Thứ hai 07/09/2026 04:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện
Hoàn thiện quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Một số vướng mắc, bất cập

Thứ nhất, mức định lượng tối thiểu tài sản bị chiếm đoạt theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) (Điều luật này không được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025) có trị giá là 2.000.000 đồng được quy định từ khá lâu (năm 2015) trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi, mức sống và thu nhập của người dân cũng tăng lên đáng kể. Với mức định lượng như quy định hiện nay, nhiều vụ việc lừa đảo với trị giá tài sản thấp vẫn phải trải qua quy trình tố tụng hình sự đầy đủ, gây lãng phí nguồn lực của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong khi đó có thể được xử lý hiệu quả hơn bằng các biện pháp hành chính hoặc kỷ luật thay vì phải áp dụng chế tài hình sự. Ngoài ra, việc xử lý hình sự có thể không mang lại hiệu quả răn đe như mong muốn, đồng thời gây khó khăn đối với việc tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội sau khi chấp hành án.

Thứ hai, hình phạt tiền trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ được áp dụng là hình phạt bổ sung. Do đó, để Tòa án có thêm lựa chọn hình phạt phù hợp với từng trường hợp cụ thể, nên quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi phạm tội ở khoản này có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn ở các khung tăng nặng, số tiền chiếm đoạt cũng thấp hơn. Việc hạn chế áp dụng hình phạt tù sẽ giảm áp lực cho các cơ quan thi hành án hình sự, trại giam, trại tạm giam,... về cơ sở vật chất, công tác quản lý, ngân sách dành cho việc cải tạo phạm nhân, nhất là trong điều kiện các trại giam, trại tạm giam ở nước ta đang ở tình trạng quá tải, cơ sở vật chất đang gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, việc áp dụng hình phạt tiền triệt để hơn sẽ mang lại giá trị răn đe cao hơn trước ý thức chiếm đoạt tài sản của người phạm tội.

Thứ ba, mức phạt tiền quy định là hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được đánh giá là tương đối nhẹ trước tình hình đời sống nhân dân đang ngày càng được nâng cao và không tương xứng với hậu quả mà loại tội phạm này gây ra. Bên cạnh đó, thực tế hiện nay, hành vi phạm tội thường chiếm đoạt số tiền rất lớn, có thể lên đến nhiều tỷ đồng trong khi mức hình phạt tiền tối đa chỉ 100.000.000 đồng. Mặc dù, người phạm tội cũng phải chịu hình phạt chính là cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng rõ ràng với mức phạt thấp như vậy chưa thực sự đủ sức răn đe.

Thứ tư, tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản đang diễn biến ngày càng phức tạp và tinh vi thể hiện trong việc các đối tượng sử dụng công nghệ cao như Deepfake và AI để tạo ra video, hình ảnh, hoặc âm thanh giả mạo giống hệt người thật, thậm chí là giọng nói của bạn bè, người thân để gọi điện xin, vay tiền, yêu cầu chuyển khoản gấp trong những tình huống cấp bách; mạo danh các cơ quan nhà nước (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án…) làm nạn nhân khó nhận biết, kiểm chứng (nhất là đối với nhóm người lớn tuổi, cao tuổi). Kẻ lừa đảo thường dùng SIM rác, tài khoản ngân hàng không chính chủ để giao dịch, máy chủ ở nước ngoài để che giấu danh tính và địa điểm hoạt động, gây khó khăn cho việc truy vết, xác định đối tượng. Số tiền chiếm đoạt thường được chuyển qua nhiều lớp tài khoản trung gian, quy đổi sang tiền ảo hoặc chuyển ra nước ngoài một cách nhanh chóng, khiến việc thu hồi tài sản vô cùng khó khăn. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có yếu tố sử dụng công nghệ cao có khả năng tiếp cận một số lượng lớn nạn nhân trên phạm vi rộng, không giới hạn về địa lý, gây thiệt hại lớn cho nhiều người và ảnh hưởng đến trật tự xã hội đã đặt ra những thách thức lớn cho các cơ quan chức năng.

Hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao được pháp luật ghi nhận tại Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 về "Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản". Quy định này gồm các trường hợp tội phạm lợi dụng lỗ hổng bảo mật của hệ thống mạng, các điểm yếu trong quy trình vận hành hoặc đặc biệt là sự thiếu cảnh giác, kỹ năng an toàn thông tin của người sử dụng mà không trực tiếp tác động đến ý chí của nạn nhân. Khác biệt với cách thức đó là các vụ việc tội phạm sử dụng mạng Internet như một công cụ hoặc phương tiện lan truyền thông tin sai lệch, từ đó lừa dối và khiến nạn nhân tự nguyện chuyển giao tài sản. Đối với những trường hợp này, việc áp dụng Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được xem là phù hợp hơn, tuy nhiên, có thể chưa phản ánh đầy đủ tính chất nghiêm trọng của hành vi nếu thiếu tình tiết định khung tăng nặng.

Ngoài ra, thủ đoạn tinh vi còn được các đối tượng tạo kịch bản một cách rõ ràng, thể hiện sự tính toán, sắp đặt kỹ lưỡng nhằm đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản. Do có sự khôn khéo, kín đáo nên nạn nhân và thậm chí cả cơ quan chức năng ban đầu cũng khó nhận ra tính chất gian dối của hành vi. Các thủ đoạn tinh vi thường đi kèm với việc xóa bỏ hoặc che giấu dấu vết phạm tội, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tìm. Vì vậy, đề xuất sửa đổi, bổ sung tình tiết tăng nặng đối với hành vi sử dụng thủ đoạn tinh vi vào khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự để phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay, góp phần thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, đồng thời hạn chế tranh cãi về việc áp dụng Điều 174 hay Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong những vụ án cụ thể.

2. Giải pháp hoàn thiện

Từ các vướng mắc, bất cập trên và nhu cầu trên thực tế về công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, tăng mức định lượng tối thiểu trị giá tài sản bị chiếm đoạt tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 lên 4.000.000 đồng để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, phản ánh đúng mức độ thiệt hại thực tế mà hành vi chiếm đoạt gây ra. Việc nâng định lượng sẽ giúp loại bỏ bớt đáng kể các vụ án chiếm đoạt tài sản có giá trị nhỏ khỏi phạm vi xử lý hình sự và thay thế bằng việc áp dụng các biện pháp xử lý khác phù hợp hơn. Đồng thời, cần hoàn thiện các chế tài xử phạt hành chính và kỷ luật, nâng cao mức xử phạt đối với hành vi chiếm đoạt tài sản dưới mức hình sự để bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa.

Thứ hai, quy định hình phạt tiền là hình phạt chính tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm tăng cường tính linh hoạt, nhân văn của pháp luật, đồng thời phù hợp hơn với nguyên tắc cá thể hóa hình phạt. Việc quy định hình phạt tiền là hình phạt chính sẽ tạo điều kiện để Tòa án lựa chọn áp dụng trong những trường hợp tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội không đến mức phải áp dụng hình phạt tước tự do hoặc khi người phạm tội có đủ khả năng để chấp hành hình phạt. Điều này đặc biệt phù hợp với các vụ án mà giá trị tài sản bị chiếm đoạt không lớn, người phạm tội có nhân thân tốt và phạm tội lần đầu. Kiến nghị mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.

Thứ ba, tăng mức phạt tiền tối đa tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 lên 200.000.000 đồng để phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Mức phạt tiền cao hơn sẽ làm tăng áp lực tài chính đối với người phạm tội, tăng cường tính răn đe và phòng ngừa, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với những hành vi gây thiệt hại lớn và ảnh hưởng tiêu cực đến dư luận.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung tình tiết "dùng thủ đoạn tinh vi" vào điểm e khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm phản ánh đúng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nâng cao tính răn đe đối với trường hợp sử dụng công nghệ cao hoặc những phương thức tinh vi khác để phạm tội; bảo đảm hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn trong việc áp dụng pháp luật thống nhất, hiệu quả.

Như vậy, từ những cơ sở các kiến nghị trên, Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 174: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

e) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng...".

Tóm lại, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cần thiết để khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm, bảo đảm công bằng và nghiêm minh của pháp luật.

Phạm Đức Anh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: