Thứ ba 22/09/2026 04:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện
Hoàn thiện quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Một số vướng mắc, bất cập

Thứ nhất, mức định lượng tối thiểu tài sản bị chiếm đoạt theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) (Điều luật này không được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025) có trị giá là 2.000.000 đồng được quy định từ khá lâu (năm 2015) trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi, mức sống và thu nhập của người dân cũng tăng lên đáng kể. Với mức định lượng như quy định hiện nay, nhiều vụ việc lừa đảo với trị giá tài sản thấp vẫn phải trải qua quy trình tố tụng hình sự đầy đủ, gây lãng phí nguồn lực của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong khi đó có thể được xử lý hiệu quả hơn bằng các biện pháp hành chính hoặc kỷ luật thay vì phải áp dụng chế tài hình sự. Ngoài ra, việc xử lý hình sự có thể không mang lại hiệu quả răn đe như mong muốn, đồng thời gây khó khăn đối với việc tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội sau khi chấp hành án.

Thứ hai, hình phạt tiền trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ được áp dụng là hình phạt bổ sung. Do đó, để Tòa án có thêm lựa chọn hình phạt phù hợp với từng trường hợp cụ thể, nên quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi phạm tội ở khoản này có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn ở các khung tăng nặng, số tiền chiếm đoạt cũng thấp hơn. Việc hạn chế áp dụng hình phạt tù sẽ giảm áp lực cho các cơ quan thi hành án hình sự, trại giam, trại tạm giam,... về cơ sở vật chất, công tác quản lý, ngân sách dành cho việc cải tạo phạm nhân, nhất là trong điều kiện các trại giam, trại tạm giam ở nước ta đang ở tình trạng quá tải, cơ sở vật chất đang gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, việc áp dụng hình phạt tiền triệt để hơn sẽ mang lại giá trị răn đe cao hơn trước ý thức chiếm đoạt tài sản của người phạm tội.

Thứ ba, mức phạt tiền quy định là hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được đánh giá là tương đối nhẹ trước tình hình đời sống nhân dân đang ngày càng được nâng cao và không tương xứng với hậu quả mà loại tội phạm này gây ra. Bên cạnh đó, thực tế hiện nay, hành vi phạm tội thường chiếm đoạt số tiền rất lớn, có thể lên đến nhiều tỷ đồng trong khi mức hình phạt tiền tối đa chỉ 100.000.000 đồng. Mặc dù, người phạm tội cũng phải chịu hình phạt chính là cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng rõ ràng với mức phạt thấp như vậy chưa thực sự đủ sức răn đe.

Thứ tư, tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản đang diễn biến ngày càng phức tạp và tinh vi thể hiện trong việc các đối tượng sử dụng công nghệ cao như Deepfake và AI để tạo ra video, hình ảnh, hoặc âm thanh giả mạo giống hệt người thật, thậm chí là giọng nói của bạn bè, người thân để gọi điện xin, vay tiền, yêu cầu chuyển khoản gấp trong những tình huống cấp bách; mạo danh các cơ quan nhà nước (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án…) làm nạn nhân khó nhận biết, kiểm chứng (nhất là đối với nhóm người lớn tuổi, cao tuổi). Kẻ lừa đảo thường dùng SIM rác, tài khoản ngân hàng không chính chủ để giao dịch, máy chủ ở nước ngoài để che giấu danh tính và địa điểm hoạt động, gây khó khăn cho việc truy vết, xác định đối tượng. Số tiền chiếm đoạt thường được chuyển qua nhiều lớp tài khoản trung gian, quy đổi sang tiền ảo hoặc chuyển ra nước ngoài một cách nhanh chóng, khiến việc thu hồi tài sản vô cùng khó khăn. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có yếu tố sử dụng công nghệ cao có khả năng tiếp cận một số lượng lớn nạn nhân trên phạm vi rộng, không giới hạn về địa lý, gây thiệt hại lớn cho nhiều người và ảnh hưởng đến trật tự xã hội đã đặt ra những thách thức lớn cho các cơ quan chức năng.

Hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao được pháp luật ghi nhận tại Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 về "Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản". Quy định này gồm các trường hợp tội phạm lợi dụng lỗ hổng bảo mật của hệ thống mạng, các điểm yếu trong quy trình vận hành hoặc đặc biệt là sự thiếu cảnh giác, kỹ năng an toàn thông tin của người sử dụng mà không trực tiếp tác động đến ý chí của nạn nhân. Khác biệt với cách thức đó là các vụ việc tội phạm sử dụng mạng Internet như một công cụ hoặc phương tiện lan truyền thông tin sai lệch, từ đó lừa dối và khiến nạn nhân tự nguyện chuyển giao tài sản. Đối với những trường hợp này, việc áp dụng Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được xem là phù hợp hơn, tuy nhiên, có thể chưa phản ánh đầy đủ tính chất nghiêm trọng của hành vi nếu thiếu tình tiết định khung tăng nặng.

Ngoài ra, thủ đoạn tinh vi còn được các đối tượng tạo kịch bản một cách rõ ràng, thể hiện sự tính toán, sắp đặt kỹ lưỡng nhằm đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản. Do có sự khôn khéo, kín đáo nên nạn nhân và thậm chí cả cơ quan chức năng ban đầu cũng khó nhận ra tính chất gian dối của hành vi. Các thủ đoạn tinh vi thường đi kèm với việc xóa bỏ hoặc che giấu dấu vết phạm tội, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tìm. Vì vậy, đề xuất sửa đổi, bổ sung tình tiết tăng nặng đối với hành vi sử dụng thủ đoạn tinh vi vào khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự để phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay, góp phần thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, đồng thời hạn chế tranh cãi về việc áp dụng Điều 174 hay Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong những vụ án cụ thể.

2. Giải pháp hoàn thiện

Từ các vướng mắc, bất cập trên và nhu cầu trên thực tế về công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, tăng mức định lượng tối thiểu trị giá tài sản bị chiếm đoạt tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 lên 4.000.000 đồng để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, phản ánh đúng mức độ thiệt hại thực tế mà hành vi chiếm đoạt gây ra. Việc nâng định lượng sẽ giúp loại bỏ bớt đáng kể các vụ án chiếm đoạt tài sản có giá trị nhỏ khỏi phạm vi xử lý hình sự và thay thế bằng việc áp dụng các biện pháp xử lý khác phù hợp hơn. Đồng thời, cần hoàn thiện các chế tài xử phạt hành chính và kỷ luật, nâng cao mức xử phạt đối với hành vi chiếm đoạt tài sản dưới mức hình sự để bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa.

Thứ hai, quy định hình phạt tiền là hình phạt chính tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm tăng cường tính linh hoạt, nhân văn của pháp luật, đồng thời phù hợp hơn với nguyên tắc cá thể hóa hình phạt. Việc quy định hình phạt tiền là hình phạt chính sẽ tạo điều kiện để Tòa án lựa chọn áp dụng trong những trường hợp tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội không đến mức phải áp dụng hình phạt tước tự do hoặc khi người phạm tội có đủ khả năng để chấp hành hình phạt. Điều này đặc biệt phù hợp với các vụ án mà giá trị tài sản bị chiếm đoạt không lớn, người phạm tội có nhân thân tốt và phạm tội lần đầu. Kiến nghị mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.

Thứ ba, tăng mức phạt tiền tối đa tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 lên 200.000.000 đồng để phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Mức phạt tiền cao hơn sẽ làm tăng áp lực tài chính đối với người phạm tội, tăng cường tính răn đe và phòng ngừa, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với những hành vi gây thiệt hại lớn và ảnh hưởng tiêu cực đến dư luận.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung tình tiết "dùng thủ đoạn tinh vi" vào điểm e khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm phản ánh đúng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nâng cao tính răn đe đối với trường hợp sử dụng công nghệ cao hoặc những phương thức tinh vi khác để phạm tội; bảo đảm hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn trong việc áp dụng pháp luật thống nhất, hiệu quả.

Như vậy, từ những cơ sở các kiến nghị trên, Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 174: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

e) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng...".

Tóm lại, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cần thiết để khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm, bảo đảm công bằng và nghiêm minh của pháp luật.

Phạm Đức Anh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: