Thứ ba 25/08/2026 07:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

Từ góc độ nghiên cứu - quy hoạch, ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Phát triển hệ thống điện, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), đã phân tích sâu những yêu cầu cấp thiết, những điểm đổi mới và các thách thức trong quá trình xây dựng bản điều chỉnh này. Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, sự điều chỉnh này không đơn thuần là cập nhật bản quy hoạch, mà là bước chuẩn bị quan trọng để xây dựng cấu trúc hệ thống điện mới, đáp ứng giai đoạn phát triển tăng tốc của đất nước.

Nhu cầu điều chỉnh: Bối cảnh mới, yêu cầu mới

Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, tốc độ phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng điện có xu hướng tăng nhanh, nền kinh tế đang đứng trước thời cơ tăng trưởng mạnh mẽ với các mục tiêu phát triển mới: GDP giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu đạt mức tăng trưởng hai con số; Quốc hội thông qua chủ trương tái khởi động chương trình phát triển điện hạt nhân; quy hoạch không gian biển quốc gia được phê duyệt; Luật Điện lực năm 2024 có hiệu lực từ tháng 02/2025… tạo ra nền tảng và yêu cầu mới cho ngành điện.

Ngoài ra, Luật Quy hoạch quy định quy hoạch điện (QHĐ) phải được rà soát định kỳ 5 năm một lần. Những vướng mắc trong triển khai QHĐ VIII thời gian qua - từ tiến độ các dự án nguồn điện khí, khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG), đến cơ chế giá cho năng lượng tái tạo (NLTT), hệ thống lưu trữ… cũng là yếu tố đặt ra yêu cầu cấp bách phải điều chỉnh. “Mục tiêu là bảo đảm cung cấp đủ điện cho giai đoạn phát triển tăng tốc, đồng thời, thực hiện chuyển dịch năng lượng nhằm đạt Net-zero vào năm 2050”, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh.

Chính vì vậy, điều chỉnh QHĐ VIII được Chính phủ và Bộ Công Thương xác định là nhiệm vụ đặc biệt cấp bách, nhằm chủ động giải quyết các điểm nghẽn và đảm bảo cung cấp đủ điện trong giai đoạn tăng tốc phát triển sắp tới.

Trong quá trình xây dựng bản điều chỉnh, Viện Năng lượng tiếp cận theo phương pháp tích hợp hiện đại, kế thừa các nguyên tắc của QHĐ VIII, đồng thời, bổ sung những định hướng mới quan trọng. Quy hoạch lần này không chỉ đặt mục tiêu đáp ứng nhu cầu điện trong nước mà còn mở rộng sang các mục tiêu xuất khẩu điện, mua bán điện trực tiếp (DPPA) và phát triển các ngành năng lượng mới như hydro xanh, amoniac xanh - những lĩnh vực đang trở thành xu hướng toàn cầu.

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển
Quy hoạch điện VIII bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng giai đoạn phát triển của đất nước

Đưa điện hạt nhân trở lại đúng vai trò

Điểm nhấn lớn trong bản điều chỉnh là việc đưa điện hạt nhân trở lại với vai trò nguồn điện nền công nghệ tiên tiến, an toàn cao, góp phần tăng tính ổn định của hệ thống và hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải theo cam kết Net-zero vào năm 2050. Đây là sự thay đổi chiến lược trong bối cảnh Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.

Bên cạnh đó, bản điều chỉnh QHĐ VIII tiếp tục phát huy tiềm năng NLTT theo từng vùng miền, với cách tiếp cận tính toán chi tiết hơn dựa trên điều kiện phụ tải, tiềm năng gió - mặt trời, mức độ kết nối lưới điện và hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của từng giai đoạn. Việc phát triển NLTT đi kèm với yêu cầu đầu tư lưới điện thông minh, hiện đại hóa hệ thống, bảo đảm vận hành an toàn trong bối cảnh tỷ lệ NL TT tăng nhanh.

Ông Nguyễn Mạnh Cường cho biết, hệ thống điện Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ trong gần một thập kỷ qua. Công suất đặt của hệ thống tăng từ 42GW (năm 2016) lên 86GW (năm 2024), tốc độ tăng trung bình 9,4%/năm, trong khi sản lượng điện tăng từ 182 tỷ kWh lên khoảng 310 tỷ kWh. Đặc biệt, từ năm 2019, sự bứt phá của điện gió và điện mặt trời đã nâng tỷ lệ NLTT lên 55% công suất đặt, nếu tính cả điện mặt trời, điện gió, thủy điện. Sản lượng điện từ NLTT đã chiếm 42% (gồm thủy điện), trong đó điện gió, điện mặt trời mới chỉ chiếm khoảng 13% tổng sản lượng toàn hệ thống.

Tính đến hết năm 2024, tổng công suất thực hiện mới đạt 53% so với mục tiêu đến năm 2030 của QHĐ VIII. Điện gió mới đạt khoảng 30% kế hoạch, các dự án nhiệt điện LNG và khí trong nước đối mặt với nhiều khó khăn. Lưới điện truyền tải có bước tiến quan trọng khi hoàn thành đường dây 500kV mạch 3 Quảng Trạch - Thanh Hóa - Nam Định - Phối Nối dài 519km, góp phần đạt 76% khối lượng giai đoạn 2021 - 2025. Tuy vậy, ông Nguyễn Mạnh Cường cho rằng: “nguồn và lưới điện tuy về cơ bản đáp ứng nhưng sẽ nhanh chóng chịu áp lực lớn khi phụ tải tăng mạnh, đặc biệt ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”.

Một trong những yếu tố quan trọng của bản điều chỉnh là dự báo phụ tải. Viện Năng lượng đã xây dựng bốn nhóm kịch bản gồm thấp, cơ sở, cao và cao đặc biệt. Kịch bản thấp bám sát thực tế dự báo của các tổ chức quốc tế trong bối cảnh tăng trưởng ổn định. Kịch bản cơ sở phản ánh mục tiêu tăng trưởng trong Quy hoạch tổng thể quốc gia. Kịch bản cao đặt giả định nền kinh tế tăng tốc mạnh, đạt tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030. Kịch bản cao đặc biệt với kỳ vọng tăng trưởng hai con số trong cả giai đoạn dài từ năm 2026 đến năm 2050. Bộ Công Thương, Chính phủ đã lựa chọn kịch bản cao làm kịch bản điều hành để bảo đảm các mục tiêu của Đảng, Chính phủ với mức dự phòng hợp lý nhằm thu hút đầu tư vào ngành điện và tránh nguy cơ thiếu điện trong bối cảnh nền kinh tế cần tốc độ tăng trưởng nhanh.

Việc tính toán quy hoạch sử dụng phần mềm BALMOREL - công cụ lập quy hoạch nguồn điện đã được kiểm chứng và ứng dụng tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Đây là nền tảng để mô hình hóa hệ thống điện có tỷ lệ cao NLTT, tính toán tối ưu công suất nguồn - lưới và xác định chi phí tối ưu toàn hệ thống.

Cùng với bài toán cân đối cung - cầu, lộ trình giảm phát thải của ngành điện cũng là nội dung trọng tâm của QHĐ VIII điều chỉnh. Theo Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, mục tiêu kiểm soát phát thải CO2 của ngành điện đến năm 2030 là khoảng 204 - 254 triệu tấn, giảm còn 27 - 31 triệu tấn vào năm 2050. Mức phát thải sẽ đạt đỉnh vào năm 2035 và giảm nhanh theo lộ trình hướng tới Net-zero. Việt Nam dự kiến vận hành thị trường carbon vào năm 2028, tạo cơ chế linh hoạt cho ngành điện tham gia mua bán hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Điều chỉnh QHĐ VIII áp dụng nguyên tắc giới hạn phát thải CO2 theo từng giai đoạn quy hoạch, phù hợp lộ trình này .

Bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước

Một trong những thách thức lớn nhất của hệ thống điện hiện nay là hạ tầng truyền tải. Nhu cầu truyền tải giữa các vùng miền tăng mạnh, đặc biệt từ Trung Trung Bộ ra Bắc Bộ và từ Nam Trung Bộ vào Nam Bộ. Đến năm 2050, sản lượng truyền tải từ miền Trung ra miền Bắc có thể lên tới 135 tỷ kWh. Vì vậy, quy hoạch điều chỉnh đề xuất xây dựng hai hệ thống truyền tải siêu cao áp HVDC (High Voltage Direct Current - Truyền tải điện cao áp một chiều) quy mô 5.000 - 6.000MW mỗi hệ thống, với chiều dài 700 - 1.000km - giải pháp thay thế phù hợp trong điều kiện quỹ đất hành lang tuyến hạn chế và yêu cầu truyền tải công suất lớn trên cự ly dài.

Giai đoạn 2025 - 2030, Việt Nam cần xây mới khoảng 12.500km đường dây 500kV, 18.000km đường dây 220kV, cùng 100GVA trạm biến áp 500kV và 105GVA trạm biến áp 220kV. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện giai đoạn này vào khoảng 136 tỷ USD, trong đó lưới điện cần khoảng 18 tỷ USD. Giai đoạn 2031 - 2035, nhu cầu đầu tư tiếp tục ở mức cao, lên tới 130 tỷ USD. Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, để hoàn thành được khối lượng đầu tư khổng lồ này, cần có cơ chế huy động mạnh mẽ nguồn lực tư nhân đầu tư vào lưới truyền tải, đồng thời cần thay đổi phương pháp tính giá truyền tải để tính đúng, tính đủ và hấp dẫn nhà đầu tư.

Bên cạnh phát triển lưới điện trong nước, QHĐ VIII điều chỉnh cũng đẩy mạnh liên kết điện khu vực. Quy hoạch đặt mục tiêu nhập khẩu tối thiểu 8.000MW điện từ Lào thông qua 04 tuyến 500kV và 08 tuyến 220kV. Đây là nguồn điện có lợi thế về chi phí và thời gian đầu tư, góp phần đáng kể vào sản lượng của hệ thống điện Việt Nam. Ngoài ra, quy hoạch cũng xem xét đến phương án nhập khẩu điện từ Trung Quốc của EVN, tuy nhiên, trong thời gian tới cần tiếp tục làm rõ về quy mô, thời điểm, thời hạn mua và giá điện phù hợp nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế cao nhất.

Ở góc nhìn chuyên gia quy hoạch, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh, để triển khai hiệu quả QHĐ VIII điều chỉnh, cần ưu tiên hoàn thiện chính sách pháp luật về giá điện. Giá điện hai thành phần, giá dịch vụ phụ trợ, khung giá cho các loại nguồn điện mới và cơ chế cho NLTT là những yếu tố then chốt để thu hút đầu tư và bảo đảm cân bằng lợi ích giữa người dùng điện - Nhà nước - nhà đầu tư. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế khuyến khích phát triển điện gió và điện mặt trời ở miền Bắc nhằm giảm áp lực truyền tải liên miền và bảo đảm an ninh cung cấp điện tại khu vực phụ tải lớn.

Ngoài chính sách giá, các thủ tục đầu tư cần được rà soát triệt để, loại bỏ các điểm nghẽn và áp dụng chế tài mạnh đối với các dự án chậm tiến độ. Những dự án lưới điện truyền tải quan trọng cần có cơ chế giao nhiệm vụ rõ ràng để triển khai nhanh và đồng bộ với các nguồn điện.

Kết luận về vai trò của điều chỉnh QHĐ VIII, ông Nguyễn Mạnh Cường khẳng định đây là bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước. “Điều chỉnh quy hoạch không đơn giản là cập nhật số liệu, mà là thiết kế cấu trúc hệ thống điện mới, bền vững, an toàn và phù hợp với mục tiêu phát triển hùng cường của Việt Nam”, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh. Với cách tiếp cận toàn diện, bản điều chỉnh QHĐ VIII được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam không chỉ bảo đảm an ninh năng lượng trong ngắn hạn mà còn tạo dựng nền tảng vững chắc cho mục tiêu Net-zero đến năm 2050 và sự phát triển bền vững của hệ thống năng lượng quốc gia.

Nhật Nam

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: