![]() |
| Hoàn thiện quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản |
1. Một số vướng mắc, bất cập
Thứ nhất, mức định lượng tối thiểu tài sản bị chiếm đoạt theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) (Điều luật này không được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025) có trị giá là 2.000.000 đồng được quy định từ khá lâu (năm 2015) trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi, mức sống và thu nhập của người dân cũng tăng lên đáng kể. Với mức định lượng như quy định hiện nay, nhiều vụ việc lừa đảo với trị giá tài sản thấp vẫn phải trải qua quy trình tố tụng hình sự đầy đủ, gây lãng phí nguồn lực của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong khi đó có thể được xử lý hiệu quả hơn bằng các biện pháp hành chính hoặc kỷ luật thay vì phải áp dụng chế tài hình sự. Ngoài ra, việc xử lý hình sự có thể không mang lại hiệu quả răn đe như mong muốn, đồng thời gây khó khăn đối với việc tái hòa nhập cộng đồng của người phạm tội sau khi chấp hành án.
Thứ hai, hình phạt tiền trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ được áp dụng là hình phạt bổ sung. Do đó, để Tòa án có thêm lựa chọn hình phạt phù hợp với từng trường hợp cụ thể, nên quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi phạm tội ở khoản này có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn ở các khung tăng nặng, số tiền chiếm đoạt cũng thấp hơn. Việc hạn chế áp dụng hình phạt tù sẽ giảm áp lực cho các cơ quan thi hành án hình sự, trại giam, trại tạm giam,... về cơ sở vật chất, công tác quản lý, ngân sách dành cho việc cải tạo phạm nhân, nhất là trong điều kiện các trại giam, trại tạm giam ở nước ta đang ở tình trạng quá tải, cơ sở vật chất đang gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, việc áp dụng hình phạt tiền triệt để hơn sẽ mang lại giá trị răn đe cao hơn trước ý thức chiếm đoạt tài sản của người phạm tội.
Thứ ba, mức phạt tiền quy định là hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được đánh giá là tương đối nhẹ trước tình hình đời sống nhân dân đang ngày càng được nâng cao và không tương xứng với hậu quả mà loại tội phạm này gây ra. Bên cạnh đó, thực tế hiện nay, hành vi phạm tội thường chiếm đoạt số tiền rất lớn, có thể lên đến nhiều tỷ đồng trong khi mức hình phạt tiền tối đa chỉ 100.000.000 đồng. Mặc dù, người phạm tội cũng phải chịu hình phạt chính là cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng rõ ràng với mức phạt thấp như vậy chưa thực sự đủ sức răn đe.
Thứ tư, tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản đang diễn biến ngày càng phức tạp và tinh vi thể hiện trong việc các đối tượng sử dụng công nghệ cao như Deepfake và AI để tạo ra video, hình ảnh, hoặc âm thanh giả mạo giống hệt người thật, thậm chí là giọng nói của bạn bè, người thân để gọi điện xin, vay tiền, yêu cầu chuyển khoản gấp trong những tình huống cấp bách; mạo danh các cơ quan nhà nước (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án…) làm nạn nhân khó nhận biết, kiểm chứng (nhất là đối với nhóm người lớn tuổi, cao tuổi). Kẻ lừa đảo thường dùng SIM rác, tài khoản ngân hàng không chính chủ để giao dịch, máy chủ ở nước ngoài để che giấu danh tính và địa điểm hoạt động, gây khó khăn cho việc truy vết, xác định đối tượng. Số tiền chiếm đoạt thường được chuyển qua nhiều lớp tài khoản trung gian, quy đổi sang tiền ảo hoặc chuyển ra nước ngoài một cách nhanh chóng, khiến việc thu hồi tài sản vô cùng khó khăn. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có yếu tố sử dụng công nghệ cao có khả năng tiếp cận một số lượng lớn nạn nhân trên phạm vi rộng, không giới hạn về địa lý, gây thiệt hại lớn cho nhiều người và ảnh hưởng đến trật tự xã hội đã đặt ra những thách thức lớn cho các cơ quan chức năng.
Hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao được pháp luật ghi nhận tại Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 về "Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản". Quy định này gồm các trường hợp tội phạm lợi dụng lỗ hổng bảo mật của hệ thống mạng, các điểm yếu trong quy trình vận hành hoặc đặc biệt là sự thiếu cảnh giác, kỹ năng an toàn thông tin của người sử dụng mà không trực tiếp tác động đến ý chí của nạn nhân. Khác biệt với cách thức đó là các vụ việc tội phạm sử dụng mạng Internet như một công cụ hoặc phương tiện lan truyền thông tin sai lệch, từ đó lừa dối và khiến nạn nhân tự nguyện chuyển giao tài sản. Đối với những trường hợp này, việc áp dụng Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 được xem là phù hợp hơn, tuy nhiên, có thể chưa phản ánh đầy đủ tính chất nghiêm trọng của hành vi nếu thiếu tình tiết định khung tăng nặng.
Ngoài ra, thủ đoạn tinh vi còn được các đối tượng tạo kịch bản một cách rõ ràng, thể hiện sự tính toán, sắp đặt kỹ lưỡng nhằm đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản. Do có sự khôn khéo, kín đáo nên nạn nhân và thậm chí cả cơ quan chức năng ban đầu cũng khó nhận ra tính chất gian dối của hành vi. Các thủ đoạn tinh vi thường đi kèm với việc xóa bỏ hoặc che giấu dấu vết phạm tội, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tìm. Vì vậy, đề xuất sửa đổi, bổ sung tình tiết tăng nặng đối với hành vi sử dụng thủ đoạn tinh vi vào khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự để phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay, góp phần thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, đồng thời hạn chế tranh cãi về việc áp dụng Điều 174 hay Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong những vụ án cụ thể.
2. Giải pháp hoàn thiện
Từ các vướng mắc, bất cập trên và nhu cầu trên thực tế về công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau:
Thứ nhất, tăng mức định lượng tối thiểu trị giá tài sản bị chiếm đoạt tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 lên 4.000.000 đồng để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, phản ánh đúng mức độ thiệt hại thực tế mà hành vi chiếm đoạt gây ra. Việc nâng định lượng sẽ giúp loại bỏ bớt đáng kể các vụ án chiếm đoạt tài sản có giá trị nhỏ khỏi phạm vi xử lý hình sự và thay thế bằng việc áp dụng các biện pháp xử lý khác phù hợp hơn. Đồng thời, cần hoàn thiện các chế tài xử phạt hành chính và kỷ luật, nâng cao mức xử phạt đối với hành vi chiếm đoạt tài sản dưới mức hình sự để bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa.
Thứ hai, quy định hình phạt tiền là hình phạt chính tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm tăng cường tính linh hoạt, nhân văn của pháp luật, đồng thời phù hợp hơn với nguyên tắc cá thể hóa hình phạt. Việc quy định hình phạt tiền là hình phạt chính sẽ tạo điều kiện để Tòa án lựa chọn áp dụng trong những trường hợp tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội không đến mức phải áp dụng hình phạt tước tự do hoặc khi người phạm tội có đủ khả năng để chấp hành hình phạt. Điều này đặc biệt phù hợp với các vụ án mà giá trị tài sản bị chiếm đoạt không lớn, người phạm tội có nhân thân tốt và phạm tội lần đầu. Kiến nghị mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
Thứ ba, tăng mức phạt tiền tối đa tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 lên 200.000.000 đồng để phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Mức phạt tiền cao hơn sẽ làm tăng áp lực tài chính đối với người phạm tội, tăng cường tính răn đe và phòng ngừa, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với những hành vi gây thiệt hại lớn và ảnh hưởng tiêu cực đến dư luận.
Thứ tư, sửa đổi, bổ sung tình tiết "dùng thủ đoạn tinh vi" vào điểm e khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm phản ánh đúng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nâng cao tính răn đe đối với trường hợp sử dụng công nghệ cao hoặc những phương thức tinh vi khác để phạm tội; bảo đảm hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn trong việc áp dụng pháp luật thống nhất, hiệu quả.
Như vậy, từ những cơ sở các kiến nghị trên, Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được sửa đổi, bổ sung như sau:
"Điều 174: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
e) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng...".
Tóm lại, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cần thiết để khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh, chống tội phạm, bảo đảm công bằng và nghiêm minh của pháp luật.