Thứ hai 13/04/2026 06:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện
Hoàn thiện quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Một số vướng mắc, bất cập

Thứ nhất, mức định lượng tối thiểu tài sản bị chiếm đoạt theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) (Điều luật này không được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025) có trị giá là 2.000.000 đồng được quy định từ khá lâu (năm 2015) trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi, mức sống và thu nhập của người dân cũng tăng lên đáng kể. Với mức định lượng như quy định hiện nay, nhiều vụ việc lừa đảo với trị giá tài sản thấp vẫn phải trải qua quy trình tố tụng hình sự đầy đủ, gây lãng phí nguồn lực của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong khi đó có thể được xử lý hiệu quả hơn bằng các biện pháp hành chính hoặc kỷ luật thay vì phải áp dụng chế tài hình sự. Ngoài ra, việc xử lý hình sự có thể không mang lại hiệu quả răn đe như mong muốn, đồng thời gây khó khăn đối với việc tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội sau khi chấp hành án.

Thứ hai, hình phạt tiền trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ được áp dụng là hình phạt bổ sung. Do đó, để Tòa án có thêm lựa chọn hình phạt phù hợp với từng trường hợp cụ thể, nên quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi phạm tội ở khoản này có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn ở các khung tăng nặng, số tiền chiếm đoạt cũng thấp hơn. Việc hạn chế áp dụng hình phạt tù sẽ giảm áp lực cho các cơ quan thi hành án hình sự, trại giam, trại tạm giam,... về cơ sở vật chất, công tác quản lý, ngân sách dành cho việc cải tạo phạm nhân, nhất là trong điều kiện các trại giam, trại tạm giam ở nước ta đang ở tình trạng quá tải, cơ sở vật chất đang gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, việc áp dụng hình phạt tiền triệt để hơn sẽ mang lại giá trị răn đe cao hơn trước ý thức chiếm đoạt tài sản của người phạm tội.

Thứ ba, mức phạt tiền quy định là hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được đánh giá là tương đối nhẹ trước tình hình đời sống nhân dân đang ngày càng được nâng cao và không tương xứng với hậu quả mà loại tội phạm này gây ra. Bên cạnh đó, thực tế hiện nay, hành vi phạm tội thường chiếm đoạt số tiền rất lớn, có thể lên đến nhiều tỷ đồng trong khi mức hình phạt tiền tối đa chỉ 100.000.000 đồng. Mặc dù, người phạm tội cũng phải chịu hình phạt chính là cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng rõ ràng với mức phạt thấp như vậy chưa thực sự đủ sức răn đe.

Thứ tư, tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản đang diễn biến ngày càng phức tạp và tinh vi thể hiện trong việc các đối tượng sử dụng công nghệ cao như Deepfake và AI để tạo ra video, hình ảnh, hoặc âm thanh giả mạo giống hệt người thật, thậm chí là giọng nói của bạn bè, người thân để gọi điện xin, vay tiền, yêu cầu chuyển khoản gấp trong những tình huống cấp bách; mạo danh các cơ quan nhà nước (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án…) làm nạn nhân khó nhận biết, kiểm chứng (nhất là đối với nhóm người lớn tuổi, cao tuổi). Kẻ lừa đảo thường dùng SIM rác, tài khoản ngân hàng không chính chủ để giao dịch, máy chủ ở nước ngoài để che giấu danh tính và địa điểm hoạt động, gây khó khăn cho việc truy vết, xác định đối tượng. Số tiền chiếm đoạt thường được chuyển qua nhiều lớp tài khoản trung gian, quy đổi sang tiền ảo hoặc chuyển ra nước ngoài một cách nhanh chóng, khiến việc thu hồi tài sản vô cùng khó khăn. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có yếu tố sử dụng công nghệ cao có khả năng tiếp cận một số lượng lớn nạn nhân trên phạm vi rộng, không giới hạn về địa lý, gây thiệt hại lớn cho nhiều người và ảnh hưởng đến trật tự xã hội đã đặt ra những thách thức lớn cho các cơ quan chức năng.

Hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao được pháp luật ghi nhận tại Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 về "Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản". Quy định này gồm các trường hợp tội phạm lợi dụng lỗ hổng bảo mật của hệ thống mạng, các điểm yếu trong quy trình vận hành hoặc đặc biệt là sự thiếu cảnh giác, kỹ năng an toàn thông tin của người sử dụng mà không trực tiếp tác động đến ý chí của nạn nhân. Khác biệt với cách thức đó là các vụ việc tội phạm sử dụng mạng Internet như một công cụ hoặc phương tiện lan truyền thông tin sai lệch, từ đó lừa dối và khiến nạn nhân tự nguyện chuyển giao tài sản. Đối với những trường hợp này, việc áp dụng Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được xem là phù hợp hơn, tuy nhiên, có thể chưa phản ánh đầy đủ tính chất nghiêm trọng của hành vi nếu thiếu tình tiết định khung tăng nặng.

Ngoài ra, thủ đoạn tinh vi còn được các đối tượng tạo kịch bản một cách rõ ràng, thể hiện sự tính toán, sắp đặt kỹ lưỡng nhằm đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản. Do có sự khôn khéo, kín đáo nên nạn nhân và thậm chí cả cơ quan chức năng ban đầu cũng khó nhận ra tính chất gian dối của hành vi. Các thủ đoạn tinh vi thường đi kèm với việc xóa bỏ hoặc che giấu dấu vết phạm tội, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tìm. Vì vậy, đề xuất sửa đổi, bổ sung tình tiết tăng nặng đối với hành vi sử dụng thủ đoạn tinh vi vào khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự để phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay, góp phần thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, đồng thời hạn chế tranh cãi về việc áp dụng Điều 174 hay Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong những vụ án cụ thể.

2. Giải pháp hoàn thiện

Từ các vướng mắc, bất cập trên và nhu cầu trên thực tế về công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, tăng mức định lượng tối thiểu trị giá tài sản bị chiếm đoạt tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 lên 4.000.000 đồng để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, phản ánh đúng mức độ thiệt hại thực tế mà hành vi chiếm đoạt gây ra. Việc nâng định lượng sẽ giúp loại bỏ bớt đáng kể các vụ án chiếm đoạt tài sản có giá trị nhỏ khỏi phạm vi xử lý hình sự và thay thế bằng việc áp dụng các biện pháp xử lý khác phù hợp hơn. Đồng thời, cần hoàn thiện các chế tài xử phạt hành chính và kỷ luật, nâng cao mức xử phạt đối với hành vi chiếm đoạt tài sản dưới mức hình sự để bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa.

Thứ hai, quy định hình phạt tiền là hình phạt chính tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm tăng cường tính linh hoạt, nhân văn của pháp luật, đồng thời phù hợp hơn với nguyên tắc cá thể hóa hình phạt. Việc quy định hình phạt tiền là hình phạt chính sẽ tạo điều kiện để Tòa án lựa chọn áp dụng trong những trường hợp tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội không đến mức phải áp dụng hình phạt tước tự do hoặc khi người phạm tội có đủ khả năng để chấp hành hình phạt. Điều này đặc biệt phù hợp với các vụ án mà giá trị tài sản bị chiếm đoạt không lớn, người phạm tội có nhân thân tốt và phạm tội lần đầu. Kiến nghị mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.

Thứ ba, tăng mức phạt tiền tối đa tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 lên 200.000.000 đồng để phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Mức phạt tiền cao hơn sẽ làm tăng áp lực tài chính đối với người phạm tội, tăng cường tính răn đe và phòng ngừa, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với những hành vi gây thiệt hại lớn và ảnh hưởng tiêu cực đến dư luận.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung tình tiết "dùng thủ đoạn tinh vi" vào điểm e khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm phản ánh đúng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nâng cao tính răn đe đối với trường hợp sử dụng công nghệ cao hoặc những phương thức tinh vi khác để phạm tội; bảo đảm hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn trong việc áp dụng pháp luật thống nhất, hiệu quả.

Như vậy, từ những cơ sở các kiến nghị trên, Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 174: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

e) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng...".

Tóm lại, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cần thiết để khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm, bảo đảm công bằng và nghiêm minh của pháp luật.

Phạm Đức Anh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: