Thứ ba 08/09/2026 16:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

Từ góc độ nghiên cứu - quy hoạch, ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Phát triển hệ thống điện, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), đã phân tích sâu những yêu cầu cấp thiết, những điểm đổi mới và các thách thức trong quá trình xây dựng bản điều chỉnh này. Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, sự điều chỉnh này không đơn thuần là cập nhật bản quy hoạch, mà là bước chuẩn bị quan trọng để xây dựng cấu trúc hệ thống điện mới, đáp ứng giai đoạn phát triển tăng tốc của đất nước.

Nhu cầu điều chỉnh: Bối cảnh mới, yêu cầu mới

Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, tốc độ phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng điện có xu hướng tăng nhanh, nền kinh tế đang đứng trước thời cơ tăng trưởng mạnh mẽ với các mục tiêu phát triển mới: GDP giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu đạt mức tăng trưởng hai con số; Quốc hội thông qua chủ trương tái khởi động chương trình phát triển điện hạt nhân; quy hoạch không gian biển quốc gia được phê duyệt; Luật Điện lực năm 2024 có hiệu lực từ tháng 02/2025… tạo ra nền tảng và yêu cầu mới cho ngành điện.

Ngoài ra, Luật Quy hoạch quy định quy hoạch điện (QHĐ) phải được rà soát định kỳ 5 năm một lần. Những vướng mắc trong triển khai QHĐ VIII thời gian qua - từ tiến độ các dự án nguồn điện khí, khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG), đến cơ chế giá cho năng lượng tái tạo (NLTT), hệ thống lưu trữ… cũng là yếu tố đặt ra yêu cầu cấp bách phải điều chỉnh. “Mục tiêu là bảo đảm cung cấp đủ điện cho giai đoạn phát triển tăng tốc, đồng thời, thực hiện chuyển dịch năng lượng nhằm đạt Net-zero vào năm 2050”, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh.

Chính vì vậy, điều chỉnh QHĐ VIII được Chính phủ và Bộ Công Thương xác định là nhiệm vụ đặc biệt cấp bách, nhằm chủ động giải quyết các điểm nghẽn và đảm bảo cung cấp đủ điện trong giai đoạn tăng tốc phát triển sắp tới.

Trong quá trình xây dựng bản điều chỉnh, Viện Năng lượng tiếp cận theo phương pháp tích hợp hiện đại, kế thừa các nguyên tắc của QHĐ VIII, đồng thời, bổ sung những định hướng mới quan trọng. Quy hoạch lần này không chỉ đặt mục tiêu đáp ứng nhu cầu điện trong nước mà còn mở rộng sang các mục tiêu xuất khẩu điện, mua bán điện trực tiếp (DPPA) và phát triển các ngành năng lượng mới như hydro xanh, amoniac xanh - những lĩnh vực đang trở thành xu hướng toàn cầu.

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển
Quy hoạch điện VIII bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng giai đoạn phát triển của đất nước

Đưa điện hạt nhân trở lại đúng vai trò

Điểm nhấn lớn trong bản điều chỉnh là việc đưa điện hạt nhân trở lại với vai trò nguồn điện nền công nghệ tiên tiến, an toàn cao, góp phần tăng tính ổn định của hệ thống và hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải theo cam kết Net-zero vào năm 2050. Đây là sự thay đổi chiến lược trong bối cảnh Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.

Bên cạnh đó, bản điều chỉnh QHĐ VIII tiếp tục phát huy tiềm năng NLTT theo từng vùng miền, với cách tiếp cận tính toán chi tiết hơn dựa trên điều kiện phụ tải, tiềm năng gió - mặt trời, mức độ kết nối lưới điện và hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của từng giai đoạn. Việc phát triển NLTT đi kèm với yêu cầu đầu tư lưới điện thông minh, hiện đại hóa hệ thống, bảo đảm vận hành an toàn trong bối cảnh tỷ lệ NL TT tăng nhanh.

Ông Nguyễn Mạnh Cường cho biết, hệ thống điện Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ trong gần một thập kỷ qua. Công suất đặt của hệ thống tăng từ 42GW (năm 2016) lên 86GW (năm 2024), tốc độ tăng trung bình 9,4%/năm, trong khi sản lượng điện tăng từ 182 tỷ kWh lên khoảng 310 tỷ kWh. Đặc biệt, từ năm 2019, sự bứt phá của điện gió và điện mặt trời đã nâng tỷ lệ NLTT lên 55% công suất đặt, nếu tính cả điện mặt trời, điện gió, thủy điện. Sản lượng điện từ NLTT đã chiếm 42% (gồm thủy điện), trong đó điện gió, điện mặt trời mới chỉ chiếm khoảng 13% tổng sản lượng toàn hệ thống.

Tính đến hết năm 2024, tổng công suất thực hiện mới đạt 53% so với mục tiêu đến năm 2030 của QHĐ VIII. Điện gió mới đạt khoảng 30% kế hoạch, các dự án nhiệt điện LNG và khí trong nước đối mặt với nhiều khó khăn. Lưới điện truyền tải có bước tiến quan trọng khi hoàn thành đường dây 500kV mạch 3 Quảng Trạch - Thanh Hóa - Nam Định - Phối Nối dài 519km, góp phần đạt 76% khối lượng giai đoạn 2021 - 2025. Tuy vậy, ông Nguyễn Mạnh Cường cho rằng: “nguồn và lưới điện tuy về cơ bản đáp ứng nhưng sẽ nhanh chóng chịu áp lực lớn khi phụ tải tăng mạnh, đặc biệt ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”.

Một trong những yếu tố quan trọng của bản điều chỉnh là dự báo phụ tải. Viện Năng lượng đã xây dựng bốn nhóm kịch bản gồm thấp, cơ sở, cao và cao đặc biệt. Kịch bản thấp bám sát thực tế dự báo của các tổ chức quốc tế trong bối cảnh tăng trưởng ổn định. Kịch bản cơ sở phản ánh mục tiêu tăng trưởng trong Quy hoạch tổng thể quốc gia. Kịch bản cao đặt giả định nền kinh tế tăng tốc mạnh, đạt tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030. Kịch bản cao đặc biệt với kỳ vọng tăng trưởng hai con số trong cả giai đoạn dài từ năm 2026 đến năm 2050. Bộ Công Thương, Chính phủ đã lựa chọn kịch bản cao làm kịch bản điều hành để bảo đảm các mục tiêu của Đảng, Chính phủ với mức dự phòng hợp lý nhằm thu hút đầu tư vào ngành điện và tránh nguy cơ thiếu điện trong bối cảnh nền kinh tế cần tốc độ tăng trưởng nhanh.

Việc tính toán quy hoạch sử dụng phần mềm BALMOREL - công cụ lập quy hoạch nguồn điện đã được kiểm chứng và ứng dụng tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Đây là nền tảng để mô hình hóa hệ thống điện có tỷ lệ cao NLTT, tính toán tối ưu công suất nguồn - lưới và xác định chi phí tối ưu toàn hệ thống.

Cùng với bài toán cân đối cung - cầu, lộ trình giảm phát thải của ngành điện cũng là nội dung trọng tâm của QHĐ VIII điều chỉnh. Theo Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, mục tiêu kiểm soát phát thải CO2 của ngành điện đến năm 2030 là khoảng 204 - 254 triệu tấn, giảm còn 27 - 31 triệu tấn vào năm 2050. Mức phát thải sẽ đạt đỉnh vào năm 2035 và giảm nhanh theo lộ trình hướng tới Net-zero. Việt Nam dự kiến vận hành thị trường carbon vào năm 2028, tạo cơ chế linh hoạt cho ngành điện tham gia mua bán hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Điều chỉnh QHĐ VIII áp dụng nguyên tắc giới hạn phát thải CO2 theo từng giai đoạn quy hoạch, phù hợp lộ trình này .

Bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước

Một trong những thách thức lớn nhất của hệ thống điện hiện nay là hạ tầng truyền tải. Nhu cầu truyền tải giữa các vùng miền tăng mạnh, đặc biệt từ Trung Trung Bộ ra Bắc Bộ và từ Nam Trung Bộ vào Nam Bộ. Đến năm 2050, sản lượng truyền tải từ miền Trung ra miền Bắc có thể lên tới 135 tỷ kWh. Vì vậy, quy hoạch điều chỉnh đề xuất xây dựng hai hệ thống truyền tải siêu cao áp HVDC (High Voltage Direct Current - Truyền tải điện cao áp một chiều) quy mô 5.000 - 6.000MW mỗi hệ thống, với chiều dài 700 - 1.000km - giải pháp thay thế phù hợp trong điều kiện quỹ đất hành lang tuyến hạn chế và yêu cầu truyền tải công suất lớn trên cự ly dài.

Giai đoạn 2025 - 2030, Việt Nam cần xây mới khoảng 12.500km đường dây 500kV, 18.000km đường dây 220kV, cùng 100GVA trạm biến áp 500kV và 105GVA trạm biến áp 220kV. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện giai đoạn này vào khoảng 136 tỷ USD, trong đó lưới điện cần khoảng 18 tỷ USD. Giai đoạn 2031 - 2035, nhu cầu đầu tư tiếp tục ở mức cao, lên tới 130 tỷ USD. Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, để hoàn thành được khối lượng đầu tư khổng lồ này, cần có cơ chế huy động mạnh mẽ nguồn lực tư nhân đầu tư vào lưới truyền tải, đồng thời cần thay đổi phương pháp tính giá truyền tải để tính đúng, tính đủ và hấp dẫn nhà đầu tư.

Bên cạnh phát triển lưới điện trong nước, QHĐ VIII điều chỉnh cũng đẩy mạnh liên kết điện khu vực. Quy hoạch đặt mục tiêu nhập khẩu tối thiểu 8.000MW điện từ Lào thông qua 04 tuyến 500kV và 08 tuyến 220kV. Đây là nguồn điện có lợi thế về chi phí và thời gian đầu tư, góp phần đáng kể vào sản lượng của hệ thống điện Việt Nam. Ngoài ra, quy hoạch cũng xem xét đến phương án nhập khẩu điện từ Trung Quốc của EVN, tuy nhiên, trong thời gian tới cần tiếp tục làm rõ về quy mô, thời điểm, thời hạn mua và giá điện phù hợp nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế cao nhất.

Ở góc nhìn chuyên gia quy hoạch, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh, để triển khai hiệu quả QHĐ VIII điều chỉnh, cần ưu tiên hoàn thiện chính sách pháp luật về giá điện. Giá điện hai thành phần, giá dịch vụ phụ trợ, khung giá cho các loại nguồn điện mới và cơ chế cho NLTT là những yếu tố then chốt để thu hút đầu tư và bảo đảm cân bằng lợi ích giữa người dùng điện - Nhà nước - nhà đầu tư. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế khuyến khích phát triển điện gió và điện mặt trời ở miền Bắc nhằm giảm áp lực truyền tải liên miền và bảo đảm an ninh cung cấp điện tại khu vực phụ tải lớn.

Ngoài chính sách giá, các thủ tục đầu tư cần được rà soát triệt để, loại bỏ các điểm nghẽn và áp dụng chế tài mạnh đối với các dự án chậm tiến độ. Những dự án lưới điện truyền tải quan trọng cần có cơ chế giao nhiệm vụ rõ ràng để triển khai nhanh và đồng bộ với các nguồn điện.

Kết luận về vai trò của điều chỉnh QHĐ VIII, ông Nguyễn Mạnh Cường khẳng định đây là bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước. “Điều chỉnh quy hoạch không đơn giản là cập nhật số liệu, mà là thiết kế cấu trúc hệ thống điện mới, bền vững, an toàn và phù hợp với mục tiêu phát triển hùng cường của Việt Nam”, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh. Với cách tiếp cận toàn diện, bản điều chỉnh QHĐ VIII được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam không chỉ bảo đảm an ninh năng lượng trong ngắn hạn mà còn tạo dựng nền tảng vững chắc cho mục tiêu Net-zero đến năm 2050 và sự phát triển bền vững của hệ thống năng lượng quốc gia.

Nhật Nam

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: