP; đội ngũ doanh nhân phải trở thành nguồn lực tinh hoa của quốc gia. Muốn vậy, thể chế phải đóng vai trò “bệ đỡ” để doanh nhân Việt có thể đi xa, đi nhanh và đi vững. Chống chịu giỏi là một phẩm chất đáng quý, nhưng không thể là chiến lược phát triển quốc gia. Chống chịu chỉ là bản năng sinh tồn, còn sáng tạo, tuân thủ pháp luật và khát vọng phụng sự mới là động lực đưa Việt Nam tới tự cường kinh tế.
Doanh nhân Việt Nam đã làm phần của họ - dấn thân, hy sinh, kiên cường và không ngừng đổi mới. Giờ là lúc thể chế phải làm phần của mình - bảo vệ người làm đúng, khuyến khích người tạo giá trị, tôn vinh người cống hiến và xử lý những hành vi cản trở sự phát triển của doanh nghiệp. Một quốc gia mạnh không chỉ có doanh nhân giỏi chống chịu, mà phải có một hệ thống pháp luật đủ tầm để nuôi dưỡng những người dám mở đường.
Trong thời khắc giao thời, khi cả nước hướng về tương lai với kỳ vọng lớn, câu chuyện doanh nhân và công lý không chỉ là bài toán kinh tế. Đó là sự gặp nhau giữa hai khát vọng: Khát vọng của doanh nhân muốn dựng xây cơ nghiệp và khát vọng của đất nước muốn vươn lên tầm cao mới.
Khi công lý trở thành “bệ đỡ” cho kinh doanh, khi pháp luật trở thành văn hóa và khi doanh nhân được đối xử công bằng, được bảo vệ để dám nghĩ lớn, làm lớn, đó cũng là lúc Việt Nam bước những bước dài trên con đường tự chủ, tự lực tự cường và thịnh vượng.
Linh Anh
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)