Thứ bảy 04/04/2026 09:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

Từ góc độ nghiên cứu - quy hoạch, ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Phát triển hệ thống điện, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), đã phân tích sâu những yêu cầu cấp thiết, những điểm đổi mới và các thách thức trong quá trình xây dựng bản điều chỉnh này. Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, sự điều chỉnh này không đơn thuần là cập nhật bản quy hoạch, mà là bước chuẩn bị quan trọng để xây dựng cấu trúc hệ thống điện mới, đáp ứng giai đoạn phát triển tăng tốc của đất nước.

Nhu cầu điều chỉnh: Bối cảnh mới, yêu cầu mới

Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, tốc độ phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng điện có xu hướng tăng nhanh, nền kinh tế đang đứng trước thời cơ tăng trưởng mạnh mẽ với các mục tiêu phát triển mới: GDP giai đoạn 2026 - 2030 phấn đấu đạt mức tăng trưởng hai con số; Quốc hội thông qua chủ trương tái khởi động chương trình phát triển điện hạt nhân; quy hoạch không gian biển quốc gia được phê duyệt; Luật Điện lực năm 2024 có hiệu lực từ tháng 02/2025… tạo ra nền tảng và yêu cầu mới cho ngành điện.

Ngoài ra, Luật Quy hoạch quy định quy hoạch điện (QHĐ) phải được rà soát định kỳ 5 năm một lần. Những vướng mắc trong triển khai QHĐ VIII thời gian qua - từ tiến độ các dự án nguồn điện khí, khí thiên nhiên hoá lỏng (LNG), đến cơ chế giá cho năng lượng tái tạo (NLTT), hệ thống lưu trữ… cũng là yếu tố đặt ra yêu cầu cấp bách phải điều chỉnh. “Mục tiêu là bảo đảm cung cấp đủ điện cho giai đoạn phát triển tăng tốc, đồng thời, thực hiện chuyển dịch năng lượng nhằm đạt Net-zero vào năm 2050”, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh.

Chính vì vậy, điều chỉnh QHĐ VIII được Chính phủ và Bộ Công Thương xác định là nhiệm vụ đặc biệt cấp bách, nhằm chủ động giải quyết các điểm nghẽn và đảm bảo cung cấp đủ điện trong giai đoạn tăng tốc phát triển sắp tới.

Trong quá trình xây dựng bản điều chỉnh, Viện Năng lượng tiếp cận theo phương pháp tích hợp hiện đại, kế thừa các nguyên tắc của QHĐ VIII, đồng thời, bổ sung những định hướng mới quan trọng. Quy hoạch lần này không chỉ đặt mục tiêu đáp ứng nhu cầu điện trong nước mà còn mở rộng sang các mục tiêu xuất khẩu điện, mua bán điện trực tiếp (DPPA) và phát triển các ngành năng lượng mới như hydro xanh, amoniac xanh - những lĩnh vực đang trở thành xu hướng toàn cầu.

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển
Quy hoạch điện VIII bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng giai đoạn phát triển của đất nước

Đưa điện hạt nhân trở lại đúng vai trò

Điểm nhấn lớn trong bản điều chỉnh là việc đưa điện hạt nhân trở lại với vai trò nguồn điện nền công nghệ tiên tiến, an toàn cao, góp phần tăng tính ổn định của hệ thống và hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải theo cam kết Net-zero vào năm 2050. Đây là sự thay đổi chiến lược trong bối cảnh Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng và thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.

Bên cạnh đó, bản điều chỉnh QHĐ VIII tiếp tục phát huy tiềm năng NLTT theo từng vùng miền, với cách tiếp cận tính toán chi tiết hơn dựa trên điều kiện phụ tải, tiềm năng gió - mặt trời, mức độ kết nối lưới điện và hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của từng giai đoạn. Việc phát triển NLTT đi kèm với yêu cầu đầu tư lưới điện thông minh, hiện đại hóa hệ thống, bảo đảm vận hành an toàn trong bối cảnh tỷ lệ NL TT tăng nhanh.

Ông Nguyễn Mạnh Cường cho biết, hệ thống điện Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ trong gần một thập kỷ qua. Công suất đặt của hệ thống tăng từ 42GW (năm 2016) lên 86GW (năm 2024), tốc độ tăng trung bình 9,4%/năm, trong khi sản lượng điện tăng từ 182 tỷ kWh lên khoảng 310 tỷ kWh. Đặc biệt, từ năm 2019, sự bứt phá của điện gió và điện mặt trời đã nâng tỷ lệ NLTT lên 55% công suất đặt, nếu tính cả điện mặt trời, điện gió, thủy điện. Sản lượng điện từ NLTT đã chiếm 42% (gồm thủy điện), trong đó điện gió, điện mặt trời mới chỉ chiếm khoảng 13% tổng sản lượng toàn hệ thống.

Tính đến hết năm 2024, tổng công suất thực hiện mới đạt 53% so với mục tiêu đến năm 2030 của QHĐ VIII. Điện gió mới đạt khoảng 30% kế hoạch, các dự án nhiệt điện LNG và khí trong nước đối mặt với nhiều khó khăn. Lưới điện truyền tải có bước tiến quan trọng khi hoàn thành đường dây 500kV mạch 3 Quảng Trạch - Thanh Hóa - Nam Định - Phối Nối dài 519km, góp phần đạt 76% khối lượng giai đoạn 2021 - 2025. Tuy vậy, ông Nguyễn Mạnh Cường cho rằng: “nguồn và lưới điện tuy về cơ bản đáp ứng nhưng sẽ nhanh chóng chịu áp lực lớn khi phụ tải tăng mạnh, đặc biệt ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”.

Một trong những yếu tố quan trọng của bản điều chỉnh là dự báo phụ tải. Viện Năng lượng đã xây dựng bốn nhóm kịch bản gồm thấp, cơ sở, cao và cao đặc biệt. Kịch bản thấp bám sát thực tế dự báo của các tổ chức quốc tế trong bối cảnh tăng trưởng ổn định. Kịch bản cơ sở phản ánh mục tiêu tăng trưởng trong Quy hoạch tổng thể quốc gia. Kịch bản cao đặt giả định nền kinh tế tăng tốc mạnh, đạt tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030. Kịch bản cao đặc biệt với kỳ vọng tăng trưởng hai con số trong cả giai đoạn dài từ năm 2026 đến năm 2050. Bộ Công Thương, Chính phủ đã lựa chọn kịch bản cao làm kịch bản điều hành để bảo đảm các mục tiêu của Đảng, Chính phủ với mức dự phòng hợp lý nhằm thu hút đầu tư vào ngành điện và tránh nguy cơ thiếu điện trong bối cảnh nền kinh tế cần tốc độ tăng trưởng nhanh.

Việc tính toán quy hoạch sử dụng phần mềm BALMOREL - công cụ lập quy hoạch nguồn điện đã được kiểm chứng và ứng dụng tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Đây là nền tảng để mô hình hóa hệ thống điện có tỷ lệ cao NLTT, tính toán tối ưu công suất nguồn - lưới và xác định chi phí tối ưu toàn hệ thống.

Cùng với bài toán cân đối cung - cầu, lộ trình giảm phát thải của ngành điện cũng là nội dung trọng tâm của QHĐ VIII điều chỉnh. Theo Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, mục tiêu kiểm soát phát thải CO2 của ngành điện đến năm 2030 là khoảng 204 - 254 triệu tấn, giảm còn 27 - 31 triệu tấn vào năm 2050. Mức phát thải sẽ đạt đỉnh vào năm 2035 và giảm nhanh theo lộ trình hướng tới Net-zero. Việt Nam dự kiến vận hành thị trường carbon vào năm 2028, tạo cơ chế linh hoạt cho ngành điện tham gia mua bán hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Điều chỉnh QHĐ VIII áp dụng nguyên tắc giới hạn phát thải CO2 theo từng giai đoạn quy hoạch, phù hợp lộ trình này .

Bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước

Một trong những thách thức lớn nhất của hệ thống điện hiện nay là hạ tầng truyền tải. Nhu cầu truyền tải giữa các vùng miền tăng mạnh, đặc biệt từ Trung Trung Bộ ra Bắc Bộ và từ Nam Trung Bộ vào Nam Bộ. Đến năm 2050, sản lượng truyền tải từ miền Trung ra miền Bắc có thể lên tới 135 tỷ kWh. Vì vậy, quy hoạch điều chỉnh đề xuất xây dựng hai hệ thống truyền tải siêu cao áp HVDC (High Voltage Direct Current - Truyền tải điện cao áp một chiều) quy mô 5.000 - 6.000MW mỗi hệ thống, với chiều dài 700 - 1.000km - giải pháp thay thế phù hợp trong điều kiện quỹ đất hành lang tuyến hạn chế và yêu cầu truyền tải công suất lớn trên cự ly dài.

Giai đoạn 2025 - 2030, Việt Nam cần xây mới khoảng 12.500km đường dây 500kV, 18.000km đường dây 220kV, cùng 100GVA trạm biến áp 500kV và 105GVA trạm biến áp 220kV. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện giai đoạn này vào khoảng 136 tỷ USD, trong đó lưới điện cần khoảng 18 tỷ USD. Giai đoạn 2031 - 2035, nhu cầu đầu tư tiếp tục ở mức cao, lên tới 130 tỷ USD. Theo ông Nguyễn Mạnh Cường, để hoàn thành được khối lượng đầu tư khổng lồ này, cần có cơ chế huy động mạnh mẽ nguồn lực tư nhân đầu tư vào lưới truyền tải, đồng thời cần thay đổi phương pháp tính giá truyền tải để tính đúng, tính đủ và hấp dẫn nhà đầu tư.

Bên cạnh phát triển lưới điện trong nước, QHĐ VIII điều chỉnh cũng đẩy mạnh liên kết điện khu vực. Quy hoạch đặt mục tiêu nhập khẩu tối thiểu 8.000MW điện từ Lào thông qua 04 tuyến 500kV và 08 tuyến 220kV. Đây là nguồn điện có lợi thế về chi phí và thời gian đầu tư, góp phần đáng kể vào sản lượng của hệ thống điện Việt Nam. Ngoài ra, quy hoạch cũng xem xét đến phương án nhập khẩu điện từ Trung Quốc của EVN, tuy nhiên, trong thời gian tới cần tiếp tục làm rõ về quy mô, thời điểm, thời hạn mua và giá điện phù hợp nhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế cao nhất.

Ở góc nhìn chuyên gia quy hoạch, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh, để triển khai hiệu quả QHĐ VIII điều chỉnh, cần ưu tiên hoàn thiện chính sách pháp luật về giá điện. Giá điện hai thành phần, giá dịch vụ phụ trợ, khung giá cho các loại nguồn điện mới và cơ chế cho NLTT là những yếu tố then chốt để thu hút đầu tư và bảo đảm cân bằng lợi ích giữa người dùng điện - Nhà nước - nhà đầu tư. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế khuyến khích phát triển điện gió và điện mặt trời ở miền Bắc nhằm giảm áp lực truyền tải liên miền và bảo đảm an ninh cung cấp điện tại khu vực phụ tải lớn.

Ngoài chính sách giá, các thủ tục đầu tư cần được rà soát triệt để, loại bỏ các điểm nghẽn và áp dụng chế tài mạnh đối với các dự án chậm tiến độ. Những dự án lưới điện truyền tải quan trọng cần có cơ chế giao nhiệm vụ rõ ràng để triển khai nhanh và đồng bộ với các nguồn điện.

Kết luận về vai trò của điều chỉnh QHĐ VIII, ông Nguyễn Mạnh Cường khẳng định đây là bước đi quan trọng nhằm chuẩn bị nền tảng hạ tầng năng lượng cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước. “Điều chỉnh quy hoạch không đơn giản là cập nhật số liệu, mà là thiết kế cấu trúc hệ thống điện mới, bền vững, an toàn và phù hợp với mục tiêu phát triển hùng cường của Việt Nam”, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh. Với cách tiếp cận toàn diện, bản điều chỉnh QHĐ VIII được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam không chỉ bảo đảm an ninh năng lượng trong ngắn hạn mà còn tạo dựng nền tảng vững chắc cho mục tiêu Net-zero đến năm 2050 và sự phát triển bền vững của hệ thống năng lượng quốc gia.

Nhật Nam

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ấn phẩm Xuân Bính Ngọ 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: