Thứ sáu 14/08/2026 22:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.

1. Một số vấn đề về văn hóa tuân thủ pháp luật

Để hiểu đầy đủ nội hàm “văn hóa tuân thủ pháp luật”, cần nghiên cứu các nội dung có liên quan như văn hóa, pháp luật, tuân thủ pháp luật, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa tuân thủ pháp luật, vì đây là những yếu tố quan trọng để nhận diện, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật.

1.1. Khái niệm văn hóa tuân thủ pháp luật

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn[1]. Trên phương diện quốc tế, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) định nghĩa, văn hóa là phạm trù rộng, phản ánh tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành hệ thống các giá trị, truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc[2]. Tuy nhiên, văn hóa có thể hiểu dưới những góc độ khác nhau, như văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần hay văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh[3].

Như vậy, có thể hiểu, văn hóa vừa là tổng thể các giá trị do con người sáng tạo, tích lũy, vừa là phương thức sinh hoạt và cách thức ứng xử được hình thành trong lịch sử phát triển của cộng đồng. Nói cách khác, văn hóa không chỉ tồn tại ở giá trị trừu tượng, mà luôn được cụ thể hóa trong hành vi, trong cách con người lựa chọn và lặp lại những cách ứng xử đúng đắn, phù hợp, duy trì ổn định và được xã hội công nhận.

Về pháp luật, có thể hiểu, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp dân cư trong xã hội[4]. Đối với Việt Nam, pháp luật chủ yếu được xác lập thông qua hệ thống các văn bản pháp luật, là khuôn khổ bắt buộc chi phối các quan hệ xã hội, trong đó, mọi chủ thể đều có nghĩa vụ tuân thủ. Hiệu quả thực thi pháp luật phụ thuộc vào cơ chế bảo đảm bằng quyền lực nhà nước, mức độ tiếp nhận và tự giác chấp hành của các chủ thể trong xã hội.

Tuân thủ pháp luật, từ góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, có thể hiểu là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm[5]. Theo cách tiếp cận này, tuân thủ pháp luật có phạm vi hẹp, chỉ bao gồm sự kiềm chế, không thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật (hành vi mà pháp luật cấm không được thực hiện). Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, tuân thủ pháp luật cần phải hiểu là làm đúng, giữ đúng, bao gồm thi hành, sử dụng, áp dụng, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật[6]. Theo nghĩa này, tuân thủ pháp luật được hiểu bao quát, rộng hơn, gồm tất cả các hành vi (hành động hoặc không hành động) của chủ thể thực hiện để phù hợp với các quy định của pháp luật.

Về văn hóa tuân thủ pháp luật, hiện có quan điểm cho rằng, văn hóa tuân thủ pháp luật chỉ là việc tuân thủ các quy định pháp luật một cách phổ biến trong xã hội. Quan điểm này xuất phát từ cách hiểu tuân thủ pháp luật theo nghĩa hẹp. Vì thế, theo cách hiểu này, văn hóa tuân thủ pháp luật không bảo đảm tính ổn định, bền vững, lâu dài[7] vì việc tuân thủ pháp luật có thể xuất phát từ tâm lý sợ chế tài, sợ bị pháp luật xử lý, mang tính đối phó, thực hiện miễn cưỡng, chứ không phải xuất phát từ nội tâm, mong muốn của chủ thể thực hiện.

Chính vì vậy, có nhiều quan điểm cho rằng, văn hóa tuân thủ pháp luật cần phải hiểu theo nghĩa rộng. Theo nghĩa rộng, văn hóa tuân thủ pháp luật là tổng hòa các giá trị, chuẩn mực, tri thức, phương pháp, kỹ năng, kinh nghiệm phản ánh trình độ nhận thức, ý thức trách nhiệm, quan điểm, thái độ, niềm tin, hành vi của chủ thể pháp luật phù hợp với các nguyên tắc, quy định của Hiến pháp và pháp luật[8]. Theo nghĩa này, văn hóa tuân thủ pháp luật được hiểu bao quát hơn, từ nhận thức, hiểu biết, ý thức tuân thủ pháp luật, động cơ, niềm tin đến hành vi của các chủ thể trong xã hội. Dưới góc độ này, văn hóa tuân thủ pháp luật trở nên thực chất, bền vững vì xuất phát từ niềm tin nội tâm, ý thức tự giác và giá trị đạo đức, pháp lý đã được hình thành từ suy nghĩ, hành động của từng cá nhân trong xã hội. Như vậy, theo quan điểm này, văn hóa tuân thủ pháp luật không đồng nhất với việc chấp hành pháp luật trong từng tình huống riêng lẻ, mà phản ánh mức độ tuân thủ thành chuẩn mực hành vi ổn định, được xã hội thừa nhận, khuyến khích và duy trì.

1.2. Các yếu tố tác động đến văn hóa tuân thủ pháp luật

Văn hóa tuân thủ pháp luật chịu tác động của nhiều yếu tố; bên cạnh các yếu tố khách quan như kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa - xã hội, hội nhập quốc tế và khoa học - công nghệ, các yếu tố chủ quan xuất phát từ công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật và ý thức tuân thủ của các chủ thể trong xã hội giữ vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa tuân thủ pháp luật.

Một là, chất lượng của hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, dễ tiếp cận, phù hợp với thực tiễn, chi phí tuân thủ thấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi để người dân, doanh nghiệp thực hiện đúng quy định pháp luật. Ngược lại, các quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu tính khả thi hoặc xa rời đời sống xã hội làm gia tăng nguy cơ vi phạm, kể cả trong những trường hợp không chủ ý.

Hai là, chất lượng, hiệu quả thi hành pháp luật có tác động lớn đến văn hóa tuân thủ pháp luật. Nếu thi hành pháp luật không nghiêm, không kịp thời hoặc thiếu công bằng làm cho người dân có tâm lý không tin, coi nhẹ pháp luật. Điều này làm suy giảm tính răn đe và tính thuyết phục của pháp luật. Ngược lại, các vi phạm pháp luật được xử lý nghiêm minh, công bằng, bình đẳng cùng với sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, công chức trong chấp hành pháp luật, tinh thần thượng tôn pháp luật trong hoạt động công vụ có vai trò quan trọng giúp người dân có niềm tin, ý thức tuân thủ và có hành vi ứng xử đúng pháp luật.

Ba là, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật của người dân. Việc phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện, truyền tải bằng nội dung dễ tiếp cận, hình thức, cách thức phù hợp với từng nhóm đối tượng, sẽ giúp người dân hiểu, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, từ đó, hình thành thói quen tuân thủ pháp luật trong đời sống hằng ngày. Ngược lại, nếu hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật mang tính hình thức, không có chiều sâu, thiếu tính thực tiễn làm cho người dân không hiểu, không nhận thức đúng pháp luật nên tác động rất hạn chế đến hành vi tuân thủ pháp luật của người dân.

Bốn là, trình độ văn hóa, học vấn của các chủ thể, cá nhân trong xã hội có tác động quan trọng đến văn hóa tuân thủ pháp luật. Trình độ văn hóa thấp, cao; đồng đều hoặc không đồng đều giữa các tầng dân cư hay giữa các vùng miền; tính đa dạng trong văn hóa dân tộc, văn hóa cộng đồng có ảnh hưởng đến văn hóa tuân thủ pháp luật. Chẳng hạn, trình độ dân trí cao, có thái độ tích cực đối với pháp luật thường có khả năng tự điều chỉnh hành vi và chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng các phương thức hợp pháp. Ngược lại, sự thiếu hiểu biết, tâm lý thỏa hiệp với các hành vi vi phạm hoặc chịu ảnh hưởng của phong tục, tín ngưỡng, tập quán lạc hậu có thể làm suy giảm hiệu quả thực thi pháp luật, nhất là trong những lĩnh vực liên quan đến lối sống và sinh hoạt cộng đồng.

Năm là, hoàn cảnh, điều kiện sống cũng là yếu tố tác động đến văn hóa tuân thủ pháp luật. Khi điều kiện sống của người dân còn hạn chế, khó khăn, công tác an sinh xã hội chưa được quan tâm, chú trọng, cũng ảnh hưởng, tác động đến quá trình xây dựng, phát triển văn hóa tuân thủ pháp luật. Đồng thời, văn hóa cộng đồng, bao gồm các yếu tố tôn giáo cũng có những ảnh hưởng, tác động nhất định đến văn hóa tuân thủ pháp luật. Văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng, gồm 54 dân tộc với tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng dân gian khác nhau, còn tồn tại những hủ tục lạc hậu, do đó sẽ có tác động, chi phối, đôi lúc có thể cản trở hoặc tác động theo chiều hướng không tích cực đến quá trình xây dựng và phát triển văn hóa tuân thủ pháp luật.

Từ các yếu tố trên cho thấy, văn hóa tuân thủ pháp luật là kết quả của sự tương tác giữa nhiều yếu tố, trong đó nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật của người dân đóng vai trò quan trọng nhất. Vì vậy, để xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật không thể chỉ dựa vào việc ban hành pháp luật, mà cần có các giải pháp tổng thể, đồng bộ và lâu dài, với sự tham gia của cả hệ thống chính trị và xã hội.

1.3. Vai trò của văn hóa tuân thủ pháp luật

Văn hóa tuân thủ pháp luật giữ vai trò quan trọng trong cả quá trình xây dựng và thi hành pháp luật, quyết định mức độ hoàn thiện và hiệu quả vận hành của hệ thống pháp luật trong thực tiễn. Cụ thể:

Thứ nhất, văn hóa tuân thủ pháp luật thúc đẩy chất lượng xây dựng pháp luật thông qua sự tham gia tích cực của người dân vào quá trình góp ý, phản biện và giám sát chính sách, tạo sự tương tác hai chiều giữa Nhà nước và xã hội. Nhờ đó, pháp luật được ban hành bám sát thực tiễn, bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, khuyến khích đổi mới sáng tạo và phát triển.

Thứ hai, văn hóa tuân thủ pháp luật góp phần tăng cường tính minh bạch, dân chủ và trách nhiệm giải trình trong hoạt động xây dựng pháp luật, buộc các cơ quan có thẩm quyền nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành pháp luật, qua đó, củng cố niềm tin xã hội vào pháp luật và công lý.

Thứ ba, văn hóa tuân thủ pháp luật quyết định chất lượng, hiệu quả thi hành pháp luật, giúp pháp luật đi vào đời sống không chỉ bằng cưỡng chế, mà chủ yếu bằng ý thức tự giác chấp hành của các chủ thể, qua đó, giảm chi phí thực thi, hạn chế xung đột xã hội và bảo đảm trật tự, kỷ cương.

Thứ tư, văn hóa tuân thủ pháp luật góp phần xây dựng xã hội ổn định, trật tự, công bằng, văn minh, bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển nhanh, mạnh và bền vững.

Thứ năm, văn hóa tuân thủ pháp luật bảo đảm sự gắn kết giữa quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm xã hội, giúp các chủ thể nhận thức rõ giới hạn hành vi không chỉ về mặt pháp lý, mà còn về mặt đạo đức và lợi ích cộng đồng, từ đó, củng cố nền tảng của Nhà nước pháp quyền và thúc đẩy phát triển bền vững. Ngược lại, khi văn hóa tuân thủ pháp luật yếu, pháp luật dễ trở nên hình thức, thiếu khả thi, tạo điều kiện cho các hành vi “lách luật”, trục lợi chính sách và áp dụng pháp luật không công bằng, làm xói mòn niềm tin xã hội và cản trở sự phát triển[9].

2. Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Văn hóa tuân thủ pháp luật, tính thượng tôn Hiến pháp và pháp luật đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường kinh doanh ổn định, thúc đẩy phát triển kinh tế, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, hiện đại. Vì thế, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật được Đảng, Nhà nước quan tâm thể hiện trong nhiều văn kiện. Cụ thể:

Thứ nhất, đề cao và phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong chấp hành pháp luật là phương thức quan trọng để xây dựng, hình thành thói quen ứng xử cũng như chuẩn mực tuân thủ pháp luật trong xã hội.

Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải xác định việc tìm hiểu, học tập pháp luật là nhiệm vụ thường xuyên, là một trong những tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, đảng viên và nhấn mạnh vai trò gương mẫu chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên trong thuyết phục, giáo dục quần chúng và các thành viên gia đình về ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật.

Thứ hai, tuân thủ pháp luật được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển văn hóa, như bộ phận cấu thành của nền tảng tinh thần xã hội.

Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (Kết luận số 76-KL/TW) xác định văn hóa là hồn cốt của dân tộc, là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh[10]. Đồng thời, Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đề ra mục tiêu xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội[11]. Đặc biệt, Quyết định số 1699/QĐ-TTg này 05/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ[12] đã xác định xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành “nền tảng”, “nguồn lực nội sinh”, “sức mạnh mềm”, “động lực phát triển” đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Như vậy, Đảng, Nhà nước xác định tuân thủ pháp luật không chỉ là yêu cầu quản lý nhà nước mà cần nâng tầm thành chuẩn mực văn hóa trong đời sống xã hội và trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển trong kỷ nguyên mới.

Thứ ba, tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật được xác định là chuẩn mực ứng xử phổ quát của mọi chủ thể trong xã hội, gắn với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới xác định rõ mục tiêu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội; đồng thời, nhấn mạnh nhiệm vụ bảo đảm các tổ chức Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, thực sự gương mẫu, đi đầu trong việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Điều này cho thấy, quan điểm nhất quán của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền không chỉ hoàn thiện thể chế, mà phải xây dựng tinh thần thượng tôn pháp luật và ý thức tuân thủ như một thành tố không thể tách rời của đời sống chính trị, pháp lý.

Thứ tư, xác định xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, gắn với đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

Thông báo số 108-KL/TW ngày 18/11/2024 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp yêu cầu đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật được đặt trong tổng thể nhiệm vụ tạo đột phá về thể chế, trong đó, pháp luật được xác định là “đột phá chiến lược, có ý nghĩa then chốt” để khơi thông, huy động mọi nguồn lực cho phát triển và chăm lo Nhân dân; đồng thời, nhấn mạnh tính tiên phong của cán bộ, đảng viên ngành Tư pháp trong dẫn dắt và lan tỏa văn hóa tuân thủ pháp luật trong toàn xã hội.

Thứ năm, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật thành chủ trương lớn, mang tính đột phá trong đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật.

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW) xác định “xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật” là chủ trương có tính chất đột phá trong đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật và xác định rõ nhiệm vụ tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội[13].

Như vậy, Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật là nhiệm vụ chính trị gắn liền với yêu cầu tổ chức thi hành pháp luật công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả, cũng như bảo đảm sự gắn kết giữa xây dựng và thi hành pháp luật.

3. Một số kết quả đạt được trong xây dựng và thực hiện văn hóa tuân thủ pháp luật

Những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và nỗ lực triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thời gian qua[14] đã tạo chuyển biến tích cực trong xây dựng, thực hiện văn hóa tuân thủ pháp luật ở Việt Nam và đạt được một số kết quả sau:

Thứ nhất, thể chế pháp luật tiếp tục được hoàn thiện theo hướng minh bạch, thống nhất, khả thi hơn, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, dễ tiếp cận và thuận lợi cho việc tuân thủ. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn có tiến bộ về chất lượng, giảm dần tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào pháp luật[15].

Thứ hai, nhận thức về vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội ngày càng được củng cố, nâng cao trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân[16]. Nguyên tắc “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” từng bước trở thành chuẩn mực trong xã hội; người dân ngày càng quan tâm hơn đến quyền, nghĩa vụ và các cơ chế bảo vệ quyền lợi chính đáng. Việc tham gia, giám sát và phản biện xã hội được mở rộng, góp phần phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân, đồng thời, hỗ trợ tích cực cho việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Thứ ba, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã đạt được những kết quả quan trọng, có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức, trong đó tập trung vào truyền thông chính sách, nội dung pháp luật thiết thực với người dân, doanh nghiệp, những vấn đề dư luận quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội; hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật đa dạng, phong phú phù hợp với đối tượng và địa bàn, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Chính vì vậy, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã nâng cao hiểu biết pháp luật, góp phần tăng cường ý thức chấp hành pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật.

Thứ tư, trong một số lĩnh vực kinh tế - xã hội, hành vi tuân thủ pháp luật đã mang tính chủ động. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã xây dựng hệ thống quản trị rủi ro và coi tuân thủ pháp luật là bộ phận cấu thành của văn hóa doanh nghiệp. Việc tuân thủ trong các lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, phòng chống rửa tiền, bảo vệ môi trường và sở hữu trí tuệ từng bước gắn với chiến lược phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Thứ năm, thế hệ trẻ và tầng lớp trí thức có xu hướng tiếp cận pháp luật theo hướng gắn với các giá trị công bằng, minh bạch, văn minh và bảo vệ nhóm yếu thế. Các vấn đề về quyền lao động, bảo vệ môi trường, phòng chống tham nhũng và minh bạch trong quản trị ngày càng được thảo luận rộng rãi. Xu hướng này phản ánh sự dịch chuyển từ tâm thế tuân thủ thụ động sang nhu cầu tham gia, giám sát và đồng kiến tạo các chuẩn mực pháp lý trong đời sống xã hội.

Thứ sáu, nhiều địa phương đã chủ động thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm xây dựng cơ sở pháp lý hình thành và phát triển văn hóa tuân thủ pháp luật tại địa bàn. Việc ban hành kế hoạch, đề án và quy định phù hợp với điều kiện thực tiễn đã tạo khuôn khổ cho việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao ý thức pháp lý của người dân, đồng thời góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước và trật tự xã hội ở cơ sở[17].

4. Một số giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Bên cạnh những kết quả đạt được, văn hóa tuân thủ pháp luật tại Việt Nam còn một số hạn chế như ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức, đảng viên và Nhân dân chưa nghiêm[18]; các chủ thể thực hiện và sự phối hợp liên ngành chưa thật sự chủ động; điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu. Những hạn chế này dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật vẫn diễn ra ở mức cao[19], xảy ra ở nhiều bộ phận, tầng lớp dân cư khác nhau. Các hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như thể chế, chính sách pháp luật hay nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể trong xã hội. Đây chính là cơ sở thực tiễn để Bộ Tư pháp tham mưu Chính phủ xem xét, trình Quốc hội dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI[20].

Cùng với việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, Việt Nam cần thực hiện tổng thể các giải pháp để nâng cao ý thức và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, trong đó có một số giải pháp quan trọng sau:

Thứ nhất, bám sát nội dung, tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 66-NQ/TW; xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật có liên quan đến các yếu tố tác động đến văn hóa tuân thủ pháp luật; xây dựng, trình Quốc hội thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi); xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành và tổ chức thực hiện thành công Đề án “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2026 - 2031” và Đề án “Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật”.

Bộ Tư pháp cần huy động, tập trung mọi nguồn lực để thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ về xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; tiếp tục tham mưu, triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW, tạo đột phá trong công tác tổ chức thi hành pháp luật. Nhiệm vụ trọng tâm cần triển khai là: (i) xây dựng, trình Chính phủ để trình Quốc hội sớm thông qua Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) để hoàn thiện thể chế, pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh mới; (ii) xây dựng, hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để đưa vào thực hiện Đề án “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2026 - 2031” và Đề án “Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật”. Các đề án cần xác định rõ các nội dung cốt lõi, gắn với mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp khả thi và lộ trình triển khai; chủ động tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, bảo đảm tính đột phá, sát thực tiễn để ngay sau khi được ban hành có thể tổ chức triển khai đồng bộ, thống nhất trên phạm vi cả nước.

Đặc biệt, cần quyết liệt đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới theo đúng tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW. Bảo đảm mọi vi phạm pháp luật đều bị phát hiện, xử lý kịp thời, công bằng, nghiêm minh, nhất quán, công khai, minh bạch, đúng người, đúng hành vi; đồng thời, cần có cơ chế giám sát từ phía người dân, báo chí và tổ chức đoàn thể, kiểm tra chặt chẽ đạo đức công vụ.

Thứ hai, phát huy vai trò trong lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật.

Bộ Tư pháp cần phát huy vai trò của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương và bộ, ngành Tư pháp, nhất là trong các lĩnh vực, địa bàn, đối tượng cần sự phối hợp liên ngành; tăng cường trách nhiệm của thành viên Hội đồng trong chỉ đạo phổ biến, giáo dục pháp luật về ngành, lĩnh vực được giao quản lý. Cần xây dựng, hoàn thiện cơ chế phù hợp về ngân sách, tài chính phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng coi phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động đặc thù, có mục tiêu và chú trọng hướng về cơ sở, các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa; các vấn đề pháp luật cấp bách cần được phổ biến, quán triệt ngay theo nhu cầu của người dân hoặc từ quản lý nhà nước. Tăng cường đa dạng hóa nguồn lực tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; có cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia; tích cực hợp tác quốc tế trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đặc biệt, cần nâng cao nhận thức của cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị và các tổ chức, cá nhân về ý nghĩa, mục đích và tầm quan trọng của văn hóa tuân thủ pháp luật trước yêu cầu và bối cảnh mới của đất nước.

Thứ ba, nâng cao trình độ dân trí, nhất là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và cho các nhóm đối tượng yếu thế.

Để nâng cao trình độ văn hóa nói chung và hiểu biết pháp luật nói riêng cho người dân, Việt Nam cần tập trung đầu tư xây dựng, thực hiện các chương trình giáo dục, trong đó có lồng ghép các nội dung liên quan đến kiến thức, văn hóa tuân thủ pháp luật bảo đảm thực chất; thường xuyên đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy cập nhật kiến thức mới và theo hướng lấy người học làm trung tâm; phát triển giáo dục thường xuyên, học tập suốt đời; đa dạng hóa các loại hình, phương thức học tập; chuyển từ giáo dục truyền thụ kiến thức sang phát triển tư duy phản biện, kỹ năng sống, kỹ năng số; gắn giáo dục với thực tiễn đời sống xã hội; xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên có chất lượng, có đạo đức, tâm huyết với hoạt động nghề nghiệp,… Đặc biệt, Việt Nam cần quan tâm, đầu tư cho giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số và cho các đối tượng yếu thế.

Thứ tư, tăng cường các biện pháp để người dân, doanh nghiệp tiếp cận pháp luật đầy đủ, kịp thời, thuận tiện

Bảo đảm tính công khai, minh bạch trong cung cấp thông tin pháp luật; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng bám sát nhu cầu thực tiễn, tránh dàn trải, nâng cao tính trọng tâm, trọng điểm. Cùng với đó, thúc đẩy người dân chủ động học tập, tìm hiểu pháp luật để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; từng bước nâng cao mức độ tham gia góp ý xây dựng chính sách, pháp luật, qua đó, tạo tương tác hai chiều giữa Nhà nước và xã hội trong quá trình hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật.

Thứ năm, đa dạng hóa hình thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng thực chất, phù hợp nhóm mục tiêu và bảo đảm tiếp cận công bằng.

Tiếp tục đổi mới nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật, đa dạng hóa các hình thức, cách thức triển khai phù hợp với từng nhóm đối tượng, địa bàn, lĩnh vực. Tăng cường các hoạt động đối thoại, giải đáp vướng mắc, bất cập từ thực tiễn thi hành pháp luật. Phát huy thế mạnh của các phương tiện thông tin, các cơ quan thông tấn, báo chí. Đẩy mạnh truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng pháp luật nhằm tạo đồng thuận xã hội để gắn kết chặt chẽ với công tác tổ chức thi hành pháp luật.

Thứ sáu, thực hiện chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với phát huy thế mạnh công nghệ thông tin, nền tảng số và mạng xã hội.

Tiếp tục thực hiện chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật, vận hành có hiệu quả Cổng Pháp luật quốc gia, Cổng Thông tin điện tử phổ biến, giáo dục pháp luật quốc gia, thiết lập các ứng dụng, phần mềm có tính năng trực tuyến, tương tác và ứng dụng trí tuệ nhân tạo; tập trung xây dựng Hệ thống thông tin, nền tảng số về phổ biến, giáo dục pháp luật để cung cấp thông tin pháp luật trên môi trường mạng, đáp ứng nhu cầu tự học tập, tìm hiểu pháp luật của người dân. Mở rộng các kênh thông tin pháp luật trên các nền tảng mạng xã hội, ứng dụng trên thiết bị di động.

Thứ bảy, xây dựng và triển khai bộ tiêu chí đánh giá văn hóa tuân thủ pháp luật theo hướng đo lường được, cập nhật thường xuyên và gắn với các chuẩn mực và thiết chế xã hội.

Xây dựng và phát triển hệ thống theo dõi, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật dựa trên cơ sở khoa học, đa chiều và thường xuyên cập nhật; không chỉ đo bằng số liệu xử phạt mà chú trọng các chỉ số về nhận thức pháp luật, mức độ tin tưởng vào hệ thống pháp luật và hành vi tự giác. Trên cơ sở đó, có thể lồng ghép, cụ thể hóa tiêu chí văn hóa, ý thức tuân thủ pháp luật trong các danh hiệu xã hội như gia đình văn hóa, cộng đồng văn hóa, chuẩn nông thôn mới…, tạo động lực lan tỏa, củng cố tính ổn định và bền vững của văn hóa tuân thủ pháp luật.

Thứ tám, nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật gắn với phát huy vai trò của các tổ chức xã hội và người có uy tín trong cộng đồng.

Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục pháp luật trong nhà trường. Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, cơ quan, đơn vị trong lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật vào sinh hoạt cộng đồng, phong trào thi đua. Đặc biệt, cần coi trọng vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín, chức sắc tôn giáo tại cơ sở trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Cùng với đó, cần đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu trong chấp hành và tổ chức thực hiện pháp luật, tạo sức lan tỏa trong xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật.

Kết luận

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật là yêu cầu tất yếu trong tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nhằm bảo đảm Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử trong đời sống xã hội. Để đạt mục tiêu này, cần tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật theo hướng kiến tạo, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; đổi mới truyền thông chính sách và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; nâng cao trách nhiệm nêu gương trong thực thi công vụ; phát huy vai trò của Nhân dân; đồng thời, xây dựng môi trường tuân thủ thuận lợi và thân thiện. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp trên có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và củng cố niềm tin xã hội, góp phần giữ vững trật tự, kỷ cương và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

TS. Hoàng Thị Lan

Phó Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp

(Ảnh: internet)

[1]. Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, t. 03, tr. 458.

[2]. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Hưng Yên (2018), Tìm hiểu khái niệm về văn hóa và một số khái niệm liên quan, https://tuyengiao.hungyen.dcs.vn/tim-hieu-khai-niem-ve-van-hoa-va-mot-so-khai-niem-lien-quan-c25590.html, truy cập ngày 22/01/2026.

[3]. Hoàng Phê (Chủ biên), Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, tr.1.100.

[4]. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, Nxb. Tư pháp, tr.606.

[5]. Nhiều tác giả, Một số vấn đề lý luận Nhà nước và pháp luật (theo Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII) 2017, Nxb Hồng Đức, tr.417.

[6]. Lê Minh Tâm (2025), Một số vấn đề lý luận và giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Luật học, số 7/2025, tr.5.

[7]. TS. Đặng Thị Hồng Tuyến, Trần Thị Thanh Huyền, Đèo Thị Phương Nhung, Trương Vũ Khánh (2025), xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong doanh nghiệp góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam, ấn phẩm Hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tr.123.

[8]. Lê Minh Tâm (2025), tlđd.

[9]. Vũ Quỳnh Mai (2018), Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1102602/xay-dung-van-hoa-tuan-thu-phap-luat-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-dat-nuoc-trong-ky-nguyen-moi.aspx#, truy cập ngày 22/01/2026.

[10]. Ý 2.1 Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020.

[11]. Ý 1 Mục 1 Điều 1 Quyết định số 1909/QĐ-TTg.

[12]. Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 156-KL/TW ngày 21/5/2025 của Bộ Chính trị khóa XIII về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và Kết luận số 76-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW.

[13]. Ý 2 Mục 3 Phần III Nghị quyết số 66-NQ/TW.

[14]. Theo báo cáo Tình hình hoạt động của Hội đồng phổ biến giáo dục pháp luật các cấp năm 2025 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2026, năm 2025, cả nước đã tổ chức được 330.030 hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật trực tiếp cho 76.894.927 lượt người tham dự; 8.937 cuộc thi tìm hiểu pháp luật với 4.974.970 lượt người dự thi; phát hành 384.297.969 tài liệu phổ biến giáo dục pháp luật trong đó đăng tải trên internet 6.180.379 tài liệu.

[15]. Tìm hiểu thêm về kết quả xây dựng, hoàn thiện pháp luật tại các nghị quyết về kết quả kỳ họp Quốc hội khóa XV (ví dụ: Nghị quyết số 227/2025/QH15 ngày 27/6/2025 về kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV; Nghị quyết số 265/2025/QH15 ngày 11/12/2025 về kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV…). Báo cáo số 835/BC-BTP ngày 29/12/2025 của Bộ Tư pháp tổng kết công tác tư pháp năm năm 2025, nhiệm kỳ 2021-2025; định hướng nhiệm kỳ 2026-2030 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2026 ...

[16]. Tìm hiểu thêm các tham luận của Sở Tư pháp Hải Phòng, Vụ Pháp chế và quản lý khoa học, Tòa án nhân dân tối cao… tại Tọa đàm về “Văn hóa tuân thủ pháp luật” trong Nghị quyết số 66-NQ/TW.

[17]. Ví dụ: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 237/QĐ-UBND ngày 10/2/2025 về phê duyệt đề cương Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn minh, truyền thống văn hóa dân tộc và ý thức tuân thủ pháp luật trong học sinh, sinh viên tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025–2030”.

[18]. Đoạn 2 Phần 1 Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[19]. Theo Báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật năm 2025, tình trạng vi phạm pháp luật một số loại tội phạm năm 2025 tăng so với năm 2024 như lừa đảo, chiếm đoạt tài sản (tăng 11,76%), gây rối trật tự công cộng (tăng 21,83%), sản xuất, buôn bán hàng giả (tăng 47,17%).

[20]. Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về chương trình lập pháp năm 2026.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: