Từ góc độ nghiên cứu - quy hoạch, ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Phát triển hệ thống điện, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), đã phân tích sâu những yêu cầu cấp thiết, những điểm đổi mới và các thách thức trong quá trình xây dựng bản điều chỉnh này. Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, sự điều chỉnh này không đơn thuần là cập nhật bản quy hoạch, mà là bước chuẩn bị quan trọng để xây dựng cấu trúc hệ thống điện mới, đáp ứng giai đoạn phát triển tăng tốc của đất nước.
Nhu cầu điều chỉnh: Bối cảnh mới, yêu cầu mới
Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, tốc độ phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng điện có xu hướng tăng nhanh, nền kinh tế đang đứng trước thời cơ tăng trưởng mạnh mẽ với các mục tiêu phát triển mới: GDP giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu đạt mức tăng trưởng hai con số; Quốc hội thông qua chủ trương tái khởi động chương trình phát triển điện hạt nhân; quy hoạch không gian biển quốc gia được phê duyệt; Luật Điện lực năm 2024 có hiệu lực từ tháng 02/2025… tạo ra nền tảng và yêu cầu mới cho ngành điện.
Ngoài ra, Luật Quy hoạch quy định quy hoạch điện (QHĐ) phải được rà soát định kỳ 5 năm một lần. Những vướng mắc trong triển khai QHĐ VIII thời gian qua - từ tiến độ các dự án nguồn điện khí, khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG), đến cơ chế giá cho năng lượng tái tạo (NLTT), hệ thống lưu trữ… cũng là yếu tố đặt ra yêu cầu cấp bách phải điều chỉnh. “Mục tiêu là bảo đảm cung cấp đủ điện cho giai đoạn phát triển tăng tốc, đồng thời, thực hiện chuyển dịch năng lượng nhằm đạt Net-zero vào năm 2050”, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh.
Chính vì vậy, điều chỉnh QHĐ VIII được Chính phủ và Bộ Công Thương xác định là nhiệm vụ đặc biệt cấp bách, nhằm chủ động giải quyết các điểm nghẽn và đảm bảo cung cấp đủ điện trong giai đoạn tăng tốc phát triển sắp tới.
Trong quá trình xây dựng bản điều chỉnh, Viện Năng lượng tiếp cận theo phương pháp tích hợp hiện đại, kế thừa các nguyên tắc của QHĐ VIII, đồng thời, bổ sung những định hướng mới quan trọng. Quy hoạch lần này không chỉ đặt mục tiêu đáp ứng nhu cầu điện trong nước mà còn mở rộng sang các mục tiêu xuất khẩu điện, mua bán điện trực tiếp (DPPA) và phát triển các ngành năng lượng mới như hydro xanh, amoniac xanh - những lĩnh vực đang trở thành xu hướng toàn cầu.
![]() |
| Quy hoạch điện VIII bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng giai đoạn phát triển của đất nước |
Đưa điện hạt nhân trở lại đúng vai trò
Điểm nhấn lớn trong bản điều chỉnh là việc đưa điện hạt nhân trở lại với vai trò nguồn điện nền công nghệ tiên tiến, an toàn cao, góp phần tăng tính ổn định của hệ thống và hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải theo cam kết Net-zero vào năm 2050. Đây là sự thay đổi chiến lược trong bối cảnh Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, bản điều chỉnh QHĐ VIII tiếp tục phát huy tiềm năng NLTT theo từng vùng miền, với cách tiếp cận tính toán chi tiết hơn dựa trên điều kiện phụ tải, tiềm năng gió - mặt trời, mức độ kết nối lưới điện và hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của từng giai đoạn. Việc phát triển NLTT đi kèm với yêu cầu đầu tư lưới điện thông minh, hiện đại hóa hệ thống, bảo đảm vận hành an toàn trong bối cảnh tỷ lệ NL TT tăng nhanh.
Ông Nguyễn Mạnh Cường cho biết, hệ thống điện Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ trong gần một thập kỷ qua. Công suất đặt của hệ thống tăng từ 42GW (năm 2016) lên 86GW (năm 2024), tốc độ tăng trung bình 9,4%/năm, trong khi sản lượng điện tăng từ 182 tỷ kWh lên khoảng 310 tỷ kWh. Đặc biệt, từ năm 2019, sự bứt phá của điện gió và điện mặt trời đã nâng tỷ lệ NLTT lên 55% công suất đặt, nếu tính cả điện mặt trời, điện gió, thủy điện. Sản lượng điện từ NLTT đã chiếm 42% (gồm thủy điện), trong đó điện gió, điện mặt trời mới chỉ chiếm khoảng 13% tổng sản lượng toàn hệ thống.
Tính đến hết năm 2024, tổng công suất thực hiện mới đạt 53% so với mục tiêu đến năm 2030 của QHĐ VIII. Điện gió mới đạt khoảng 30% kế hoạch, các dự án nhiệt điện LNG và khí trong nước đối mặt với nhiều khó khăn. Lưới điện truyền tải có bước tiến quan trọng khi hoàn thành đường dây 500kV mạch 3 Quảng Trạch - Thanh Hóa - Nam Định - Phối Nối dài 519km, góp phần đạt 76% khối lượng giai đoạn 2021 - 2025. Tuy vậy, ông Nguyễn Mạnh Cường cho rằng: “nguồn và lưới điện tuy về cơ bản đáp ứng nhưng sẽ nhanh chóng chịu áp lực lớn khi phụ tải tăng mạnh, đặc biệt ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”.
Một trong những yếu tố quan trọng của bản điều chỉnh là dự báo phụ tải. Viện Năng lượng đã xây dựng bốn nhóm kịch bản gồm thấp, cơ sở, cao và cao đặc biệt. Kịch bản thấp bám sát thực tế dự báo của các tổ chức quốc tế trong bối cảnh tăng trưởng ổn định. Kịch bản cơ sở phản ánh mục tiêu tăng trưởng trong Quy hoạch tổng thể quốc gia. Kịch bản cao đặt giả định nền kinh tế tăng tốc mạnh, đạt tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030. Kịch bản cao đặc biệt với kỳ vọng tăng trưởng hai con số trong cả giai đoạn dài từ năm 2026 đến năm 2050. Bộ Công Thương, Chính phủ đã lựa chọn kịch bản cao làm kịch bản điều hành để bảo đảm các mục tiêu của Đảng, Chính phủ với mức dự phòng hợp lý nhằm thu hút đầu tư vào ngành điện và tránh nguy cơ thiếu điện trong bối cảnh nền kinh tế cần tốc độ tăng trưởng nhanh.
Việc tính toán quy hoạch sử dụng phần mềm BALMOREL - công cụ lập quy hoạch nguồn điện đã được kiểm chứng và ứng dụng tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Đây là nền tảng để mô hình hóa hệ thống điện có tỷ lệ cao NLTT, tính toán tối ưu công suất nguồn - lưới và xác định chi phí tối ưu toàn hệ thống.
Cùng với bài toán cân đối cung - cầu, lộ trình giảm phát thải của ngành điện cũng là nội dung trọng tâm của QHĐ VIII điều chỉnh. Theo Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, mục tiêu kiểm soát phát thải CO2 của ngành điện đến năm 2030 là khoảng 204 - 254 triệu tấn, giảm còn 27 - 31 triệu tấn vào năm 2050. Mức phát thải sẽ đạt đỉnh vào năm 2035 và giảm nhanh theo lộ trình hướng tới Net-zero. Việt Nam dự kiến vận hành thị trường carbon vào năm 2028, tạo cơ chế linh hoạt cho ngành điện tham gia mua bán hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Điều chỉnh QHĐ VIII áp dụng nguyên tắc giới hạn phát thải CO2 theo từng giai đoạn quy hoạch, phù hợp lộ trình này .
Bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước
Một trong những thách thức lớn nhất của hệ thống điện hiện nay là hạ tầng truyền tải. Nhu cầu truyền tải giữa các vùng miền tăng mạnh, đặc biệt từ Trung Trung Bộ ra Bắc Bộ và từ Nam Trung Bộ vào Nam Bộ. Đến năm 2050, sản lượng truyền tải từ miền Trung ra miền Bắc có thể lên tới 135 tỷ kWh. Vì vậy, quy hoạch điều chỉnh đề xuất xây dựng hai hệ thống truyền tải siêu cao áp HVDC (High Voltage Direct Current - Truyền tải điện cao áp một chiều) quy mô 5.000 - 6.000MW mỗi hệ thống, với chiều dài 700 - 1.000km - giải pháp thay thế phù hợp trong điều kiện quỹ đất hành lang tuyến hạn chế và yêu cầu truyền tải công suất lớn trên cự ly dài.
Giai đoạn 2025 - 2030, Việt Nam cần xây mới khoảng 12.500km đường dây 500kV, 18.000km đường dây 220kV, cùng 100GVA trạm biến áp 500kV và 105GVA trạm biến áp 220kV. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện giai đoạn này vào khoảng 136 tỷ USD, trong đó lưới điện cần khoảng 18 tỷ USD. Giai đoạn 2031 - 2035, nhu cầu đầu tư tiếp tục ở mức cao, lên tới 130 tỷ USD. Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, để hoàn thành được khối lượng đầu tư khổng lồ này, cần có cơ chế huy động mạnh mẽ nguồn lực tư nhân đầu tư vào lưới truyền tải, đồng thời cần thay đổi phương pháp tính giá truyền tải để tính đúng, tính đủ và hấp dẫn nhà đầu tư.
Bên cạnh phát triển lưới điện trong nước, QHĐ VIII điều chỉnh cũng đẩy mạnh liên kết điện khu vực. Quy hoạch đặt mục tiêu nhập khẩu tối thiểu 8.000MW điện từ Lào thông qua 04 tuyến 500kV và 08 tuyến 220kV. Đây là nguồn điện có lợi thế về chi phí và thời gian đầu tư, góp phần đáng kể vào sản lượng của hệ thống điện Việt Nam. Ngoài ra, quy hoạch cũng xem xét đến phương án nhập khẩu điện từ Trung Quốc của EVN, tuy nhiên, trong thời gian tới cần tiếp tục làm rõ về quy mô, thời điểm, thời hạn mua và giá điện phù hợp nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế cao nhất.
Ở góc nhìn chuyên gia quy hoạch, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh, để triển khai hiệu quả QHĐ VIII điều chỉnh, cần ưu tiên hoàn thiện chính sách pháp luật về giá điện. Giá điện hai thành phần, giá dịch vụ phụ trợ, khung giá cho các loại nguồn điện mới và cơ chế cho NLTT là những yếu tố then chốt để thu hút đầu tư và bảo đảm cân bằng lợi ích giữa người dùng điện - Nhà nước - nhà đầu tư. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế khuyến khích phát triển điện gió và điện mặt trời ở miền Bắc nhằm giảm áp lực truyền tải liên miền và bảo đảm an ninh cung cấp điện tại khu vực phụ tải lớn.
Ngoài chính sách giá, các thủ tục đầu tư cần được rà soát triệt để, loại bỏ các điểm nghẽn và áp dụng chế tài mạnh đối với các dự án chậm tiến độ. Những dự án lưới điện truyền tải quan trọng cần có cơ chế giao nhiệm vụ rõ ràng để triển khai nhanh và đồng bộ với các nguồn điện.
Kết luận về vai trò của điều chỉnh QHĐ VIII, ông Nguyễn Mạnh Cường khẳng định đây là bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước. “Điều chỉnh quy hoạch không đơn giản là cập nhật số liệu, mà là thiết kế cấu trúc hệ thống điện mới, bền vững, an toàn và phù hợp với mục tiêu phát triển hùng cường của Việt Nam”, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh. Với cách tiếp cận toàn diện, bản điều chỉnh QHĐ VIII được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam không chỉ bảo đảm an ninh năng lượng trong ngắn hạn mà còn tạo dựng nền tảng vững chắc cho mục tiêu Net-zero đến năm 2050 và sự phát triển bền vững của hệ thống năng lượng quốc gia.
Nhật Nam
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)