Thứ hai 06/04/2026 02:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.

Đặt vấn đề

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và có nhiều chính sách đối với đối tượng yếu thế[1]. Những năm qua, Việt Nam đã ký kết nhiều công ước quốc tế về quyền của đối tượng yếu thế[2]. Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và các văn bản pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định bảo vệ đối tượng yếu thế để bảo đảm không bị kỳ thị, phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội[3].

Bài viết tập trung phân tích thực trạng và khoảng trống pháp lý, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong TTHS Việt Nam, góp phần xây dựng nền tư pháp hình sự thực sự công bằng và nhân văn cho mọi công dân.

1. Thực trạng trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Đối tượng yếu thế là đối tượng đặc biệt, được pháp luật quan tâm, bảo vệ, vì khó khăn về thể chất, tinh thần có thể ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, giao tiếp và tham gia vào quá trình tố tụng. Pháp luật TTHS luôn đề cao nguyên tắc bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, đồng thời, quy định đặc thù để bảo đảm quyền bình đẳng thực chất cho đối tượng yếu thế, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, đặc biệt là vượt qua rào cản gây ra, trong đó quy định sự tham gia của trợ giúp viên pháp lý (TGVPL) là người bào chữa[4], người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại và các đương sự khác. Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và văn bản hướng dẫn thi hành[5] đã cụ thể hóa các quy định về trợ giúp pháp lý miễn phí cho đối tượng yếu thế trong TTHS.

1.1. Kết quả đạt được

Thời gian qua, công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong TTHS tại Việt Nam có nhiều điểm tích cực[6], thể hiện qua một số kết quả sau:

Thứ nhất, trong các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự, TGVPL thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo những cách thức phù hợp để trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế. Trong đó, sự phối hợp của cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước là một trong những cơ chế bảo đảm quyền và nghĩa vụ cho đối tượng yếu thế, để bảo đảm đối tượng yếu thế được chỉ định người bào chữa nếu họ không có khả năng mời. Thực tế, trường hợp bị can là đối tượng phải có người bào chữa theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) và Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024), hoặc bị hại, người tham gia tố tụng khác thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý nhưng từ chối người bào chữa hoặc trợ giúp pháp lý thì cơ quan THTT đã phối hợp với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước giải thích đầy đủ quyền cho bị hại và tiến hành trợ giúp pháp lý cho bị hại[7]. Điều này cho thấy, công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong quá trình giải quyết vụ án hình sự luôn được bảo đảm.

Thứ hai, trong giai đoạn điều tra, TGVPL có mặt kịp thời để giải thích, giúp đối tượng yếu thế ổn định tâm lý, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình. Trong quá trình làm việc, sự hiện diện của TGVPL trong các buổi hỏi cung của cơ quan điều tra giúp ngăn chặn các hành vi bức cung, mớm cung, dùng nhục hình, bảo đảm tính khách quan của lời khai.

Thứ ba, trong giai đoạn truy tố, TGVPL tiếp cận hồ sơ vụ án theo quy định của pháp luật để chuẩn bị bào chữa. Thực tế cho thấy, ở giai đoạn truy tố, người bị buộc tội, bị hại trong vụ án thuộc đối tượng yếu thế được TGVPL bảo đảm đầy đủ quyền và nghĩa vụ. TGVPL chủ động thu thập tài liệu, chứng cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho thân chủ, đồng thời, đề xuất Viện kiểm sát thu thập thêm các chứng cứ cần thiết[8].

Thứ tư, trong giai đoạn xét xử, TGVPL thực hiện nghiên cứu kỹ lưỡng hồ sơ vụ án, chủ động tham gia xét hỏi để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án, đặt câu hỏi cho bị cáo, bị hại, người làm chứng và những người liên quan khác, thực hiện tranh luận và đối đáp với quan điểm của kiểm sát viên để bảo vệ tốt nhất cho thân chủ[9]. Thông qua đó, không chỉ bảo vệ quyền lợi cho người yếu thế mà còn giúp Hội đồng xét xử có góc nhìn toàn diện, khách quan về vụ án, từ đó đưa ra phán quyết công tâm.

1.2. Tồn tại, hạn chế

Có thể nhận thấy, công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong TTHS đã bảo đảm quyền bào chữa và quyền tiếp cận công lý, góp phần nâng cao chất lượng tranh tụng, phòng chống oan sai, củng cố niềm tin của Nhân dân vào công lý. Bên cạnh đó, công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong TTHS vẫn có những tồn tại, hạn chế nhất định, từ các nguyên nhân chủ quan và khách quan.

Thứ nhất, về pháp luật và thể chế. Quy định về trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong TTHS còn chưa cụ thể và đồng bộ dẫn đến khó khăn, ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền của nhóm yếu thế khi áp dụng. Hiện, văn bản TTHS chưa có tiêu chí hướng dẫn chi tiết, cụ thể về đối tượng yếu thế. Mặt khác, một số quy định còn chồng chéo hoặc chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Ví dụ, các quy định về xác định người thuộc diện được trợ giúp pháp lý, đặc biệt, những người có khó khăn về tài chính, đôi khi còn phức tạp và khó xác định. Cụ thể, khoản 7 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định người khuyết tật, nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý khi là người có khó khăn về tài chính. Tuy nhiên, căn cứ Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024[10], nạn nhân của hành vi mua bán người thuộc đối tượng đương nhiên được trợ giúp pháp lý[11], không quy định về điều kiện hoặc yêu cầu khác.

Quy định về đối tượng được chỉ định TGVPL được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015[12], Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024[13] và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017[14]. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền của người được trợ giúp pháp lý, họ phải làm đơn yêu cầu hoặc được cơ quan THTT giải thích quyền để thực hiện. Pháp luật chưa quy định mang tính bắt buộc[15] và chủ động cho cơ quan THTT trong việc bảo đảm được trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế.

Pháp luật quy định bảo đảm TGVPL có quyền bào chữa, nhưng chưa có cơ chế đánh giá khi TGVPL chưa thực hiện hết trách nhiệm hoặc đang tham gia một cách hình thức, cũng như việc yêu cầu thay đổi TGVPL nếu nhận thấy chất lượng chưa bảo đảm quyền của các đối tượng được chỉ định, nhất là đối tượng yếu thế. Pháp luật hiện hành chủ yếu tập trung vào việc bảo đảm đối tượng được tiếp cận với trợ giúp pháp lý, việc giám sát chất lượng các dịch vụ do TGVPL cung cấp chưa được quy định rõ ràng. Đây là khoảng trống lớn, bởi chất lượng bào chữa, bảo vệ quyền lợi có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý.

Thứ hai, trong công tác tổ chức và phối hợp. Công tác phối hợp liên ngành giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, cơ quan THTT và các tổ chức chính trị xã hội liên quan đối tượng yếu thế đôi khi chưa chặt chẽ và đồng bộ. Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho công tác phối hợp, nhưng trên thực tế, việc trao đổi thông tin và xử lý các vướng mắc phát sinh còn nhiều khó khăn. Điều này dẫn đến bỏ sót đối tượng được trợ giúp pháp lý hoặc cử người thực hiện trợ giúp pháp lý bị chậm trễ, ảnh hưởng đến quá trình tố tụng. Thực tế, công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong giai đoạn từ giải quyết nguồn tin về tội phạm chưa được cơ quan THTT chú trọng, còn xảy ra tình trạng đối tượng yếu thế buộc phải có trợ giúp pháp lý tham gia nhưng không được tham gia ngay từ đầu[16].

Bên cạnh đó, công tác phối hợp thường chỉ diễn ra khi có vụ việc đã xảy ra hoặc khi có yêu cầu cụ thể, thay vì chủ động xây dựng kế hoạch chung, dẫn đến thiếu tính chủ động, phòng ngừa. Tổ chức họp liên ngành chưa thường xuyên, nội dung chung chung, chưa giải quyết các vấn đề phức tạp. Sự phối hợp thường dừng ở cấp độ trao đổi văn bản thay vì xây dựng kế hoạch điều tra, hỗ trợ nạn nhân từ đầu. Mỗi cơ quan thường chỉ tập trung vào chức năng chính của mình. Sự thiếu liên kết dẫn đến tình trạng nạn nhân có thể được hỗ trợ tâm lý tốt nhưng chứng cứ pháp lý yếu, hoặc ngược lại. Đối tượng yếu thế bị “kéo” qua nhiều cơ quan với các quy trình khác nhau mà không có cách thức hỗ trợ xuyên suốt. Nguyên nhân do thiếu cơ chế giám sát và chế tài đủ mạnh để các bên thực thi, bên cạnh đó, khối lượng công việc của từng ngành nhiều cũng là một rào cản. Do đó, việc thực hiện quy chế phối hợp phải đi kèm với kế hoạch hành động cụ thể, phân công rõ người chịu trách nhiệm và có cơ chế kiểm tra, đôn đốc định kỳ. Trong công tác phối hợp, tiếng nói và kiến nghị của các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó có TGVPL, thường không được các cơ quan tố tụng coi trọng đúng mức. Các ý kiến về tâm lý, hoàn cảnh xã hội của bị hại đôi khi bị xem nhẹ so với các chứng cứ pháp lý.

Thứ ba, nhận thức và năng lực thực thi. Nhận thức của một bộ phận cán bộ trong cơ quan THTT về tầm quan trọng của công tác trợ giúp pháp lý đối với đối tượng yếu thế chưa đầy đủ. Hoạt động này đôi khi bị xem nhẹ, chưa quan tâm đúng mức. Thực tế, có tình trạng đối tượng được trợ giúp pháp lý nhưng điều tra viên chưa lập biên bản giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý theo quy định[17].

Việc vận dụng và áp dụng pháp luật đối với đối tượng yếu thế của các cơ quan THTT còn thiếu linh hoạt, việc áp dụng pháp luật cứng nhắc, không xem xét đến hoàn cảnh và đặc điểm riêng của đối tượng yếu thế có thể dẫn đến việc không bảo đảm quyền tốt nhất. Việc áp dụng hình phạt đối với đối tượng yếu thế mang tính trừng phạt là chính, các biện pháp giáo dục, phục hồi vẫn chưa được ưu tiên.

Các vi phạm về trợ giúp pháp lý trong giai đoạn điều tra được phát hiện như: không giải thích đầy đủ hoặc không thông báo kịp thời cho người bị buộc tội, bị hại thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định trách nhiệm của các cơ quan THTT nhưng chưa có chế tài đủ mạnh và cụ thể để xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến quyền được trợ giúp pháp lý. Hành vi vi phạm đối với bị can thuộc nhóm đối tượng yếu thế diễn ra dưới nhiều mức độ và phạm vi khác nhau, nhưng nhìn chung việc xử lý hành vi vi phạm còn nhiều bất cập. Việc này dẫn đến người có thẩm quyền THTT xem nhẹ, coi thường pháp luật, ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của quần chúng Nhân dân vào tính nghiêm minh của pháp luật.

Nhóm đối tượng yếu thế chưa có nhận thức đầy đủ về quyền con người nên chưa biết tự bảo vệ khi tham gia vào quan hệ pháp luật hình sự và vai trò, chức năng của TGVPL trong việc bảo đảm quyền của đối tượng yếu thế trong TTHS. Pháp luật TTHS quy định nhiều quyền cho đối tượng yếu thế và vai trò của TGVPL trong bảo đảm các quyền trên nhưng đối tượng yếu thế ít sử dụng hoặc không biết để sử dụng. Một trong những nguyên nhân do công tác tuyên truyền pháp luật nói chung và pháp luật TTHS về quyền con người, về vai trò, trách nhiệm của TGVPL nói riêng đến đối tượng trên chưa được sâu rộng và có hệ thống.

Như vậy, thời gian qua, công tác trợ giúp pháp lý trong TTHS đã đạt được kết quả nhất định góp phần bảo đảm quyền cho đối tượng yếu thế. Việc thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của TGVPL không chỉ bảo vệ công lý, mà còn thể hiện tính nhân văn, tiến bộ của pháp luật Việt Nam. Bên cạnh đó, việc nhận diện và phân tích sâu sắc các nguyên nhân là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của TGVPL trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của đối tượng yếu thế trong TTHS.

2. Một số đề xuất nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

2.1. Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Một là, bổ sung định nghĩa về “đối tượng yếu thế” trong TTHS. Nghị quyết số 205/2025/QH15 ngày 24/6/2025 của Quốc hội về việc thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công đã đưa ra giải thích nhóm dễ tổn thương. Do đó, để thống nhất về cách hiểu, cần thống nhất định nghĩa về “đối tượng yếu thế” và có cơ chế bảo vệ đặc biệt, tránh tình trạng thiếu đồng bộ.

Hai là, từng bước xây dựng và áp dụng quyền tùy nghi truy tố trong TTHS. Với đối tượng yếu thế, điều này có ý nghĩa quan trọng, vì đối tượng yếu thế trong TTHS có khả năng tự bảo vệ thấp hơn so với người bình thường do các yếu tố về thể chất, tinh thần, xã hội, kinh tế,… Do đó, nếu áp dụng quyền tùy nghi truy tố thì khi đánh giá hồ sơ, chứng cứ, nguyên nhân, hậu quả và hoàn cảnh nhân thân của bị can, có được coi là cơ sở để xác định việc truy tố hay không. Việc áp dụng quyền tùy nghi truy tố đối với đối tượng yếu thế có ý nghĩa hết sức sâu sắc, cho phép xem xét từng trường hợp cụ thể, hoàn cảnh cá nhân của bị can để đưa ra quyết định phù hợp nhất. Điều này đặc biệt quan trọng với đối tượng yếu thế, tránh việc áp dụng cứng nhắc pháp luật hình sự, giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình TTHS. Trường hợp người khuyết tật phạm tội ít nghiêm trọng, có thể xem xét hoàn cảnh, nhân thân của bị can để đình chỉ vụ án, giúp họ có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng.

Giảm thiểu gánh nặng tố tụng đối với đối tượng yếu thế. Việc phải trải qua quá trình điều tra, truy tố, xét xử là gánh nặng lớn về cả tinh thần, thời gian và chi phí, đặc biệt là đối tượng yếu thế. Quyền tùy nghi truy tố có thể loại bỏ những trường hợp không cần thiết phải xử lý hình sự, giúp đối tượng yếu thế sớm ổn định cuộc sống.

Thúc đẩy hòa giải và phục hồi và giảm kỳ thị, phân biệt đối xử đối với đối tượng yếu thế. Trong một số trường hợp, việc áp dụng quyền tùy nghi truy tố có thể mở ra cơ hội cho các biện pháp hòa giải giữa bị can và bị hại, hoặc các biện pháp phục hồi công lý, đặc biệt nếu bị can là đối tượng yếu thế và hành vi phạm tội có thể xuất phát từ hoàn cảnh khó khăn. Việc được đình chỉ vụ án giúp người yếu thế tránh được “án tích”, giảm bớt sự kỳ thị của xã hội, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tái hòa nhập.

2.2. Tăng cường quan hệ phối hợp liên ngành giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước với cơ quan tiến hành tố tụng và các tổ chức xã hội trong quá trình giải quyết vụ án liên quan đến đối tượng yếu thế

Một là, trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền, việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân là mục tiêu và động lực trung tâm. Quá trình giải quyết vụ án hình sự liên quan đến đối tượng yếu thế không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là thước đo tính nhân văn của nền tư pháp. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nỗ lực của từng cơ quan đơn lẻ là chưa đủ để tạo cơ chế bảo đảm toàn diện và hiệu quả. Do đó, yêu cầu tăng cường phối hợp liên ngành giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước với các cơ quan liên quan là tất yếu khách quan, mệnh lệnh từ thực tiễn để chuyển đổi từ phương thức bảo đảm bị động, phân mảnh sang chủ động, hệ thống và toàn diện. Mặt khác, theo lý luận về tư pháp phục hồi và tư pháp thân thiện thì nền tư pháp hiện đại không chỉ nhằm trừng phạt tội phạm mà còn hướng tới mục tiêu phục hồi cho nạn nhân, hàn gắn các mối quan hệ xã hội. Để đạt được điều này, quá trình tố tụng phải thân thiện, giảm thiểu tối đa sang chấn tâm lý, đòi hỏi sự tham gia bắt buộc của các chuyên gia tâm lý, công tác xã hội từ các tổ chức chính trị, xã hội. Từ đó, tạo mạng lưới hỗ trợ liền mạch, không có kẽ hở, từ khi phát hiện vụ việc đến khi bản án được thi hành.

Hai là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định rõ chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các chủ thể THTT, đồng thời có những quy định đặc thù về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, sự tham gia của TGVPL, người đại diện,… Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi (Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH) là minh chứng rõ nét sự cần thiết và hiệu quả của cơ chế phối hợp THTT đối với người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH cho thấy “khoảng trống pháp lý” đối với đối tượng yếu thế khác. Do đó, cần xây dựng và sửa đổi hoàn thiện khung pháp lý về phối hợp liên ngành trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để làm rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực hiện quy chế phối hợp để xử lý vụ việc liên quan đến đối tượng yếu thế, cũng như ban hành thông tư liên tịch mới quy định rõ vai trò của từng cơ quan, gồm chia sẻ thông tin kịp thời về vụ việc liên quan đến đối tượng yếu thế, cần phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong từng giai đoạn phối hợp, bảo đảm không có khoảng trống trong quá trình hỗ trợ đối tượng yếu thế trong TTHS, nhất là công tác trợ giúp pháp lý.

Ba là, xây dựng cơ chế vận hành và trao đổi thông tin thường xuyên, thực chất của giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước với các cơ quan THTT, các tổ chức chính trị - xã hội để đánh giá tình hình, giải quyết các vướng mắc chung, chia sẻ kinh nghiệm hoặc ngay khi phát sinh một vụ án phức tạp liên quan đến đối tượng yếu thế. Thiết lập đường dây nóng giữa Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước và các cơ quan THTT, tổ chức chính trị - xã hội liên quan thông qua số điện thoại hoặc một đầu mối liên lạc trực tiếp, hiệu quả để xử lý khẩn cấp các yêu cầu như: cần chuyên gia tâm lý, cần người phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu, cần bố trí nơi tạm lánh an toàn cho nạn nhân. Bên cạnh đó, xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu dùng chung (được bảo mật) để các cơ quan có thể cập nhật và nắm bắt tiến trình vụ án, các biện pháp hỗ trợ đã được áp dụng cho người yếu thế, tránh việc không nắm bắt được một thông tin gây tâm lý tiêu cực cho nạn nhân.

Bốn là, cơ quan THTT cần chủ động mời TGVPL tham gia hoạt động điều tra ngay từ đầu tránh gây tổn thương thêm cho đối tượng yếu thế.

Tăng cường phối hợp liên ngành không chỉ là giải pháp tình thế mà là một cuộc cách mạng tư duy và phương thức hoạt động tư pháp, chuyển từ mô hình tố tụng đối kháng thuần túy sang mô hình tố tụng nhân văn, lấy con người làm trung tâm.

2.3. Tăng cường năng lực nhận thức và năng lực thực thi

Một là, nâng cao năng lực và đào tạo bồi dưỡng TGVPL bằng các khóa đào tạo định kỳ về nhận thức quyền và nghĩa vụ của đối tượng yếu thế, kỹ năng phối hợp và ứng dụng công tác xã hội (như tư vấn tâm lý cho trẻ em bị hại, phụ nữ mang thai…).

Hai là, tổ chức các khóa đào tạo chung cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, TGVPL và cán bộ của các tổ chức xã hội về các chủ đề: kỹ năng làm việc với đối tượng yếu thế, các quy định pháp luật và quy trình phối hợp mới, giải quyết các tình huống giả định để thực hành kỹ năng phối hợp hoặc tổ chức các buổi tọa đàm để các bên chia sẻ về khó khăn, vướng mắc từ góc độ của ngành để có sự thấu hiểu và giải pháp chung.

Ba là, tăng cường công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với việc thực hiện vai trò, trách nhiệm của TGVPL trong bảo đảm quyền của đối tượng yếu thế trong TTHS. Tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về đối tượng yếu thế cũng như vai trò, nhiệm vụ của TGVPL trong TTHS đến mọi người dân để họ có sự hiểu biết nhằm thực hiện quyền và sự hỗ trợ trong TTHS. Trong đó, chú trọng việc xây dựng các chương trình, chuyên mục tuyên truyền về quyền của đối tượng yếu thế trong TTHS và vai trò, trách nhiệm của TGVPL bảo đảm các quyền này.

Bốn là, xây dựng quy trình tố tụng thân thiện và phù hợp với đặc điểm của đối tượng yếu thế không chỉ là yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, mà còn là biểu hiện của xã hội phát triển, văn minh và nhân đạo.

Năm là, mở rộng trách nhiệm của TGVPL trong việc chủ động phát hiện và áp dụng các biện pháp bảo đảm quyền và nghĩa vụ của đối tượng yếu thế trong hoạt động TTHS.

Sáu là, tăng cường vai trò của TGVPL trong bảo đảm quyền và nghĩa vụ của đối tượng yếu thế trong TTHS là yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu quả công tác tư pháp và thể hiện tính nhân văn của pháp luật. Thực hiện điều này là bước tiến vượt bậc, thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc xây dựng nền tư pháp nghiêm minh, công bằng nhân văn, bảo vệ tối đa quyền con người, đặc biệt là đối tượng yếu thế trong xã hội.

Kết luận

Tăng cường trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong TTHS không chỉ là nhiệm vụ pháp lý mà còn là trách nhiệm xã hội, thể hiện tính nhân văn sâu sắc của nền tư pháp. Việc tăng cường công tác này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, phối hợp liên ngành, nâng cao năng lực cán bộ, tăng cường phối hợp đến ứng dụng công nghệ. Chỉ khi đó, mới bảo đảm đối tượng yếu thế không còn là những “người yếu thế” trong hệ thống tư pháp, mà là những công dân có đầy đủ quyền được tiếp cận công lý và được pháp luật bảo vệ toàn diện. Điều này là sự khẳng định giá trị cốt lõi của nền tư pháp nhân văn, là thước đo sự văn minh của xã hội và là yếu tố then chốt để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân./.

Mai Hùng Nhân

Phòng Công tố và Kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án trật tự xã hội -

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp

Nghiên cứu sinh Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

(Ảnh: Internet)

[1]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[2]. Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật, ký ngày 22/10/2007 và phê chuẩn vào ngày 28/11/2014; Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 ký ngày 24/9/1982, Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm 1984, ký ngày 07/11/2013; Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, ký ngày 26/01/1990 và phê chuẩn vào ngày 28/02/1990.

[3]. Xem thêm khoản 2 Điều 16 Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[4]. Điểm d khoản 1 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025), Điều 14, Điều 22 và Điều 161 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024.

[5]. Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.

[6]. Ngân Giang, Một số kết quả công tác trợ giúp pháp lý năm 2024, đăng trên cổng thông tin điện tử trợ giúp pháp lý Việt Nam, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=1983&l=Nghiencuutraodoi, Năm 2024, các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý trên toàn quốc thực hiện 63.361 vụ việc, trong đó thụ lý mới 39.641 vụ việc (chủ yếu là vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng với 32.748 vụ). Số vụ việc kết thúc trong năm là 37.343 vụ việc, trong đó có 30.538 vụ việc tham gia tố tụng.

[7]. Điển hình, vụ án Nguyễn Thanh Phong phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại Điều 142 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại N.T.T.T và gia đình (cha ruột) đã từ chối TGVPL. Cơ quan THTT thành phố Mỹ Tho đã chủ động phối hợp với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tiến hành giải thích cho bị hại và gia đình. Sau đó, bị hại và gia đình đồng ý để Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước cử TGVPL bảo vệ quyền và nghĩa vụ cho bị hại trong suốt quá trình tố tụng (Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 tỉnh Đồng Tháp, Báo cáo số 61/BC-VKS ngày 10/9/2025 về việc cung cấp tài liệu liên quan đến nhóm yếu thế).

[8]. Vụ án Huỳnh Ngọc Tính và đồng phạm phạm tội “Giết người”, TGVPL đã thu thập các tài liệu liên quan đến nhân thân của bị can dưới 18 tuổi để gửi cho Viện kiểm sát (Bản án sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử bị cáo Huỳnh Ngọc Tính, Nguyễn Quốc Tài, Huỳnh Khoa Nam, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Ngọc Cường, Nguyễn Thành Tài, Nguyễn Huỳnh Long Tiến, Phạm Nguyễn Vũ Luân, Trần Đăng Phước Lộc, Nguyễn Văn Vũ Linh, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Quốc Cường, Phan Tấn Lộc, Nguyễn Kỳ Anh, Bùi Minh Tài, Lê Nhựt Trường, Nguyễn Ngọc Hải về tội “Giết người” theo quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015).

[9]. Vụ án Nguyễn Thái Toàn phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, trợ giúp viên pháp lý đã tranh luận để bảo vệ quyền cho bị hại (Bản án sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử bị cáo Nguyễn Thái Toàn về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[10]. Khoản 2 Điều 41 Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 quy định “Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới 18 tuổi đi cùng được trợ giúp pháp lý bằng các hình thức theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý đối với nội dung có liên quan đến vụ việc, vụ án mua bán người”.

[11]. Bản án phúc thẩm số 150/2023/HS-PT ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử bị cáo Lê Anh Thư về tội “Mua bán người” quy định tại khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025). Trong vụ án, ông N.M.T là bị hại, nhưng trong toàn bộ quá trình điều tra không có trợ giúp pháp lý cho bị hại.

[12]. Khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 13. Điều 14, Điều 22 và Điều 161 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024.

[14]. Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

[15]. Trừ đối tượng phạm tội quy định tại Điều 76 và Điều 422 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[16]. Điển hình: vụ án Trương Thái Bình phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025). Trong quá trình thu thập chứng cứ, lấy lời khai ban đầu đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là cháu N.P.D, dưới 18 tuổi nhưng điều tra viên đã không yêu cầu sự có mặt của người đại diện và TGVPL (Kiến nghị số 11/KN-VKS-P2 ngày 15/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang).

[17]. Vụ án Trần Minh Kim cùng đồng phạm, phạm tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025). Trong vụ án có bị hại P.M.M là trẻ em (Kiến nghị số 10/KN-VKS-HS ngày 16/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (2014), Tiếp cận sớm trợ giúp pháp lý trong quá trình tố tụng hình sự: Sổ tay cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà thực tiễn, New York, năm 2014.

2. Lê Lan Chi (2022), Bảo đảm quyền của nạn nhân và một số nhóm yếu thế trong tư pháp hình sự từ quy định của pháp luật đến hoạt động của người hành nghề luật, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Lê Thị Diễm Hằng (2023), Bảo vệ người dễ bị tổn thương bằng pháp luật hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội.

4. Lê Thị Minh (2014), Vai trò trợ giúp pháp lý đối với việc thúc đẩy tiếp cận và bảo đảm quyền của nhóm yếu thế trong xã hội, Luận văn Thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội.

5. Ngân Giang, Một số kết quả công tác trợ giúp pháp lý năm 2024, https://tgpl.moj.gov.vn/Pages/hoi-nhap-phat-trien.aspx?ItemID=1983&l=Nghiencuutraodoi, truy cập ngày 04/12/2025.

6. Phan Thị Lan Hương (2020), Bảo đảm quyền của nhóm yếu thế - Khoảng trống pháp lý và khuyến nghị cho Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện thể chế, chính sách nằm nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý” năm 2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: