Thứ hai 16/02/2026 09:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

Từ góc độ nghiên cứu - quy hoạch, ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Phát triển hệ thống điện, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), đã phân tích sâu những yêu cầu cấp thiết, những điểm đổi mới và các thách thức trong quá trình xây dựng bản điều chỉnh này. Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, sự điều chỉnh này không đơn thuần là cập nhật bản quy hoạch, mà là bước chuẩn bị quan trọng để xây dựng cấu trúc hệ thống điện mới, đáp ứng giai đoạn phát triển tăng tốc của đất nước.

Nhu cầu điều chỉnh: Bối cảnh mới, yêu cầu mới

Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, tốc độ phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng điện có xu hướng tăng nhanh, nền kinh tế đang đứng trước thời cơ tăng trưởng mạnh mẽ với các mục tiêu phát triển mới: GDP giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu đạt mức tăng trưởng hai con số; Quốc hội thông qua chủ trương tái khởi động chương trình phát triển điện hạt nhân; quy hoạch không gian biển quốc gia được phê duyệt; Luật Điện lực năm 2024 có hiệu lực từ tháng 02/2025… tạo ra nền tảng và yêu cầu mới cho ngành điện.

Ngoài ra, Luật Quy hoạch quy định quy hoạch điện (QHĐ) phải được rà soát định kỳ 5 năm một lần. Những vướng mắc trong triển khai QHĐ VIII thời gian qua - từ tiến độ các dự án nguồn điện khí, khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG), đến cơ chế giá cho năng lượng tái tạo (NLTT), hệ thống lưu trữ… cũng là yếu tố đặt ra yêu cầu cấp bách phải điều chỉnh. “Mục tiêu là bảo đảm cung cấp đủ điện cho giai đoạn phát triển tăng tốc, đồng thời, thực hiện chuyển dịch năng lượng nhằm đạt Net-zero vào năm 2050”, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh.

Chính vì vậy, điều chỉnh QHĐ VIII được Chính phủ và Bộ Công Thương xác định là nhiệm vụ đặc biệt cấp bách, nhằm chủ động giải quyết các điểm nghẽn và đảm bảo cung cấp đủ điện trong giai đoạn tăng tốc phát triển sắp tới.

Trong quá trình xây dựng bản điều chỉnh, Viện Năng lượng tiếp cận theo phương pháp tích hợp hiện đại, kế thừa các nguyên tắc của QHĐ VIII, đồng thời, bổ sung những định hướng mới quan trọng. Quy hoạch lần này không chỉ đặt mục tiêu đáp ứng nhu cầu điện trong nước mà còn mở rộng sang các mục tiêu xuất khẩu điện, mua bán điện trực tiếp (DPPA) và phát triển các ngành năng lượng mới như hydro xanh, amoniac xanh - những lĩnh vực đang trở thành xu hướng toàn cầu.

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển
Quy hoạch điện VIII bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng giai đoạn phát triển của đất nước

Đưa điện hạt nhân trở lại đúng vai trò

Điểm nhấn lớn trong bản điều chỉnh là việc đưa điện hạt nhân trở lại với vai trò nguồn điện nền công nghệ tiên tiến, an toàn cao, góp phần tăng tính ổn định của hệ thống và hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải theo cam kết Net-zero vào năm 2050. Đây là sự thay đổi chiến lược trong bối cảnh Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.

Bên cạnh đó, bản điều chỉnh QHĐ VIII tiếp tục phát huy tiềm năng NLTT theo từng vùng miền, với cách tiếp cận tính toán chi tiết hơn dựa trên điều kiện phụ tải, tiềm năng gió - mặt trời, mức độ kết nối lưới điện và hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của từng giai đoạn. Việc phát triển NLTT đi kèm với yêu cầu đầu tư lưới điện thông minh, hiện đại hóa hệ thống, bảo đảm vận hành an toàn trong bối cảnh tỷ lệ NL TT tăng nhanh.

Ông Nguyễn Mạnh Cường cho biết, hệ thống điện Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ trong gần một thập kỷ qua. Công suất đặt của hệ thống tăng từ 42GW (năm 2016) lên 86GW (năm 2024), tốc độ tăng trung bình 9,4%/năm, trong khi sản lượng điện tăng từ 182 tỷ kWh lên khoảng 310 tỷ kWh. Đặc biệt, từ năm 2019, sự bứt phá của điện gió và điện mặt trời đã nâng tỷ lệ NLTT lên 55% công suất đặt, nếu tính cả điện mặt trời, điện gió, thủy điện. Sản lượng điện từ NLTT đã chiếm 42% (gồm thủy điện), trong đó điện gió, điện mặt trời mới chỉ chiếm khoảng 13% tổng sản lượng toàn hệ thống.

Tính đến hết năm 2024, tổng công suất thực hiện mới đạt 53% so với mục tiêu đến năm 2030 của QHĐ VIII. Điện gió mới đạt khoảng 30% kế hoạch, các dự án nhiệt điện LNG và khí trong nước đối mặt với nhiều khó khăn. Lưới điện truyền tải có bước tiến quan trọng khi hoàn thành đường dây 500kV mạch 3 Quảng Trạch - Thanh Hóa - Nam Định - Phối Nối dài 519km, góp phần đạt 76% khối lượng giai đoạn 2021 - 2025. Tuy vậy, ông Nguyễn Mạnh Cường cho rằng: “nguồn và lưới điện tuy về cơ bản đáp ứng nhưng sẽ nhanh chóng chịu áp lực lớn khi phụ tải tăng mạnh, đặc biệt ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”.

Một trong những yếu tố quan trọng của bản điều chỉnh là dự báo phụ tải. Viện Năng lượng đã xây dựng bốn nhóm kịch bản gồm thấp, cơ sở, cao và cao đặc biệt. Kịch bản thấp bám sát thực tế dự báo của các tổ chức quốc tế trong bối cảnh tăng trưởng ổn định. Kịch bản cơ sở phản ánh mục tiêu tăng trưởng trong Quy hoạch tổng thể quốc gia. Kịch bản cao đặt giả định nền kinh tế tăng tốc mạnh, đạt tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030. Kịch bản cao đặc biệt với kỳ vọng tăng trưởng hai con số trong cả giai đoạn dài từ năm 2026 đến năm 2050. Bộ Công Thương, Chính phủ đã lựa chọn kịch bản cao làm kịch bản điều hành để bảo đảm các mục tiêu của Đảng, Chính phủ với mức dự phòng hợp lý nhằm thu hút đầu tư vào ngành điện và tránh nguy cơ thiếu điện trong bối cảnh nền kinh tế cần tốc độ tăng trưởng nhanh.

Việc tính toán quy hoạch sử dụng phần mềm BALMOREL - công cụ lập quy hoạch nguồn điện đã được kiểm chứng và ứng dụng tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Đây là nền tảng để mô hình hóa hệ thống điện có tỷ lệ cao NLTT, tính toán tối ưu công suất nguồn - lưới và xác định chi phí tối ưu toàn hệ thống.

Cùng với bài toán cân đối cung - cầu, lộ trình giảm phát thải của ngành điện cũng là nội dung trọng tâm của QHĐ VIII điều chỉnh. Theo Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, mục tiêu kiểm soát phát thải CO2 của ngành điện đến năm 2030 là khoảng 204 - 254 triệu tấn, giảm còn 27 - 31 triệu tấn vào năm 2050. Mức phát thải sẽ đạt đỉnh vào năm 2035 và giảm nhanh theo lộ trình hướng tới Net-zero. Việt Nam dự kiến vận hành thị trường carbon vào năm 2028, tạo cơ chế linh hoạt cho ngành điện tham gia mua bán hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Điều chỉnh QHĐ VIII áp dụng nguyên tắc giới hạn phát thải CO2 theo từng giai đoạn quy hoạch, phù hợp lộ trình này .

Bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước

Một trong những thách thức lớn nhất của hệ thống điện hiện nay là hạ tầng truyền tải. Nhu cầu truyền tải giữa các vùng miền tăng mạnh, đặc biệt từ Trung Trung Bộ ra Bắc Bộ và từ Nam Trung Bộ vào Nam Bộ. Đến năm 2050, sản lượng truyền tải từ miền Trung ra miền Bắc có thể lên tới 135 tỷ kWh. Vì vậy, quy hoạch điều chỉnh đề xuất xây dựng hai hệ thống truyền tải siêu cao áp HVDC (High Voltage Direct Current - Truyền tải điện cao áp một chiều) quy mô 5.000 - 6.000MW mỗi hệ thống, với chiều dài 700 - 1.000km - giải pháp thay thế phù hợp trong điều kiện quỹ đất hành lang tuyến hạn chế và yêu cầu truyền tải công suất lớn trên cự ly dài.

Giai đoạn 2025 - 2030, Việt Nam cần xây mới khoảng 12.500km đường dây 500kV, 18.000km đường dây 220kV, cùng 100GVA trạm biến áp 500kV và 105GVA trạm biến áp 220kV. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện giai đoạn này vào khoảng 136 tỷ USD, trong đó lưới điện cần khoảng 18 tỷ USD. Giai đoạn 2031 - 2035, nhu cầu đầu tư tiếp tục ở mức cao, lên tới 130 tỷ USD. Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, để hoàn thành được khối lượng đầu tư khổng lồ này, cần có cơ chế huy động mạnh mẽ nguồn lực tư nhân đầu tư vào lưới truyền tải, đồng thời cần thay đổi phương pháp tính giá truyền tải để tính đúng, tính đủ và hấp dẫn nhà đầu tư.

Bên cạnh phát triển lưới điện trong nước, QHĐ VIII điều chỉnh cũng đẩy mạnh liên kết điện khu vực. Quy hoạch đặt mục tiêu nhập khẩu tối thiểu 8.000MW điện từ Lào thông qua 04 tuyến 500kV và 08 tuyến 220kV. Đây là nguồn điện có lợi thế về chi phí và thời gian đầu tư, góp phần đáng kể vào sản lượng của hệ thống điện Việt Nam. Ngoài ra, quy hoạch cũng xem xét đến phương án nhập khẩu điện từ Trung Quốc của EVN, tuy nhiên, trong thời gian tới cần tiếp tục làm rõ về quy mô, thời điểm, thời hạn mua và giá điện phù hợp nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế cao nhất.

Ở góc nhìn chuyên gia quy hoạch, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh, để triển khai hiệu quả QHĐ VIII điều chỉnh, cần ưu tiên hoàn thiện chính sách pháp luật về giá điện. Giá điện hai thành phần, giá dịch vụ phụ trợ, khung giá cho các loại nguồn điện mới và cơ chế cho NLTT là những yếu tố then chốt để thu hút đầu tư và bảo đảm cân bằng lợi ích giữa người dùng điện - Nhà nước - nhà đầu tư. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế khuyến khích phát triển điện gió và điện mặt trời ở miền Bắc nhằm giảm áp lực truyền tải liên miền và bảo đảm an ninh cung cấp điện tại khu vực phụ tải lớn.

Ngoài chính sách giá, các thủ tục đầu tư cần được rà soát triệt để, loại bỏ các điểm nghẽn và áp dụng chế tài mạnh đối với các dự án chậm tiến độ. Những dự án lưới điện truyền tải quan trọng cần có cơ chế giao nhiệm vụ rõ ràng để triển khai nhanh và đồng bộ với các nguồn điện.

Kết luận về vai trò của điều chỉnh QHĐ VIII, ông Nguyễn Mạnh Cường khẳng định đây là bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước. “Điều chỉnh quy hoạch không đơn giản là cập nhật số liệu, mà là thiết kế cấu trúc hệ thống điện mới, bền vững, an toàn và phù hợp với mục tiêu phát triển hùng cường của Việt Nam”, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh. Với cách tiếp cận toàn diện, bản điều chỉnh QHĐ VIII được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam không chỉ bảo đảm an ninh năng lượng trong ngắn hạn mà còn tạo dựng nền tảng vững chắc cho mục tiêu Net-zero đến năm 2050 và sự phát triển bền vững của hệ thống năng lượng quốc gia.

Nhật Nam

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.
Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện và mô hình dưỡng lão chuyên nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Sự kết hợp giữa y học cổ truyền với phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi được xem là hướng đi chiến lược, phù hợp với định hướng lớn của Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là nền tảng vững chắc để đẩy mạnh công tác chuẩn bị và tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, những điểm mới và yêu cầu đối với công tác bầu cử, làm rõ các nhiệm vụ trọng tâm về chuẩn bị nhân sự, công tác tuyên truyền, bảo đảm quyền của cử tri, cơ sở vật chất, hoạt động giám sát, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đồng chí Nguyễn Thị Thanh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định quyết tâm của Đảng ủy Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công cuộc bầu cử là hành động thiết thực để triển khai kịp thời khí thế, tinh thần chỉ đạo mạnh mẽ của Nghị quyết Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 của Bộ Chính trị.
Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: