Thứ ba 17/03/2026 09:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện
Hoàn thiện quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Một số vướng mắc, bất cập

Thứ nhất, mức định lượng tối thiểu tài sản bị chiếm đoạt theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) (Điều luật này không được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025) có trị giá là 2.000.000 đồng được quy định từ khá lâu (năm 2015) trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi, mức sống và thu nhập của người dân cũng tăng lên đáng kể. Với mức định lượng như quy định hiện nay, nhiều vụ việc lừa đảo với trị giá tài sản thấp vẫn phải trải qua quy trình tố tụng hình sự đầy đủ, gây lãng phí nguồn lực của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong khi đó có thể được xử lý hiệu quả hơn bằng các biện pháp hành chính hoặc kỷ luật thay vì phải áp dụng chế tài hình sự. Ngoài ra, việc xử lý hình sự có thể không mang lại hiệu quả răn đe như mong muốn, đồng thời gây khó khăn đối với việc tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội sau khi chấp hành án.

Thứ hai, hình phạt tiền trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ được áp dụng là hình phạt bổ sung. Do đó, để Tòa án có thêm lựa chọn hình phạt phù hợp với từng trường hợp cụ thể, nên quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi phạm tội ở khoản này có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn ở các khung tăng nặng, số tiền chiếm đoạt cũng thấp hơn. Việc hạn chế áp dụng hình phạt tù sẽ giảm áp lực cho các cơ quan thi hành án hình sự, trại giam, trại tạm giam,... về cơ sở vật chất, công tác quản lý, ngân sách dành cho việc cải tạo phạm nhân, nhất là trong điều kiện các trại giam, trại tạm giam ở nước ta đang ở tình trạng quá tải, cơ sở vật chất đang gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, việc áp dụng hình phạt tiền triệt để hơn sẽ mang lại giá trị răn đe cao hơn trước ý thức chiếm đoạt tài sản của người phạm tội.

Thứ ba, mức phạt tiền quy định là hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được đánh giá là tương đối nhẹ trước tình hình đời sống nhân dân đang ngày càng được nâng cao và không tương xứng với hậu quả mà loại tội phạm này gây ra. Bên cạnh đó, thực tế hiện nay, hành vi phạm tội thường chiếm đoạt số tiền rất lớn, có thể lên đến nhiều tỷ đồng trong khi mức hình phạt tiền tối đa chỉ 100.000.000 đồng. Mặc dù, người phạm tội cũng phải chịu hình phạt chính là cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng rõ ràng với mức phạt thấp như vậy chưa thực sự đủ sức răn đe.

Thứ tư, tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản đang diễn biến ngày càng phức tạp và tinh vi thể hiện trong việc các đối tượng sử dụng công nghệ cao như Deepfake và AI để tạo ra video, hình ảnh, hoặc âm thanh giả mạo giống hệt người thật, thậm chí là giọng nói của bạn bè, người thân để gọi điện xin, vay tiền, yêu cầu chuyển khoản gấp trong những tình huống cấp bách; mạo danh các cơ quan nhà nước (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án…) làm nạn nhân khó nhận biết, kiểm chứng (nhất là đối với nhóm người lớn tuổi, cao tuổi). Kẻ lừa đảo thường dùng SIM rác, tài khoản ngân hàng không chính chủ để giao dịch, máy chủ ở nước ngoài để che giấu danh tính và địa điểm hoạt động, gây khó khăn cho việc truy vết, xác định đối tượng. Số tiền chiếm đoạt thường được chuyển qua nhiều lớp tài khoản trung gian, quy đổi sang tiền ảo hoặc chuyển ra nước ngoài một cách nhanh chóng, khiến việc thu hồi tài sản vô cùng khó khăn. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có yếu tố sử dụng công nghệ cao có khả năng tiếp cận một số lượng lớn nạn nhân trên phạm vi rộng, không giới hạn về địa lý, gây thiệt hại lớn cho nhiều người và ảnh hưởng đến trật tự xã hội đã đặt ra những thách thức lớn cho các cơ quan chức năng.

Hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao được pháp luật ghi nhận tại Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 về "Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản". Quy định này gồm các trường hợp tội phạm lợi dụng lỗ hổng bảo mật của hệ thống mạng, các điểm yếu trong quy trình vận hành hoặc đặc biệt là sự thiếu cảnh giác, kỹ năng an toàn thông tin của người sử dụng mà không trực tiếp tác động đến ý chí của nạn nhân. Khác biệt với cách thức đó là các vụ việc tội phạm sử dụng mạng Internet như một công cụ hoặc phương tiện lan truyền thông tin sai lệch, từ đó lừa dối và khiến nạn nhân tự nguyện chuyển giao tài sản. Đối với những trường hợp này, việc áp dụng Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được xem là phù hợp hơn, tuy nhiên, có thể chưa phản ánh đầy đủ tính chất nghiêm trọng của hành vi nếu thiếu tình tiết định khung tăng nặng.

Ngoài ra, thủ đoạn tinh vi còn được các đối tượng tạo kịch bản một cách rõ ràng, thể hiện sự tính toán, sắp đặt kỹ lưỡng nhằm đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản. Do có sự khôn khéo, kín đáo nên nạn nhân và thậm chí cả cơ quan chức năng ban đầu cũng khó nhận ra tính chất gian dối của hành vi. Các thủ đoạn tinh vi thường đi kèm với việc xóa bỏ hoặc che giấu dấu vết phạm tội, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tìm. Vì vậy, đề xuất sửa đổi, bổ sung tình tiết tăng nặng đối với hành vi sử dụng thủ đoạn tinh vi vào khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự để phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay, góp phần thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, đồng thời hạn chế tranh cãi về việc áp dụng Điều 174 hay Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong những vụ án cụ thể.

2. Giải pháp hoàn thiện

Từ các vướng mắc, bất cập trên và nhu cầu trên thực tế về công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, tăng mức định lượng tối thiểu trị giá tài sản bị chiếm đoạt tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 lên 4.000.000 đồng để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, phản ánh đúng mức độ thiệt hại thực tế mà hành vi chiếm đoạt gây ra. Việc nâng định lượng sẽ giúp loại bỏ bớt đáng kể các vụ án chiếm đoạt tài sản có giá trị nhỏ khỏi phạm vi xử lý hình sự và thay thế bằng việc áp dụng các biện pháp xử lý khác phù hợp hơn. Đồng thời, cần hoàn thiện các chế tài xử phạt hành chính và kỷ luật, nâng cao mức xử phạt đối với hành vi chiếm đoạt tài sản dưới mức hình sự để bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa.

Thứ hai, quy định hình phạt tiền là hình phạt chính tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm tăng cường tính linh hoạt, nhân văn của pháp luật, đồng thời phù hợp hơn với nguyên tắc cá thể hóa hình phạt. Việc quy định hình phạt tiền là hình phạt chính sẽ tạo điều kiện để Tòa án lựa chọn áp dụng trong những trường hợp tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội không đến mức phải áp dụng hình phạt tước tự do hoặc khi người phạm tội có đủ khả năng để chấp hành hình phạt. Điều này đặc biệt phù hợp với các vụ án mà giá trị tài sản bị chiếm đoạt không lớn, người phạm tội có nhân thân tốt và phạm tội lần đầu. Kiến nghị mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.

Thứ ba, tăng mức phạt tiền tối đa tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 lên 200.000.000 đồng để phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Mức phạt tiền cao hơn sẽ làm tăng áp lực tài chính đối với người phạm tội, tăng cường tính răn đe và phòng ngừa, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với những hành vi gây thiệt hại lớn và ảnh hưởng tiêu cực đến dư luận.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung tình tiết "dùng thủ đoạn tinh vi" vào điểm e khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm phản ánh đúng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nâng cao tính răn đe đối với trường hợp sử dụng công nghệ cao hoặc những phương thức tinh vi khác để phạm tội; bảo đảm hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn trong việc áp dụng pháp luật thống nhất, hiệu quả.

Như vậy, từ những cơ sở các kiến nghị trên, Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 174: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

e) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng...".

Tóm lại, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cần thiết để khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm, bảo đảm công bằng và nghiêm minh của pháp luật.

Phạm Đức Anh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.

Theo dõi chúng tôi trên: