Abstract: Compensation for damages caused by defective products, goods contributes to protecting consumer rights. However, in many cases, exemption from liability for damages caused by defective products, goods is necessary to protect the legitimate interests of manufacturers and businesses. This article studies cases of exemption from liability for damages caused by defective goods as stipulated in the Law on Consumer Rights Protection of 2023, while also pointing out the advantages, disadvantages, and limitations of the Law, and proposing some recommendations for improving the law on consumer rights protection.
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hoạt động thương mại phát triển mạnh mẽ, hàng hóa lưu thông ngày càng đa dạng và phong phú, việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là cần thiết. Những quy định pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã bắt đầu xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ trước - thời điểm mà Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường[1].
Tuy nhiên, để thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Việt Nam cần xây dựng chính sách bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh.
1. Một số vấn đề về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do khuyết tật sản phẩm, hàng hóa gây ra
Trên phương diện pháp lý, tổ chức, cá nhân kinh doanh được xem là bên chuyên nghiệp, có điều kiện thuận lợi hơn trong quan hệ hợp đồng; còn người tiêu dùng được xem là bên yếu thế hơn nên cần được bảo vệ[2].
Địa vị pháp lý này được phản ánh thông qua khái niệm về tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng. Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh là “tổ chức, cá nhân thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Về phía người tiêu dùng, khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và không vì mục đích thương mại”. Người tiêu dùng thường là người không có nhiều hiểu biết về chuyên môn, khoa học, kỹ thuật đối với sản phẩm; việc mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng, sinh hoạt nên cơ bản được xem là bên yếu thế trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh, vì thế, cần được pháp luật ưu tiên bảo vệ quyền lợi. Vì vậy, xu hướng phát triển của pháp luật hiện nay là ghi nhận nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là ưu tiên hàng đầu.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra (một số nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ trách nhiệm sản phẩm) được hiểu là trách nhiệm của người sản xuất hoặc mua bán hàng trong việc bồi thường thiệt hại gây ra bởi khuyết tật của sản phẩm mà họ cung cấp cho người tiêu dùng[3]. Như vậy, trong quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng thì quyền lợi của người tiêu dùng luôn được ưu tiên bảo vệ. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy kinh tế hàng hóa và bảo vệ các quyền cơ bản của con người[4].
Tuy nhiên, việc buộc tổ chức, cá nhân kinh doanh phải bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng trong mọi trường hợp (thậm chí trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh không thể biết hàng hóa, sản phẩm có khuyết tật hoặc thiệt hại phát sinh từ lỗi người tiêu dùng…) dường như không phù hợp. Do đó, để bảo đảm công bằng cho những chủ thể kinh doanh[5], trong một số trường hợp, pháp luật Việt Nam và nhiều nước trên thế giới (Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Pháp…) cũng đặt ra những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra.
2. Căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định một số căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra như sau:
2.1. Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi chứng minh được khuyết tật của sản phẩm, hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, công nghệ của thế giới tính đến thời điểm sản phẩm, hàng hóa gây thiệt hại
Khoản 1 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định: “khi chứng minh được khuyết tật của sản phẩm, hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, công nghệ của thế giới tính đến thời điểm sản phẩm, hàng hóa gây thiệt hại”.
Trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại là sự kế thừa từ học thuyết Development risks defence - học thuyết về biện pháp phòng vệ rủi ro phát triển hay có thể tiếp cận dưới góc độ khác là sự bào chữa dựa trên rủi ro phát triển. Theo học thuyết, nhà sản xuất không phải chịu trách nhiệm nếu chứng minh trình độ kiến thức khoa học và kỹ thuật tại thời điểm đưa sản phẩm vào lưu thông không đủ để cho phép phát hiện ra sự tồn tại của lỗi[6].
Nghiên cứu khoản 1 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, có hai vấn đề cần quan tâm:
Thứ nhất, về vấn đề trình độ khoa học, công nghệ của thế giới.
Nghiên cứu cho thấy, quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 cho phép đặt hệ quy chiếu là trình độ khoa học, kỹ thuật trên toàn thế giới để đưa ra quyết định miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Hướng quy định này cho thấy, căn cứ để miễn trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân kinh doanh không dựa trên trình độ khoa học, kỹ thuật hay điều kiện chủ quan của các chủ thể kinh doanh, không dựa trên trình độ khoa học, kỹ thuật trong phạm vi Việt Nam, mà phản ánh trình độ khoa học kỹ thuật trên phạm vi toàn thế giới - tức là tri thức khách quan của nhân loại. Cách diễn giải quy định này khá thống nhất trong khoa học pháp lý trên thế giới. Cụ thể:
Một số quan điểm cho rằng, trình độ về khoa học hoặc công nghệ được xác định dựa trên trình độ khoa học hoặc công nghệ cao nhất hiện có và đề cập đến toàn bộ kiến thức hiện hữu một cách khách quan trong xã hội[7]; trong khi đó, một số quan điểm khác cho rằng, ngày nay, kiến thức khoa học và công nghệ dễ tiếp cận hơn nhờ sự tồn tại của các phần mềm dịch máy tiên tiến và trí tuệ nhân tạo, làm cho việc viện cớ không biết gì về kiến thức khoa học và công nghệ trở nên khó khăn. Do đó, trình độ khoa học, công nghệ phải đánh giá một cách khách quan, bất kể khả năng của nhà sản xuất[8].
Ở Pháp, Tòa án cũng có xu hướng giải thích tương tự[9]. Theo đó, vụ kiện gồm nguyên đơn là bà P (sau đây gọi là nguyên đơn) khởi kiện công ty Les Laboratoires Servier và một tổ chức có liên quan (sau đây gọi là bị đơn) về việc nguyên đơn đã mắc bệnh van tim sau khi sử dụng thuốc Mediator do bị đơn là nhà sản xuất. Hội đồng xét xử cho rằng, theo quy định của Bộ luật Dân sự Pháp, nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm tuyệt đối đối với thiệt hại do lỗi trong sản phẩm của họ gây ra trừ khi họ chứng minh được, trình độ kiến thức khoa học và kỹ thuật tại thời điểm đưa sản phẩm ra thị trường không cho phép họ phát hiện sự tồn tại của lỗi đó. Trên cơ sở đó, Tòa án đang xét xử cho rằng, Tòa án cấp dưới không xem xét về việc thu hồi benfluorex ở Thụy Sĩ năm 1998 và sau đó ở Tây Ban Nha và Ý năm 2003, đã chứng minh trình độ kiến thức khoa học và kỹ thuật vào thời điểm các sản phẩm được sử dụng từ năm 2006 đến năm 2009 được đưa ra thị trường đã cho phép nhà sản xuất phát hiện ra khuyết tật thuốc Mediator, do đó, chưa có căn cứ miễn trách nhiệm cho nhà sản xuất do hàng hóa khuyết tật gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Kết luận vấn đề đầu tiên, với khả năng tiếp cận tri thức nhân loại trong thời đại khoa học, công nghệ phát triển như hiện nay, có thể diễn giải cụm từ “trình độ khoa học, công nghệ của thế giới” trong khoản 1 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 là bất cứ nơi nào trên thế giới mà trình độ khoa học, công nghệ phát hiện ra khuyết tật sản phẩm thì tổ chức, cá nhân kinh doanh sẽ không thể viện dẫn khoản 1 Điều 35 nêu trên để miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Thứ hai, về tính phù hợp của trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do “khuyết tật của sản phẩm, hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, công nghệ của thế giới”.
Khi soạn thảo Chỉ thị số 85/374/EEC của Hội đồng châu Âu ngày 25/7/1985 về trách nhiệm đối với thiệt hại do sản phẩm gây ra (Chỉ thị số 85/374/EEC), quy định và quy trình hành chính của các quốc gia thành viên liên quan đến trách nhiệm đối với sản phẩm có khuyết tật, có nhiều quan điểm xoay quanh việc miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại căn cứ vào trình độ khoa học, kỹ thuật[10]. Ở Việt Nam, một số quan điểm cho rằng, quy định này “có phần làm giảm đi tinh thần của pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng với tư cách là bên yếu thế”[11], vì “pháp luật đặt người tiêu dùng vào vị thế bị động, rủi ro khi tiếp nhận hàng hóa do bản thân bị hạn chế không đủ năng lực để tự kiểm chứng”[12]. Tuy nhiên, một số quan điểm cho rằng, cần thiết duy trì trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại này[13].
Nghiên cứu cho thấy, người tiêu dùng là bên yếu thế trong quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh nên quyền được bồi thường thiệt hại là tất yếu, Tuy nhiên, dưới góc độ người kinh doanh, việc buộc chủ thể kinh doanh phải bồi thường toàn bộ thiệt hại vô hình trung làm tăng thêm gánh nặng tài chính, đồng thời, không khuyến khích doanh nghiệp tham gia sản xuất, kinh doanh, đầu tư vào những lĩnh vực trọng yếu như y tế, kỹ thuật, công nghệ cao và các lĩnh vực khác. Vì thế, trường hợp “khuyết tật của sản phẩm, hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, công nghệ của thế giới tính đến thời điểm sản phẩm, hàng hóa gây thiệt hại” nên được giảm mức bồi thường thiệt hại thay vì miễn hoàn toàn trách nhiệm.
2.2. Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh đã áp dụng đầy đủ các biện pháp quy định tại Điều 32 và Điều 33 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, người tiêu dùng đã tiếp nhận đầy đủ thông tin nhưng vẫn cố ý sử dụng sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, người tiêu dùng có quyền kỳ vọng sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng an toàn đối với sức khỏe, tính mạng của họ khi sử dụng, đây là một trong những quyền của người tiêu dùng. Trường hợp người tiêu dùng biết hàng hóa, sản phẩm có khuyết tật mà vẫn cố ý sử dụng, thì xem như họ đã từ bỏ quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe cũng như quyền được bồi thường thiệt hại.
Quy định này xuất phát từ học thuyết chấp nhận rủi ro (Assumption of risk hay còn được gọi là volenti non fit injuria). Theo học thuyết này, người tiêu dùng nhận thức được hàng hóa có khuyết tật và chấp nhận tiếp tục sử dụng sản phẩm thì được xem là họ đã từ bỏ quyền được bồi thường thiệt hại[14].
Trường hợp miễn trách nhiệm này là điểm mới của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 so với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, theo đó, để được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này, cần đáp ứng những dấu hiệu sau:
Thứ nhất, tổ chức, cá nhân kinh doanh đã áp dụng đầy đủ các biện pháp quy định tại Điều 32 và Điều 33 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.
Về cơ bản, Điều 32 và Điều 33 quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc ngăn chặn tối đa thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng.
Theo đó, Điều 32 quy định “trách nhiệm đối với sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật” là trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật; Điều 33 quy định “thu hồi sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật” là trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh về thu hồi sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật.
Như vậy, để viện dẫn khoản 2 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, điều kiện tiên quyết và trước hết là tổ chức, cá nhân kinh doanh phải hoàn thành trách nhiệm ngăn chặn tối đa thiệt hại bằng việc tuân thủ Điều 32, Điều 33 của Luật này. Quy định này phản ánh ý chí của nhà làm luật khuyến khích tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm khắc phục thiệt hại đối với người tiêu dùng được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Thứ hai, người tiêu dùng đã tiếp nhận đầy đủ thông tin nhưng vẫn cố ý sử dụng sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại.
Theo đó, dấu hiệu thứ hai để viện dẫn khoản 2 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 là người tiêu dùng đã tiếp nhận đầy đủ thông tin, nhưng vẫn cố ý sử dụng sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại, đồng nghĩa với việc tổ chức, cá nhân kinh doanh phải chứng minh hai vấn đề gồm người tiêu dùng đã tiếp nhận đầy đủ thông tin và người tiêu dùng có lỗi cố ý sử dụng sản phẩm, hàng hóa khuyết tật gây thiệt hại. Cụ thể:
(i) Về vấn đề chứng minh người tiêu dùng đã tiếp nhận đầy đủ thông tin.
Việc người tiêu dùng tiếp nhận được thông tin về sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật bắt nguồn từ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thông báo công khai về sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật và việc thu hồi sản phẩm, hàng hóa đó.
Tuy nhiên, trên thực tế có thể diễn ra một số trường hợp: (i) người tiêu dùng không thể tiếp cận được thông tin về hàng hóa, sản phẩm có khuyết tật; (ii) người tiêu dùng tiếp cận được thông tin về hàng hóa, sản phẩm có khuyết tật và họ thừa nhận điều đó; (iii) người tiêu dùng tiếp cận được thông tin hàng hóa, sản phẩm có khuyết tật, nhưng họ không thừa nhận điều đó. Như vậy, người tiêu dùng chỉ cần cho rằng họ chưa tiếp cận được thông tin về khuyết tật của hàng hóa, sản phẩm thì việc viện dẫn khoản 2 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 dường như là bất khả thi.
(ii) Về vấn đề chứng minh người tiêu dùng cố ý sử dụng sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại.
Cụm từ “cố ý” trong quy định nêu trên mang bản chất là “lỗi cố ý” của người tiêu dùng khi nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Vậy, cách quy định của khoản 2 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 cho thấy lỗi sử dụng sản phẩm, hàng hóa là lỗi cố ý của người tiêu dùng, còn chứng minh người tiêu dùng có lỗi cố ý là nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh.
Về mặt lý luận, lỗi là trạng thái tâm lý của con người phản ánh khả năng nhận thức về hành vi và hậu quả do hành vi của người đó gây ra. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, một số trường hợp yếu tố lỗi của người bị thiệt hại được xem là một trong những căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại[15]. Trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Bộ luật Dân sự năm 2015 nêu trên rộng hơn trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo khoản 2 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 - phải chứng minh người tiêu dùng có lỗi cố ý sử dụng sản phẩm, hàng hóa khuyết tật.
Như vậy, khi đối chiếu với văn bản quy phạm pháp luật khác, có thể thấy, quy định này bị trùng lặp. Cụ thể, khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại”. Mặt khác, khoản 3 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 cho phép viện dẫn đến Bộ luật Dân sự, vậy quy định miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại khoản 2 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 là không cần thiết.
2.3. Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan
Việc bổ sung khoản 3 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 là bước tiến quan trọng về kỹ thuật lập pháp, thể hiện rõ định hướng mở rộng và hài hòa hệ thống pháp luật trong xác định trách nhiệm dân sự do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra. Đây là quy định mang tính mở, cho phép áp dụng các căn cứ miễn trách nhiệm ngoài những trường hợp liệt kê cụ thể tại khoản 1 và khoản 2 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.
Quy định này khắc phục được nhược điểm trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và trả lời cho câu hỏi “liệu có thể viện dẫn quy định trong Bộ luật Dân sự và quy định pháp luật khác để miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại được không?”. Theo đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 không cấm, nhưng cũng không liệt kê trong quy định miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra (Điều 24 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010).
Điểm tiến bộ của quy định thể hiện ở việc tổ chức, cá nhân kinh doanh còn có thể viện dẫn thêm các căn cứ từ là Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 hoặc văn bản chuyên ngành như pháp luật về y tế, khoa học công nghệ,… làm cơ sở miễn trách nhiệm bồi thường. Bởi lẽ, mỗi luật chuyên ngành sẽ điều chỉnh từng vấn đề cụ thể trong quan hệ pháp luật riêng, do đó, việc cho phép viện dẫn đến luật chuyên ngành là phù hợp với từng loại quan hệ pháp luật cụ thể.
Tuy nhiên, hiện nay, cùng một đối tượng điều chỉnh nhưng lại được điều chỉnh bởi hai văn bản luật khác nhau, cụ thể là, trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa gây ra cho người tiêu dùng được quy định trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đơn cử, các điểm c, đ, e khoản 2 Điều 62 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 có sự trùng lặp với khoản 1, 2 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023; mặt khác, các quy định khác tại khoản 2 Điều 62 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 quy định tiến bộ, chi tiết hơn Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Do đó, thiết nghĩ nhà làm luật cần nghiên cứu để thống nhất nguồn điều chỉnh quan hệ miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra.
3. Một số bất cập
Nghiên cứu cho thấy, quy định miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra có một số bất cập sau:
Thứ nhất, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 thiếu cơ sở miễn trách nhiệm đối với hàng hóa khuyết tật do tuân thủ quy định pháp luật về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa.
Đây là trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa tuân thủ điều kiện về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa do pháp luật quy định mà sau đó hàng hóa gây thiệt hại thì cần được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bởi lẽ, các điều kiện là do Nhà nước đặt ra, yêu cầu các chủ thể kinh doanh tuân thủ và chính vì những điều kiện về tiêu chuẩn chất lượng đó mà dẫn đến việc hàng hóa gây thiệt hại thì Nhà nước nên có trách nhiệm khắc phục thiệt hại thay vì buộc chủ thể kinh doanh bồi thường.
Tham khảo kinh nghiệm pháp luật quốc tế cho thấy, pháp luật một số nước quy định miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra nếu việc sản xuất, đưa vào thị trường loại hàng hóa này tuân thủ những quy định bắt buộc của Nhà nước. Chẳng hạn, kinh nghiệm của Liên minh châu Âu (EU) cho thấy, một trong các trường hợp được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa khuyết tật gây ra là “khuyết tật của sản phẩm là do tuân thủ các quy định bắt buộc do cơ quan công quyền ban hành”[16]. Ở Hàn Quốc, việc tuân thủ quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa cũng là một trong các trường hợp nhà sản xuất được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dung[17].
Thứ hai, cần thay đổi mức độ trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi chứng minh được khuyết tật của sản phẩm, hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, công nghệ của thế giới tính đến thời điểm sản phẩm, hàng hóa gây thiệt hại.
Theo đó, trường hợp “khuyết tật của sản phẩm, hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, công nghệ của thế giới tính đến thời điểm sản phẩm, hàng hóa gây thiệt hại” nên được giảm mức bồi thường thiệt hại thay vì miễn hoàn toàn trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân kinh doanh. Việc thay đổi mức độ trách nhiệm nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - người tiêu dùng được bồi thường thiệt hại thông qua việc tổ chức, cá nhân kinh doanh “chia sẻ” một phần lợi ích kinh tế của mình.
Thứ ba, thiếu quy định rõ ràng về việc “người tiêu dùng đã tiếp nhận đầy đủ thông tin”, từ đó dẫn đến việc khoản 2 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 dường như không khả thi khi áp dụng trên thực tiễn.
Quy định này dường như không khả thi vì trường hợp người tiêu dùng tiếp cận được thông tin hàng hóa, sản phẩm có khuyết tật, nhưng họ không thừa nhận thì cũng rất khó để chứng minh họ đã tiếp cận thông tin hay chưa. Do đó, thay vì viện dẫn khoản 2 Điều 35 thì có thể viện dẫn khoản 3 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 để áp dụng “pháp luật dân sự” - khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ cần chứng minh “người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại” sẽ giảm “gánh nặng” chứng minh.
Như vậy, bất cập tại khoản 2 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 là chưa giải thích cụ thể thế nào là “người tiêu dùng đã tiếp nhận đầy đủ thông tin” dẫn đến khó khăn trong việc viện dẫn điều khoản này.
Thứ tư, quy định về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra còn nằm “rải rác” ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật - điều này dẫn đến sự trùng lặp và không cần thiết. Đơn cử Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và khoản 2 Điều 62 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 có nhiều quy định trùng lặp cùng điều chỉnh một đối tượng.
Vì vậy, nhà làm luật nên gộp các quy định này lại vào một văn bản luật để tránh trùng lặp. Nghiên cứu cho thấy, khoản 2 Điều 62 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 có nhiều điểm phù hợp hơn so với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, do đó, cần thiết nghiên cứu kỹ quy định của hai văn bản này để thống nhất các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra.
4. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam
Từ một số bất cập trong quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật như sau:
Một là, bổ sung một khoản tại Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, theo đó: “tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu chứng minh rằng, khuyết tật của sản phẩm, hàng hóa phát sinh do tuân thủ quy định bắt buộc về chất lượng sản phẩm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng trong trường hợp này”.
Hai là, bãi bỏ khoản 2 Điều 35, bổ sung Điều 35a trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023. Cụ thể, tên điều luật là “Điều 35a. Giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra” với nội dung là “Tổ chức, cá nhân kinh doanh được giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra khi chứng minh được khuyết tật của sản phẩm, hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, công nghệ của thế giới tính đến thời điểm sản phẩm, hàng hóa gây thiệt hại”.
Ba là, nghiên cứu cho thấy, khoản 2 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 chưa thật sự hiệu quả. Nếu đã cho phép viện dẫn đến Bộ luật Dân sự năm 2015 thì không cần thiết duy trì khoản 2 Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm năm 2023 hoặc nếu vẫn duy trì khoản 2 Điều 35 nêu trên, thì cần có hướng giải thích cụ thể hơn từ nhà làm luật.
Bốn là, cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện Điều 35 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023. Đồng thời, đối với khoản 2 Điều 62 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007, cần sửa đổi theo hướng quy định viện dẫn đến Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.
Kết luận
Quy định miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra được nhà làm luật quy định dưới góc độ là ngoại lệ của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa, sản phẩm có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng. Trước mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc hài hòa lợi ích giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng là nhu cầu cần thiết và thực tế. Dưới góc độ lý luận và tham khảo kinh nghiệm pháp luật quốc tế, nghiên cứu cho thấy, quy định về trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 có những điểm tiến bộ và còn một số hạn chế, từ đó, đưa ra kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam./.
Nguyễn Công Danh
Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Ảnh: Internet
[1]. Lê Thanh Tùng (2021), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp do hàng hóa có khuyết tật, Tạp chí Công Thương, số 24, tr. 18.
[2]. Đinh Thị Hồng Trang (2019), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng theo quy định pháp luật hiện hành, Tạp chí Công Thương, số 9, tr. 38.
[3]. Trương Hồng Quang (2011), Pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Canada, Tạp chí Luật học, số 7, tr. 70.
[4]. Mai Kim Hân (2021), Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động dược phẩm, thuốc chữa bệnh, Tạp chí Khoa học và Kinh tế phát triển, số 10, tr. 102.
[5]. Phan Thị Thanh Thủy (2021), Trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt trong pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Hoa Kỳ: một số gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2021, tr. 79.
[6]. Mildred, M., & Fairgrieve, D. (2005), Product Liability in Comparative Perspective, Cambridge, Cambridge University Press, p. 167 - 191.
[7]. Lee Sang-jeong (2007), Luật trách nhiệm sản phẩm và biện hộ rủi ro phát triển, Tạp chí Luật Sungkyunkwan, tập 19, số 2, Viện Nghiên cứu Luật so sánh, Đại học Sungkyunkwan, tập 19, số 2, tr. 94 - 106 (tiếng Hàn Quốc).
[8]. Izquierdo Grau G (2025), The Development Risks Defence in the Digital Age, European Journal of Risk Regulation, 16(1), p.197 - 216.
[9]. Cass. 1re civ., 6 décembre 2023, n° 22-21.238.
[10]. Mildred, M., & Fairgrieve, D. (2005), tlđd, p. 167 - 191.
[11]. Lê Thanh Tùng (2021), tlđd, số 24, tr. 44.
[12]. Nguyễn Trọng Điệp (2013), Bồi thường thiệt hại trong pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, tập 29, số 2, tr. 44 - 49.
[13]. Nguyễn Trường Ngọc (2018), Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao, hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Công Thương, số 3, tr. 59.
[14]. Noel, D. W. (1972), Defective products: abnormal use, contributory negligence, and assumption of risk, Vanderbilt Law Review, 25(1), tr. 93 - 130.
[15]. Lê Quang Huy (2023), Giá trị của yếu tố “Lỗi” trong giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015, Tạp chí Công Thương, số 14, tr. 56.
[16]. Chỉ thị số 85/374/EEC.
[17]. Đoạn 4 khoản 1 Điều 4 Luật Trách nhiệm sản phẩm Hàn Quốc năm 2017.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cass. 1re civ., 6 décembre 2023, n° 22-21.238.
2. Đinh Thị Hồng Trang (2019), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng theo quy định pháp luật hiện hành, Tạp chí Công Thương, số 9.
3. Izquierdo Grau G (2025), The Development Risks Defence in the Digital Age, European Journal of Risk Regulation, 16(1).
4. Lê Quang Huy (2023), Giá trị của yếu tố “lỗi” trong giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015, Tạp chí Công Thương, số 14.
5. Lê Thanh Tùng (2021), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp do hàng hóa có khuyết tật, Tạp chí Công Thương, số 24.
6. Lee Sang-jeong (2007), Luật trách nhiệm sản phẩm và biện hộ rủi ro phát triển, Tạp chí Luật Sungkyunkwan, tập 19, số 2, Viện Nghiên cứu Luật so sánh, Đại học Sungkyunkwan, tập 19, số 2 (tiếng Hàn Quốc).
7. Mai Kim Hân (2021), Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động dược phẩm, thuốc chữa bệnh, Tạp chí Khoa học và Kinh tế phát triển, số 10.
8. Mildred, M., & Fairgrieve, D. (2005), Product Liability in Comparative Perspective, Cambridge, Cambridge University Press.
9. Nguyễn Hữu Phúc, Yêu cầu pháp lý của trách nhiệm sản phẩm theo pháp luật liên minh châu Âu - Bài học cho Việt Nam, https://danchuphapluat.vn/yeu-cau-phap-ly-cua-trach-nhiem-san-pham-theo-phap-luat-lien-minh-chau-au-bai-hoc-cho-viet-nam-3722.html, truy cập ngày 20/01/2026.
10. Nguyễn Trọng Điệp (2013), Bồi thường thiệt hại trong pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, tập 29, số 2.
11. Nguyễn Trường Ngọc (2018), Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao, hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Công Thương, số 3.
12. Noel, D. W. (1972), Defective products: abnormal use, contributory negligence, and assumption of risk, Vanderbilt Law Review, 25(1).
13. Phan Thị Thanh Thủy (2021), Trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt trong pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Hoa Kỳ: một số gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2021.
14. Trương Hồng Quang (2011), Pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Canada, Tạp chí Luật học, số 7.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (446) tháng 2/2026)